Thứ Năm, 4 tháng 8, 2016
CẨN THẬN, KẺO DÙNG ĐỒNG TIỀN BẤT CHÍNH !
Truyện từ cuộc sống:
Nàng có ngoại diện khá bắt mắt, từ vùng quê nghèo phương Bắc vào Đô thành phương Nam lập nghiệp.
Chẳng bao lâu, giàu sụ!
Trong một xã hội đảo điên vì gian dối, đạo đức không ngừng gia tăng suy đồi- lương tâm không bằng lương tháng, việc nàng ‘đùng một cái’ thành đại gia chắc chắn đồng tiền kiếm được phải có vấn đề.
Nói toạc ra: Tiền có được nhờ đi qua ngả… bất chính.
Biết nàng vốn có thời làm Giáo lý viên xứ Đạo thôn nghèo, anh nhắc khéo nhưng rất chân tình:
- Cẩn thận, kẻo lời lãi thế gian- dù được cả thế gian để rồi mất phần Linh hồn thì chẳng được ích gì?
Nàng tỏ vẻ khó chịu vị câu trích dẫn Lời Chúa Giêsu có vẻ… dạy đời (đấy là do nàng nghĩ)
- Hứ, tôi bỏ một tỉ, hai tỉ xin cha dâng trăm Lễ, ngàn Lễ chẳng nhé không lên Thiên đàng được (!)
Nghe câu nói ‘ngạo nghễ’ của nàng từ miệng anh kể, tôi thực sự phát bực vì người ta nghĩ có thể ‘hối lộ’ được cả Chúa.
Tôi biết nàng, đôi lần nói chuyện với nàng, thời viết báo, nên tôi nói với anh, khi gặp nàng nhớ nhắn lời tôi:
- Chỉ với câu nói ‘xúc phạm’ đó, dấu hiệu cho thấy nàng đang ‘đu dây’ trên vực thẳm hoả ngục. Thời gian vàng ngọc Chúa cho sống, dấu chỉ rõ Chúa cho thấy mà không nhận ra, không sám hối- đổi mới cuộc sống…. thì hãy mang bạc tỉ ấy xuống… hú hí vơi lũ quỷ.
Dụ ngôn người phú hộ dại khờ, nói như lời Chúa Giêsu là đồ ngốc- đồ ngu bởi chỉ lo thu tích của cải và làm giàu cho bản thân mà quên mất đời sau, làm tôi nhớ đến câu chuyên kể trên.
Câu chuyện cứ tưởng lấy tiền bạc có thể hoả lấp tội lỗi thay vì ăn năn sám hối, đổi mới cuộc sống; hay dụ ngôn người phú hộ dại khờ của Chúa Giêsu dường như đang rất thời sự với xã hội hiện đang, biết đâu có cả bóng dáng chúng ta trong đó. Quả thật, nếu không cảnh giác, như người phú hộ dại khờ kia, ta cũng đang dùng tiền- đang sở hữu- đang tích trữ của cải bất chính mà không biết, hay cố tình không biết.
Vậy làm sao tôi biết tiền bất chính- đồng tiền tội lỗi ?
1. Xét về nguồn gốc đồng tiền: Điều này quá rõ, đó là những đồng tiền ta có được do phạm tội mà có.
Đấy là khi ta vì đồng tiền mà làm những điều bất chính, lừa gạt- làm ăn gian dối, trái lương tâm, bất chấp đạo đức, bất kể tình nghĩa anh em, kể cả trà đạp lên sự hiếu thảo vốn là điểm son của văn hoá dân tộc ...
Dùng đồng tiền tội lỗi mà không chịu ăn năn sám hối để làm từ thiện, công đức- nguy hiểm hơn cứ tưởng mình đạo đức, coi chừng lại thêm xúc phạm đến Bác ái, thêm tội kiêu ngạo, khinh người.
2. Xét về cách xử dụng: Cũng có khi tiền bạc ta tìm là chính đáng do công sức mình làm ra, song sử dụng lại biến thành bất chính.
Đấy là khi ta dùng đồng tiền vào những chuyên bất chính: cờ bạc, hút chích, trai gái, hưởng thụ quá đáng….
Đấy là khi ta vì tiếc tiền không biết chia sẻ bác ái, không biết chia sẻ trách nhiệm xây dựng Giáo Hội, góp phần làm thăng tiến xã hội…
Ông phú hộ giàu có trong dụ ngôn, bị Chúa gọi là ngốc, là ngu không phải vì anh ta có nhiều của cải, nhưng tại vì lão ta không biết sử dụng của cải để lập công phúc đời sau, nên khi chết, anh ta đến trước tòa phán xét với hai bàn tay trắng.
Nếu dùng của cải vật chất một cách ích kỷ cho riêng mình, tham lam qúa độ kiếm tiền quên cả Chúa, coi tiền quan trọng hơn cả Chúa, hơn cả anh em đồng loại… Kết quả: không có gì bảo đảm cho sự sống đời đời !
Dụ ngôn người đại phú gia và người hành khất Lagiarô cho ta nhìn rõ thêm vấn đề.
Tên Đại phú gia khi chết rơi tõm xuống hoả ngục không phải ông ta nhiều tiền mà ở chỗ ông ta vô cảm – không có lòng bác ái với đồng loại. Trong khi yến tiệc linh đình, đồ ăn thừa mứa, chó ăn không hết, thế mà để đồng loại chết đói ngay trước mắt mình (x. Lc 16, 19-31).
Có tiền, nhiều tiền mà ta vô cảm trước bất hạnh của anh chị em cũng là cách rõ thấy ta đang hưởng thụ, tích trữ của cải bất chính dù của cải ấy do chính công sức mình kiếm ra.
3. Nhìn ở góc độ khác, dể biết của cải bất chính hay không bất chính, xét theo bậc thang giá trị Thiên Chúa thiết định: Thiên Chúa- Con người- tạo vật.
Theo bậc thanh này, Con Người dưới quyền Chúa và trên các tạo vật khác, tức con người được Chúa dựng nên giống Hình ảnh Chúa trong tư cách là con cái Chúa- làm chủ vũ trụ vật chất. Ta làm đảo lộn trật tự này, đặt của cải trên Chúa, con người làm chủ biến thành nô lệ vật chất thì rõ thấy ta đang dùng- đang sở hữu của cải bất chính, sử dụng sai ý Chúa.
Nói rõ hơn, của cải vật chất, sự giầu sang do Chúa ban cho đều tốt đẹp. Vật chất là điều tốt, song chỉ là điều tốt tương đối và phụ thuộc, nhưng không bao giờ được coi là điều tốt nhất; chúng chỉ là phương tiện, chứ không phải mục đích.
Cái dễ thường sai lầm của ta là xem điều tốt tương đối và phụ thuộc ấy thành cái tốt nhất, thậm chí như chìa khoá vạn năng giải quyết được mọi vấn đề, kể cả vấn đề Linh hồn (như cô nàng trong câu truyện kể trên); rồi ngộ nhận cái phương tiện thành mục đích.
Vì sai lầm- ngộ nhận ấy, ta biến của cải vật chất vốn được Chúa dựng nên đều tốt đẹp thành của cải bất chính, thành tà vật- ngẫu tượng.
Nguyên do bởi đâu ta có những sai lệch nguy hiểm ấy?
Chúa Giêsu chẩn bệnh rất chính xác: Bởi lòng tham Và Người cảnh giác ta về lòng tham lam ấy: Các ngươi hãy coi chừng giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu (c.15).
Chạm đến ngưỡng tham lam là bước vào con đường cao tốc không có điểm dừng, bắt đầu cơn đói khát ăn hoài không no (lạ cái càng ăn càng đói). Đấy là sự đồi bại của ước muốn, thèm khát mãnh liệt và hầu như điên dại (Ep 4,19).
Theo Thánh Phaolô “căn nguyên mọi sự xấu là lòng yêu tiền của”, và ngài coi Tham lam là một ngẫu tượng (x.1Tm 6,10; Cl 3,5)[1]
Đúng thật, kinh nghiệm cho thấy rõ. Vì gian tham làm ta lu mờ lương tri, kiếm tiền bất chấp đạo đức; không còn sáng suốt để sử dụng đồng tiền cho chính đánh.
Và theo Chúa Giêsu, tham lam theo kiểu người giàu có trong dụ ngôn còn làm cho người ta trở nên ngu ngốc nữa (c.20).
Vậy có cách nào để hoá giải của cải bất chính nên ngay chính? Dùng những cái tương đối- tạm thời để đạt được điều trọn hảo, có thể nói là tuyệt đối như Nước Trời?
Chúa Giêsu trả lời: Biết làm giàu trước mặt Chúa (c.21b).
“Làm giàu trước mặt Chúa”, tức biết chia sẻ với người nghèo khó, góp phần xây dựng Giáo Hội, vào những công việc ích lợi cho thăng tiến phẩm giá con người… Đấy là lúc ta sống đúng phẩm vị làm người, làm con Thiên Chúa: Làm chủ vật chất chứ không phải làm nô lệ nó. Đâu đó ta vẫn nghe câu nói đáng để suy nghĩ: Tiền bạc của cải là tên đầy tớ tốt song lại là ông chủ ác độc.
Hai bài đọc Thánh thư cũng giúp ta nhận chân giá trị vật chất, nhờ đó biết dùng cho chính đáng.
Sách Giảng viên- tác giả vốn bậc khôn ngoan cổ đại coi trần thế ‘mọi sự đều phù vân’. “Ý nghĩa ‘phù vân’ ở đây không mang màu sắc luân lý. Phù vân có nghĩa cái gì đó dễ biến tan, dễ bay hơi, chóng tàn”; nói cách khác trần thế phù vân bởi mọi thứ trong thế giới vật chất này chỉ tạm bợ, nay được mai mất, tất cả rồi đến điểm chết.
Câu Giảng viên nói: ‘Suốt ngày của họ đầy sự đau khổ gian truân, và ban đêm lại không được yên lòng, thế thì chẳng phải là phù vân sao?’, đáng để ta ‘xét mình’ mỗi khi kết thúc ngày sống.
Thánh Phaolo trong thư Coloxe khuyên ta cụ thể hơn: không được tìm kiếm những gì gì hư nát, chóng tàn mà phải tìm kiếm những gì trường tồn trên nước trời. Thánh nhân nói: “Vậy còn sống trên địa cầu, anh em hãy kiềm chế các chi thể anh em, là sự gian dâm, ô uế, dục tình, đam mê xấu xa và hà tiện, tức là sự thờ phượng thần tượng”.[2]
Nói ‘rài lời’ một tý…
Làm giàu trước mặt Chúa, tích lũy kho tàng Nước Trời, tiền bạc vật chất chỉ là một trong những phương tiện, không phải tất cả. Điều này có nghĩa, không có tiền, ta vẫn có nhiều cách khác- và ai cũng có thể làm giàu trước mặt Chúa được: Cầu nguyện, hy sinh, ăn chay hãm mình, hoạt động Tông đồ Giáo dân…
Như vậy làm giàu trước mặt Chúa không phải là những tài sản ta có, ta vơ vét sở hữu nhưng chính là những cái ta cho đi, sẵn sàng chia sẻ để góp phần xây dựng tình hiệp thông và bác ái, giúp nối kết người cho và người nhận trong lời cảm tạ Thiên Chúa (2Cr 9,11).
Và như thế, ta có thêm kinh nghiệm sâu sắc “cho đi thì có phúc hơn là nhận lấy” (Cv 20,35).
Như vậy, Làm giàu trước mặt Chúa mới là giàu đích thực. Vì sự giàu có đích thực nên ta có thể tìm đạt được hạnh phúc không chỉ đời này mà đảm bảo cho cả đời sau.
Cha ông ta có cảm nghiệm sống động: nghèo tiền nghèo bạc chả lo, nghèo tình nghèo nghĩa mới cho là nghèo.
Người ta nói: đồng tiền liền khúc ruột. Chính khi ta biết hy sinh- kể cả cắt khúc liền ruột để giàu trước mặt Chúa, mới đáng gọi là khôn ngoan, mới được coi dùng tiền chính đáng.
Chúa Giêsu tuyên cáo người phú hộ: "Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai ?”
Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để chúng con rơi vào cảnh khốn nạn như người phú hộ trong dụ ngôn chỉ vì tham tham, keo kiệt và ích kỷ trước của cải phù vân. Amen.
Lm. Đaminh Hương Quất
(Nguồn :http://www.vietcatholic.org/)
Thứ Tư, 3 tháng 8, 2016
GIA TÀI
Người ta kể rằng ở miền rừng núi, dân Thượng có một
lối bẫy khỉ rất đơn giản. Họ làm một cái lồng có nhiều lỗ nhỏ vừa tay con khỉ.
Rồi họ buộc lồng vào một gốc cây và bỏ vào đó ít hạt bắp rang. Các chú khỉ ngửi
mùi bắp thơm thì thò cả hai tay vào bốc. Lúc đó người bẫy khỉ ngồi xa xa cứ
việc tiến lại bắt chú khỉ. Con khỉ cuống cuồng muốn thoát chạy nhưng không rút
tay ra được. Lý do đơn giản là hai tay còn nắm chặt hai nắm hạt bắp.
Tác giả sách Giảng Viên đã
suy gẫm sự đời một cách rất sâu lắng. Phản ánh một triết lý sống. Thực ra cuộc
sống con người rất phức tạp và đa diện. Chúng ta nên quan sát và suy gẫm rất
cẩn thận để tìm một hướng đi thích hợp. Trước khi chúng ta được mở mắt chào
đời, vũ trụ và muôn loài đã có đó. Khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay, muôn sự vẫn
cứ tiếp tục hiện hữu. Cuộc đời của mỗi người xuất hiện đó, rồi biến mất. Không
có gì tồn tại mãi ở trần gian này. Giảng Viên đã dạy rằng: Hư không trên các sự hư không, hư không trên các sự hư không và mọi sự
đều hư không (Gv 1:2). Hư không diễn tả một khía cạnh vô thường của cuộc
sống này. Có nghĩa là mọi sự hiện hữu như gió thoảng mây bay. Giảng Viên chia
sẻ kinh nghiệm sinh hoạt cuộc sống hằng ngày và gẫm suy: Vì kẻ này làm việc vất vả trong sự khôn ngoan, hiểu biết và lo lắng,
rồi phải để sự nghiệp lại cho người ở nhưng không, thì thật là hư không và tai
hại lớn lao (Gv 2:21).
Chúng ta không nhìn cuộc sống
một cách bi quan hay tiêu cực. Vì sự sống là một hồng ân. Chuỗi ngày sống là
một chuỗi ân sủng nối tiếp. Sống là hiện hữu. Mọi sự hiện hữu đều hữu ích. Sự
sống cần được sinh hoa kết trái. Thể xác con người cần được lớn lên và phát
triển mỗi ngày. Đời sống tâm linh cũng được bồi dưỡng để tiến tới sự hoàn hảo
hơn. Sinh ra là khởi đầu. Bắt đầu bước vào một cuộc lữ hành trần thế. Cuộc lữ
hành cần có hướng đi và cùng đích. Trong các loài thụ tạo, sứ mệnh của con
người thật cao quí. Vì con người được tạo dựng nên giống hình ảnh của Thiên
Chúa. Thiên Chúa trao ban cho con người có ý chí, lý trí và tự do. Với những
khả năng ưu việt, con người có bổn phận và trách nhiệm xây dựng một xã hội giầu
mạnh, thịnh đạt và an bình. Với khối óc và bàn tay lao động, con người góp phần
làm cho thế giới ngày tốt đẹp hơn.
Con người được trao quyền làm
chủ trái đất và cai quản mọi loài. Làm chủ chứ không làm nô lệ cho của cải vật
chất. Của cải trần thế là phương tiện thiết yếu giúp con người đạt tới cứu
cánh. Con người dùng những sản phẩm do mình tạo ra để phục vụ đời sống. Con người không thể lệ thuộc làm tôi tớ cho
của cải vật chất. Chúng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa và vừa làm tôi tiền
của. Chúa Giêsu nhắc nhở: “Các ngươi hãy
coi chừng, giữ mình tránh mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống
được của cải bảo đảm cho đâu” (Lc 12:15). Tất cả vũ trụ đều đang thay đổi,
nay còn mai mất. Của cải không thể bảo đảm kéo dài đời sống hạnh phúc. Các
phương tiện vật chất chỉ giúp cho cuộc sống con người được thanh thản, thoải
mái và tiện lợi hơn. Biết rằng ai cũng cần có tiền bạc của cải để nâng cao mức
sống và đáp ứng những nhu cầu cần thiết.
Câu truyện Phúc âm, Chúa
Giêsu giúp chúng ta nhận rõ về giá trị về việc tìm kiếm và sử dụng của cải trần
đời. Cần có thái độ chọn lựa đối với vật chất phù vân. Chúng ta còn có gia sản
tinh thần quí báu hơn. Hãy dùng của cải hay hư nát để mua Nước Trời. Hãy dùng
tiền bạc thế gian để đổi lấy bạn hữu. Hãy dùng của giả để đổi lấy của thật. Hãy
tráo đổi giá trị trần thế để mua gia sản nước trời. Đổi tiền giả ra tiền thật.
Đó là dùng tiền bạc hay của cải để bố thí hoặc làm việc bác ái, chúng ta sẽ tích
trữ được khó báu trên trời. Chúa Giêsu đã dậy: Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em
biết: Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết
bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi vĩnh cửu (Lc 16:9).
Điều quan trọng là chúng ta
phải đặt đúng giá trị của sự việc. Tiền bạc của cải không thể trở thành chủ
nhân ông. Đừng qúa tham lam thu tích của cải phù hoa thế trần, nhưng luôn ý
thức hướng tới mục đích sau cùng. Chúa Giêsu cảnh báo: “Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những
của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai? (Lc 12:20). Người đời nghĩ rằng phải
cố gắng làm việc để trở nên giầu có và có của ăn của để, phòng khi hữu sự. Điều
này thật phải lẽ! Đối với các tín hữu, chúng ta được mời gọi không chỉ làm giầu
gia sản vật chất nhưng quan trọng hơn là làm giầu trước mặt Chúa. Chúa Giêsu
nói tiếp: Vì kẻ tích trữ của cải cho mình
mà không làm giàu trước mặt Chúa thì cũng vậy” (Lc 12:21). Khi lao động làm
việc hay kiếm sống bằng mồ hôi nước mắt, các thành quả đều có giá trị giúp
thăng hoa cuộc sống. Chúng ta không chỉ tích trữ gom góp tiền bạc để thụ hưởng
riêng mình, nhưng sử dụng của cải để sinh hoa quả cho tha nhân và xã hội. Biến
đổi giá trị vật chất phàm hèn tới giá trị tinh thần cao siêu trước mặt Chúa.
Những lời huấn dụ trong Kinh
Thánh xem ra khó áp dụng cuộc sống đời thường. Vì chúng ta thấy ai ai cũng đang
mải mê lao động kiếm kế sinh nhai và vun đắp gia sản vật chất. Chúng ta nêu đủ
lý do để biện minh cho sự tham lam và tích trữ của cải. Nói rằng nếu không cực
lực lao động, lấy gì mà trả bills và các món nợ chồng chất. Chúng ta đầu tư mọi
vốn liếng và khả năng để lo làm giầu mỗi ngày. Lòng tham vô đáy. Chúng ta chắt
chiu từng đồng và thấy vẫn cần thiếu một xu. Chúng ta dần bị chìm đắm trong sự
ham mê của cải vật chất. Thế là cuộc
sống lôi kéo vào sự kiếm tìm không ngừng nghỉ. Biết rằng lao động kiếm sống là
tốt. Dành dụm tiền bạc để tiêu xài cũng tốt. Nhưng điều quan trọng hơn là chúng
ta hãy biết làm giầu trước mặt Thiên Chúa qua việc sử dụng tiền bạc của cải
đúng cách để sinh hoa kết trái đời này và đời sau.
Truyện kể có người giầu có kia chết, chôn chưa được ba
ngày, một tên đạo tặc giữa đêm lén đào mả lên, lột hết vàng bạc trong mình kẻ
chết, rồi lại vác búa đập bể đầu, bể miệng. Sao lại thù hằn dữ vậy? Không, chỉ
vì khi chôn, người ta cho ông ngậm viên ngọc quí đó thôi. Giầu có sống không
yên, chết cũng chẳng yên.
Lợi lộc gì chứ khi chúng ta
chỉ biết cắm đầu lo làm giầu sở hữu của cải vật chất. Hãy ngước nhìn lên và
nhắm hướng về cùng đích. Cuộc đời của chúng ta có những gia trị cao quí hơn
nhiều. Vì sự sống của chúng ta được chuộc lại bởi giá Máu châu báu của Chúa
Giêsu. Thánh Phaolô diễn tả: Anh em thân
mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời,
nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa (Col 3:1). Quê hương đích thực của
chúng ta là trời cao. Tại sao chúng ta xả thân miệt mài thu tích của cải dưới
đất nơi mối mọt rúc rỉa? Hãy tìm kiếm những sự cao siêu hơn: Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ
đừng nghĩ đến những sự dưới đất (Col 3:2).
Thánh Phaolô đã từ bỏ mọi sự
để đi theo Chúa. Ngài đã trở thành con người mới hoàn toàn. Sống phó thác và
tin tưởng vào Đấng tạo thành vũ trụ. Phaolô lên tiếng: Anh em chớ nói dối với nhau; anh em hãy lột bỏ người cũ cùng các việc
làm của nó, và mặc lấy người mới, con người được đổi mới theo hình ảnh của Đấng
đã tạo thành nó (Col 3:9-10). Theo gương thánh
Phaolô, tuy chúng ta còn khoảng cách rất xa trên con đường trọn lành. Mỗi người
chúng ta có thể khởi đầu từ hôm nay để chọn lựa một thái độ và thực hành sống
lời Chúa cách tích cực hơn.
Lạy Chúa, chúng con xin chọn Chúa làm gia nghiệp đời
chúng con. Tiên vàn chúng ta hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và mọi sự Chúa sẽ ban
thêm. Có Chúa, chúng con sẽ có tất cả.
LM Giuse Trần Việt Hùng
Thứ Ba, 2 tháng 8, 2016
GIÁO DỤC CON CÁI TRONG GIA ĐÌNH TÍN HỮU
Chúng ta thường được giáo dục để trở nên những đứa con tốt trong gia đình, nhưng rất ít khi chúng ta được giáo dục để trở nên những cha mẹ tốt. Ở trường học, chúng ta học rất nhiều môn, nhưng không môn nào dạy ta nghệ thuật làm cha mẹ, nghệ thuật mà ta phải áp dụng suốt cả cuộc đời kể từ khi có con, đồng thời cũng là một nghệ thuật hết sức quan trọng cho hạnh phúc của ta cũng như cho tương lai của con cái. Vì thế, đa số nhân loại khi lên làm cha mẹ đã không biết phải đóng vai trò đó như thế nào cho đúng. Thường thì chỉ khi làm cha mẹ chúng ta mới bắt đầu học nghệ thuật ấy, học theo kiểu “nghề dạy nghề”, tự mò mẫm học, phải tự suy nghĩ để tìm ra phương pháp. Cũng có những sách nói về nghệ thuật này, nhưng không nhiều.
1. Đừng quá kỳ vọng vào con cái:
Con người không ai hòan hảo: “Nhân vô thập tòan”, nên cha mẹ đừng đòi con cái phải tốt lành hoàn hảo làm hài lòng ta hoàn toàn. Vì khi nghĩ lại chính chúng ta cũng thấy mình bất tòan và không làm cho cha mẹ ta hài lòng. Dù vậy ta cũng nên đòi hỏi con cái thế nào để chúng cố gắng hơn. Cần biết khen ngợi khi thấy con có sự tiến bộ.
2. Hãy chấp nhận giới hạn của chúng:
Do ai cũng có giới hạn, mà dù có cố gắng đến đâu cũng khó lòng vượt qua. Điều quan trọng là đặt ra mục tiêu phù hợp với khả năng của con cái để động viên chúng thực hiện. Thông thường, cha mẹ hay đòi hỏi con mình phải thế này thế kia… Nhưng trong nhiều trường hợp, những kỳ vọng đó lại vượt quá khả năng của chúng. Ta không nên lấy mình làm khuôn mẫu cho con cái. Điều đó có thể làm cho chúng mang mặc cảm tự ti và bị nhụt chí khi. Hãy chấp nhận mức độ cao nhất mà chúng có thể đạt được. Cần đặt mình vào hòan cảnh của con để đánh giá sự việc cách chính xác.
3. Hãy dành thì giờ đối thoại với con:
Nên bỏ ra mỗi ngày ít nhất 15-20 phút tiếp xúc trò chuyện với con để tìm hiểu chúng thường là trong các bữa ăn. Nên khuyến khích chúng nói ra những điều chúng nghĩ và lắng nghe. Phải phản ứng kịp thời qua sự tán thành hay khen ngợi những gì chúng nói… Phải tập nói chuyện với chúng như bạn bè, nhất là khi chúng được 10 tuổi trở lên. Đừng để chúng trở thành hư hỏng lúc nào mà ta không biết.
4. Hãy tạo mối quan hệ thân mật với con cái:
Con cái ta cần được cha mẹ yêu thương, khuyến khích và hỗ trợ để phát triển. Do đó, cha mẹ cần liệu sao để chúng cảm nhận được tình thương của mình. Cần biểu lộ tình cảm của ta ra bên ngoài, qua ánh mắt, qua những cử chỉ âu yếm, những lời nói ngọt ngào, những hy sinh cụ thể của ta. Càng nhỏ, chúng càng nhạy cảm với tình thương của cha mẹ. Chúng cần tình thương để lớn lên và phát triển giống như cần thức ăn nước uống. Đừng chỉ yêu thương con bằng khối óc dù rằng rất cần, mà còn phải yêu chúng bằng con tim nữa.
5. Cần tạo cho con cái tin tưởng vào cha mẹ:
Trẻ mong tìm được những bảo đảm yêu thương từ nơi cha mẹ, nên ta phải trở nên chỗ dựa vững chắc cho chúng về mọi mặt. Phải sống làm sao để chúng cảm thấyan tâm. Mọi lời ta nói phải đúng để chúng tin tưởng, mọi việc ta làm phải tốt để chúng noi theo. Phải làm sao để chúng tin vào tình yêu, sự thành thật, khả năng hy sinh và sự cao thượng của cha mẹ.
6. Hãy luôn đồng hành với con cái:
Tuy nhiên, ta không nên tự thần tượng hóa mình trước mặt con cái. Tới một lúc nào đó, ta phải cho chúng thấy rằng chính ta cũng là người bất toàn đang phải nỗ lực tiến tới hoàn thiện. Ta chỉ là người đi trước và có trách nhiệm dẫn dắt chúng trong những bước đầu đời của chúng, đưa chúng đi vào đời sống nhân bản, và sau này, chính ta cũng cần sẵn sàng nhận lại sự nâng đỡ của con cái. Cần phải khiêm tốn nhận những khuyết điểm của mình. Cha mẹ nên trở thành bạn đồng hành của con cái và sẵn sàng nhận sự góp ý xây dựng của chúng.
7. Cần tôn trọng phẩm giá của con cái:
Đừng cấm đoán con cái những gì vô hại chỉ vì không hợp với sở thích cuă mình. Nên tôn trọng giờ học, giờ ngủ và giờ chơi của con cái. Nếu cần sửa phạt thì thì nên sửa phạt đúng mức, hợp lý và tránh sự quá đáng như mắng con bằng những lời thậm tệ, xúc phạm tới phẩm giá hoặc làm tổn thương tự ái của chúng. Đừng bêu xấu con trước mặt trẻ khác. Nếu được cha mẹ tôn trọng thì con cái mới biết tự trọng và sẽ có sự tự tin hơn.
8. Hãy tập cho con “đứng trên chính đôi chân của mình”:
Khi còn nhỏ, con cái lệ thuộc cha mẹ về mọi mặt. Lúc đó, ta phải bắt chúng vâng lời, làm theo ý ta để phát triển đúng hướng. Nhưng ta phải giáo dục thế nào để chúng từng bước trưởng thành, có khả năng tự do và tự lập về mọi mặt. Đừng bắt chúng phải lệ thuộc và phải luôn làm theo ý ta. Cần phải biến con cái thành những người bạn ngang hàng với mình, liệu sao cho chúng có đủ điều kiện phát triển và ngày một trưởng thành hơn.
9. Hãy từng bước trao trách nhiệm cho con cái:
Phải tập cho con cái tinh thần trách nhiệm ngay từ khi chúng còn nhỏ bằng cách trao cho chúng những việc làm giúp đỡ cha mẹ từ dễ đến khó trong gia đình. Phải tập cho con cái dần dần quán xuyến được mọi việc trong nhà. Và khi chúng được 20 - 25 tuổi, phải tập cho chúng làm những việc ngừoi lớn như: làm ăn, giao thiệp, điều hành công việc,… Cần tập cho chúng làm hầu hết những công việc của cha mẹ, thậm chí có thể thay thế cha mẹ khi cần. Nên sớm giao trọng trách cho con cái đang khi chúng ta còn đứng đàng sau để hướng dẫn trợ giúp. Đừng để tới lúc ta không còn làm được gì nữa mới trao trách nhiệm cho con thì đã muộn, chúng có thể mắc phải sai lầm mà ta đành chịu bất lực vì không thể giúp gì được cho chúng.
10. Về việc giáo dục đức tin cho con cái: Các cha mẹ công giáo cần ý thức trách nhiệm truyền đạt đức tin cho con cái ngay từ khi chúng còn nhỏ. Như một người trồng cây cảnh, muốn có cây cảnh có giá trị nghệ thuật, mang hình hươu nai hay chim phượng đẹp mắt… Ngoài việc chọn giống cây thích hợp và áp dụng kỹ thuật tưới bón theo từng loại cây, còn phải quan tâm định hình cho cây ngay từ khi cây mới ra cành non. Tránh để khi cây đã phát triển mới uốn thì đã muộn. Cũng vậy, cha mẹ tín hữu phải giáo dục đưc tin cho con cái ngay từ trong trứng nước, như có người nói: “Phải giáo dục đứa con ngay từ trước khi nó sinh ra 20 năm”, nghĩa là phải giáo dục chính cha mẹ của nó. Từ cái khuôn đạo đức của cha mẹ mà đứa con sẽ được định hình phù hợp với đức tin truyền thống gia đình. Giáo dục đức tin không chỉ dừng lại ở các việc đạo đức như đọc kinh lần hạt, lập bàn thờ, treo tranh ảnh đạo, dự lễ tại nhà thờ, theo học các lớp giáo lý theo lứa tuổi… mà còn phải dạy con học sống lời Chúa, tuân giữ đặc biệt giới răn yêu thương qua thái độ luôn nghĩ đến người khác, qua cách ứng xử tốt đẹp giữa các thành viên trong gia đinh. Cha mệ biết dùng lời Chúa mà dạy dỗ con, nêu gương cầu nguyện tự phát phù hợp với hoàn cảnh trong các giờ kinh tối gia đình hay vào các ngày giỗ tết trong năm…
Kết luận: Thế hệ con cái chúng ta có đức tin, đức hạnh và tài năng hay không phần lớn tùy thuộc vào sự giáo dục nhận được từ cha mẹ ngay từ nhỏ. Vì thế, các bậc cha mẹ cần phải biết cách giáo dục con cái cách khôn ngoan, phù hợp với khoa tâm lý giáo dục. Đừng phó mặc nhiệm vụ quan trọng này cho may rủi. Cũng đừng làm cách tùy tiện được chăng hay chớ.
LM ĐAN VINH - HHTM
(Nguồn : http://www.simonhoadalat.com/)
Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016
TÍCH LŨY CỦA CẢI
Một cách khác thường, Chúa Giêsu đã
gọi người đàn ông trong dụ ngôn nầy là “người dại dột” (Lc 12, 20), không phải
vì ông ta giàu có – giàu có không phải là một cái tội – nhưng vì thái độ sai
lầm của ông đối với của cải.
Một phi công đang bay trên không
trung với ba hành khách trong máy bay: một hướng đạo sinh, một vị linh mục và
một khoa học gia về không gian. Viên phi công quay về phía ba hành khách và đưa
tin buồn một cách nhẫn tâm: “Máy bay đang
rơi xuống! Chúng ta có bốn người nhưng chỉ có ba cái dù. Tôi có vợ và ba con
đang cần đến tôi.”Anh ta chộp lấy một cái dù và nhảy ra khỏi máy bay.Nhà
khoa học nói lớn tiếng: “Tôi là người
khôn lanh nhất trần gian. Thật là một đại họa cho nhân loại nếu tôi phải chết.”
Ông liền chộp lấy chiếc dù thứ hai và nhảy ra khỏi máy bay.
Còn lại vị linh mục và em hướng đạo
sinh. Vị linh mục quay sang em đó và nói: “Con
ơi, cha không có gia đình. Cha đã sống một cuộc sống lâu dài và hạnh phúc rồi,
nay cha sẵn sàng trực diện với Đấng Tạo Hóa. Con đang còn trẻ. Cả một cuộc sống
dài lâu đang trải ra trước mặt con. Con hãy cầm lấy chiếc dù nầy đi.” Thật
là một linh mục đáng khâm phục. (Bạn có thể tin tưởng tôi khi tôi tuyên dương
vị linh mục đó là anh hùng!)
Em hướng đạo sinh trả lời: “Xin cám ơn Cha, nhưng điều đó không cần
thiết. Cả cha và con đều có dù hết. Cha có biết không, cái ông khôn lanh nhất
trên đời đó đã nhảy ra khỏi máy bay, mang theo cái ba-lô của con! Ông ta không
khôn lanh như ông ta tưởng.”
Tôi thiết tưởng đó là phần chính
của sứ điệp Tin Mừng hôm nay.
Linh đạo phá sản
Chúng
ta không luôn luôn khôn lanh như chúng ta thường nghĩ tưởng. Phần nhiều những
gì chúng ta làm, quyết định hay chọn lựa không có ý nghĩa thật sự, sau khi
chúng ta xem xét kỹ càng. Chúng ta cảm thấy mình ngu đần. Người đàn ông giàu có
trong đoạn Phúc Âm nầy là một trường hợp điển hình.
Không có chỗ nào trong đoạn Phúc Âm
nầy cho thấy ông là một con người xấu xa. Có thể ông là một người tốt, một
người tao nhã nữa. Chắc chắn ông là một người làm việc đầu tắt mặt tối. Đúng
thế, những người làm việc khó nhọc đôi khi có những quyết định tồi tệ. Người
đàn ông trong đoạn Phúc Âm nầy đã lập kế hoạch đời mình căn cứ trên cuộc sống ở
trần gian nầy mà thôi.
Cụm từ duy nhất mà ông biết đến là
phải “có nhiều hơn nữa.” Ông ta bị
thôi miên bởi cụm từ “thêm nữa” mà
không bao giờ có thể nắm bắt được. Ông không bao giờ đi quá xa hơn cụm từ đó.
Ông càng có thêm, ông càng muốn thêm hơn. Một người tham lam không bao giờ được
thỏa mãn. Đủ không bao giờ là đủ hết.
Bỗng chốc quả bong bóng nổ tung.
Chúa gọi ông ta và ông phải ra đi, để lại đằng sau tất cả của cải cho một người
khác. Ông không thể mang theo một thứ gì với mình. Ông đứng trước mặt Chúa với
tay không và trần trụi. Ông không có một lời nào để thốt lên. Sự trống rỗng của
ông đã nói lên tất cả. Cả Chúa cũng không có một lời nào để ngỏ với ông.
Tới lúc đó, ông mới biết mình chưa
bao giờ làm gì hết. Đám tang của ông cũng rầm rộ như đám tang của một tên trùm
Mafia, với khối bông hoa và mộ bia bóng nhoáng. Cuối cùng, tên trùm Mafia là
người giàu có nhất trong nghĩa địa, nhưng được công bố là bị phá sản về mặt
tinh thần.
Như vậy, những ưu tiên của chúng ta
là gì? Chúng ta đã sống cho lý tưởng nào? Tất cả cuộc sống chúng ta dùng để làm
gì? Con tim chúng ta hướng về đâu? Điều gì chúng ta đã mong muốn nhiều nhất? Đó
là những vấn nạn lớn lao. Tất cả đều tùy thuộc vào câu trả lời.
Sự sống sau khi chết
Số phận của
người đàn ông trong dụ ngôn nầy đưa chúng ta đến một câu hỏi sâu xa hơn nữa:
Điều gì xảy ra sau khi chết? Có phải chúng ta sẽ được kết thúc dưới ba tấc đất
hay trong lò hỏa thiêu? Có phải chỉ thế thôi sao?
Thánh Augustinô đã la lên: “Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng chúng con cho
Chúa và con tim chúng con bồi hồi xao xuyến cho tới khi được nghỉ an trong
Chúa!”Chúng ta có kinh nghiệm về sự bồi hồi thổn thức đó ở trong chúng ta
hay không? Có một khoảng trống trong con tim và một sự nhức nhối trong tâm hồn
mà chỉ Thiên Chúa mới khoả lấp được không? Lại một lần nữa, đó chính là những
vấn đề quan trọng trong cuộc sống.
Sự sống trước khi chết
Có một vấn nạn khác chúng ta cần
phải nêu lên: “Có một cuộc sống trước khi
chết không?” Điều đó xem ra là một câu hỏi quái đản đang đập vào đầu óc
bạn. Eric Fromm là một tâm lý học gia nổi tiếng đã viết: “Điều đáng thương hại trong cuộc sống ngày nay là phần đông chúng ta
chết trước khi sống trọn vẹn.”Nhà tâm lý học nầy đã quan tâm đến những
người chỉ “hiện hữu” chứ không “sống” thật sự.
Tối chắc chắn nếu nhà tâm lý học
Fromm có mặt ở Waterford vào ngày hội gọi là “Spraoi” vào thượng tuần tháng
tám, ông ta sẽ lấy làm sung sướng thấy rất đông người đang vui hưởng cuộc sống
mà không chút ngượng ngùng. Thiết tưởng ngay cả Chúa nữa cũng sẽ hết lòng tán
thưởng. Tôi tưởng tượng Chúa đang nhìn xuống, mỉm cười và nói: “Cuộc thí nghiệm lớn lao của Ta với sự sống
đã được chứng minh.”
Tôi đã đọc đâu đó một câu chuyện
nói về những người khóc than lớn tiếng trên giường bệnh, sắp chết, là những
người chưa bao giờ biết sống. Họ chỉ là những quan sát viên đối với cuộc sống,
những người ngoại cuộc, những khán giả thụ động. Thần học lớn lao của Kitô giáo
cho biết vinh quang của Thiên Chúa chính là con người biết sống một cách trọn
vẹn.
Giả thiết
Thử tưởng tượng một chút là Chúa
hiện ra và nói đôi điều với chúng ta cũng như Ngài đã nói với người đàn ông
giàu có trong đoạn Phúc Âm nầy: “Thời giờ
của con đã điểm. Bây giờ là lúc con phải ra đi. Con còn sống vài giờ nữa thôi
để sắp đặt cuộc sống cho ổn định. Bây giờ quá trễ để thay đổi được gì, ngoại
trừ việc con nói lời giã biệt. Không cần phải sửa soạn hành lý. Tất cả những gì
con mang theo với mình là những kỷ niệm của con.”
Những kỷ niệm gì bạn sẽ mang theo?
Những kỷ niệm gì sẽ khiến bạn nói lên: “Tôi
sung sướng vì đã biết sống. Tôi sung sướng vì đã cưới người phối ngẫu của tôi.
Tôi đã được lớn lên trong gia đình tôi, yêu thương cha mẹ tôi, đối xử với mọi
người với lòng kính trọng và đầy nhân phẩm, làm cho nhiều người cười thay vì
khóc, làm cho nhiều người cảm thấy được thoải mái, biến cuộc sống trở thành hòa
nhã hơn, ân cần hơn và chan chứa nhiều kinh nghiệm tốt đối với kẻ khác?”
Những ưu tiên
Nếu bạn chỉ còn sống thêm ít giờ
nữa thôi, bạn có còn quan tâm đến sự thành công, đến trương mục ngân hàng, danh
thơm tiếng tốt, chơi gôn thật giỏi hoặc bất cứ điều gì mà bạn thích thú trong
cuộc sống? Tôi thiết tưởng tôi biết điều bạn muốn làm trong những giờ còn lại
của bạn. Tôi ức đoán ra ngay bây giờ đây!
Bạn sẽ nói với càng nhiều người
càng tốt về một trong ba điều sau đây – có thể hai điều hay cả ba điều. Có
người bạn sẽ nói: “Tôi rất lấy làm buồn!”
Với người khác, bạn lại nói: “Tôi tha
thứ!”Và người khác nữa, bạn sẽ nói: “Tôi
rất yêu thương!”Đó là những gì bạn sẽ nói, bởi vì rõ ràng cuộc sống là như
thế đó.
Cuối cùng, cuộc sống có tương quan
đến Thiên Chúa và đến tha nhân. Và như thế, người giàu có trong dụ ngôn nầy đã
đánh mất điều đó ở đâu? Những ưu tiên của ông ta đã sai lầm. Ông đã săn đuổi hũ
vàng cho tới khi cầu vồng biến mất và khi đến cuối cuộc đời, ông bàng hoàng
khám phá ra rằng đó chỉ là ảo ảnh.
Phúc Âm đưa chúng ta về với thực
tại. Sống là sống trong thực tại, chứ không phải bằng trí tưởng tượng. Trí
tưởng tượng cũng tốt, bao lâu không làm cho thực tại trở nên nhầm lẫn. Phúc Âm
đưa chúng ta trở về với những gì là quan trọng và những gì không quan trọng.
Lòng hào hiệp và sự chiếm hữu
Trong vài giờ ngắn ngủi sau cùng
đó, sự kiện trở nên giàu có hay nổi tiếng, trở thành vĩ đại và quyền thế, kho
lẫm đầy thóc hay bất cứ chiến công, chiến tích nào mà chúng ta đã tích
luỹ…không có điều gì trong những thứ đó sẽ trang trí cho khung ảnh cuộc đời.
Điều quan trọng ở đây là lòng hào
hiệp ở bên trong, chứ không phải sự chiếm hữu ở bên ngoài. Và nếu chúng ta chân
nhận như thế, chúng ta sẽ không ngớ ngẩn sai phạm khi chộp lấy cái ba-lô mà
tưởng là cái dù. Mong bạn hiểu điều tôi muốn nói!
Phúc Âm đã dạy: “Thật vậy, một chút gian truân tạm thời
trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cả một khối vinh quang vô tận, tuyệt
vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến
những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì tạm thời, còn những
thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn.” (2 Cr, 4 17-18)
Nguyên Tác In Step With God - LM Vincent Travers, OP
Hương Vĩnh chuyển ngữ
Làm Giầu Trước Mặt Chúa.
(Phỏng theo Lc 12. 3-21)
Lần kia, trước một đám đông,
Có người lên tiếng xin cùng Chúa Ta
Lạy Thầy,
xin ban lệnh ra,
Anh tôi chia của, ruộng, nhà cho tôi.
Chúa rằng:
anh đã lầm rồi,
Thầy đâu rao giảng việc đời này đâu.
Những ai
lo việc làm giầu
Sẽ mang lấy ách âu sầu mà thôi.
Phú ông
kia quá giầu rồi,
Lòng tham vô đáy, ông ngồi tính toan:
Của tiền
ta đã đầy tràn
Nhà kho chật hẹp ta cần phá đi.
Xây toàn
lớp mới, khó gì,
Bao năm sắp tới chẳng chi hao mòn.
Gia tài
mãi mãi an toàn,
Dù cho bão lụt có tràn tới đây
Ta luôn an nghỉ vui say,
Bình tâm tĩnh dưỡng, đêm ngày khỏi lo…
Chúa rằng: Ngươi quá dại khờ,
Đêm nay hồn xác bất ngờ lìa nhau,
Gia tài ngươi ai tiếp thâu
Phần ngươi, ngươi sẽ đi đâu an lành,
Sao ngươi tích trữ cho mình,
Mà không nghĩ tới Vinh Danh Chúa Trời,
Thật là ngu muội, người ơi…
……………………………………………
Thế Kiên
Dominic
Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016
ABBA. BỐ ƠI! KINH LẠY CHA PATER NOSTER.
Nếu có dịp hành hương Đất Thánh Palestina, chúng ta phải viếng thăm nhiều nơi, nào miền Galilê với Nazareth : nơi Chúa lớn lên; Biển Hồ Tibêriađê nơi Chúa rao giảng Tám mối phúc thật; nơi bão tố hoành hành , nơi các môn đệ sững sờ trước mẻ cá lạ . Chúng ta phấn khởi trèo lên đỉnh Ta Bo, đỉnh Carmel. Rồi chúng ta cũng sẽ xuôi về miền Nam, vào sa mạc Neguev nắng cháy, sẽ dừng chân tại Massada, Giêricô, Biển Chết, Quram…Điểm quan trọng nhất trong chuyến hành hương vẫn là thành Giêrusalem và vùng phụ cận : Bê Lêm nơi Chúa Giêsu cất tiếng khóc chào đời cùng bao di tích thánh khác : Núi Sion và đền thánh Giêrusalem , nhà Tiệc ly, vườn Giếtsêmani, đàng Thánh Giá ( via dolorosa), núi Sọ ( Canvê), Mồ thánh hoặc nơi Chúa về trời. Nếu còn nhiều giờ hơn, chúng ta sẽ tham quan nơi Chúa khóc thương Đền thánh, nhà thờ thánh Phêrô gà gáy, dạo tường thành và thăm viếng nhà thờ Kinh Lạy Cha. Pater Noster, theo tiếng Latinh.
Ảnh vệ tinh khu vực núi Cây Dầu ( Ô liu, Ôlivêtê ). Chúng ta thấy các địa điểm màu đỏ Vườn Giếtsimani ( B.Agony) ; Nơi Chúa khóc thành Giê rusalem ( Dominus flevit); Nơi Chúa về trời ( Ascencion Chapel); Nhà thờ và tu viện kinh Lạy Cha (Pater Noster). Nguồn Internet.
Đây là một địa điểm khá kín đáo vì là tu viện của các chị dòng Cát Minh, có tường cao vây quanh.
Chúng ta biết rõ , khi các môn đệ yêu cầu Chúa dạy cầu nguyện, Chúa đã dạy họ kinh Lạy Cha. Ở địa điểm nào? Tân ước không chỉ rõ như các di tích khác. Chỉ biết, kinh nầy được Chúa dạy sau bửa cơm tại nhà Matta và Maria, tại Bêtania , gần núi Cây Dầu. Chúa và các môn đệ qua đêm tại núi Cây Ô liu và tại đây Chúa đã dạy họ cầu nguyện. Qua truyền thống nhất là Công vụ Thánh Gioan ( ngụy thư thế kỷ thứ 3) cho biết có một cái hang tại nơi nầy, tuy không nói rõ về kinh Lạy Cha nhưng nói nơi đó Chúa đã giảng dạy.Theo chứng từ sử gia đương thời Eusôbiô (260-340), sau khi Giáo hội được tự do vào thế kỷ thứ tư, thời Hoàng đế Rôma Constantinô, mẹ ngài là Thánh nữ Hêlêna và giáo dân đã nô nức đến Giêrusalem hành hương . Tại nơi đây, một nhà thờ mọc lên che một hang động trên đồi núi Cây Dầu để mừng Chúa về trời. Sau một thời gian, nhà thờ Chúa Thăng Thiên được đưa lên đỉnh đồi gần đó thì nơi nầy ít được quan tâm.
Kể từ thời thánh nữ Hêlêna cho dựng xây những di tích thánh quan trọng ở Giêrusalem cho đến thế kỷ 21 , lịch sử đã ghi lại bao nhiêu vết thăng trầm tại nơi nầy. Nhiều lần những địa điểm hành hương bị tàn phá, cướp bóc, để rồi được xây dựng lại . Quân Ba Tư tàn phá thành thánh năm 614. Thời gian sau, Thập tự quân cất một nhà nguyện năm 1106. Một vị giám mục Đan Mạch xây dựng nhà thờ lớn hơn năm 1152. Khu vực lại bị tàn phá năm 1187, rồi bị phá hủy hoàn toàn năm 1345. Từ đó di tích không còn được lưu ý. Năm 1854, các vật liệu còn sót lại của nhà cũ được bán cho người Do Thái làm bia mộ ở Cánh đồng Giosaphát , thực ra là thung lũng Giosaphát.
May mắn thay, vào thế kỷ 19, Công Chúa De la Tour d’Auvergne đã mua lại khu đất và bắt đầu tìm dấu tích hang đá xưa. Năm 1868, bà cho xây một ngôi nhà theo mẫu Campo Santo ở Pisa và lập tu viện Cát Minh nữ năm 1872.
Năm 1910, nền móng nhà thờ thời Byzantin được tìm thấy gần tu viện, buộc lòng lại phải di dời tu viện để bắt đầu xây dựng lại nhà thờ trên nền móng thời Byzantin vào năm 1915.
Tại đây trải qua năm tháng, các bản kinh Lạy Cha bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau viết trên gạch tráng men đã được gắn trên tường. Khách hành hương tìm thấy nguyên bản lời Chúa bằng tiếng Aramiên, đến tiếng Hy lạp, La Tinh, cho đến các sinh ngữ hiện đại, hoặc thổ ngữ của các dân tộc ít người. Mỗi năm, con số mỗi tăng thêm .
Nếu năm 1963, Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi đếm được 53 thứ tiếng thì nay nghe đâu đã có đến 114 văn bản. Năm 1997, người viết bài có dịp đến đó và hết sức cảm động khi thấy có kinh Lạy Cha tiếng Việt do Đức cha Phêrô Phạm Ngọc Chi, lúc đó là Giám mục Qui Nhơn vận động thực hiện.
Các bản kinh Lạy Cha bằng nhiều ngôn ngữ trên các vách tường.Nguồn : Internet.
Ta hãy đọc đoạn văn sau đây của Đức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi viết về chuyến hành hương của các Giám mục dự Công Đồng Vatican 2 cuối năm 1962 cho biết :
“ Chúng tôi mấy chục thước nữa thì có Nhà Dòng Kín của các nữ tu người Pháp. Tục truyền ở đây Chúa dạy kinh Lạy Cha. Chúng tôi vào nhà thờ và thi nhau đọc kinh đó bằng nhiều thứ tiếng. Chúng tôi đi chung quanh nhà thờ và các rẫy hành lang thấy kinh ấy được khắc bằng 53 thứ tiếng. Nhưng thiếu tiếng Việt ! Chúng tôi đã vào gặp Bà Mẹ nói chuyện việc đó. Bà hứa sẽ làm hài lòng vì mới đây chính ông Đại sứ Việt nam ở Giordania cũng có đề cấp đến việc đó…Hy vọng không lâu tại đây cũng sẽ có kinh Pater Noster bằng Việt ngữ!”
( Trích Bản Thông Tin Địa phận Qui Nhơn , số 34, tháng 1- 1963 trang 10.)
Qua những dòng chữ trên, thông tin trên mạng là bản kinh tiếng Việt có năm 1959, không chính xác. Chuyến đi nầy có 8 Giám mục Việt Nam . Các vị đáp chuyến bay vào lúc 9 giờ ngày 9 tháng 12 năm 1962, giờ Rôma. Sau sáu tiếng đồng hồ , phi cơ hạ cánh tại phi trường Amman và quan chức nước Giọt Đa Ni cho xe taxi chở đi Giêrusalem. Như thế, vào thời kỳ đó Giêrusalem còn thuộc quyền chính phủ Giọt Đa Ni.
Theo giới chuyên môn, Kinh Thánh hiện đã được dịch ra trên 3000 ngôn ngữ khác nhau. Nếu dành cho mỗi ngôn ngữ 10 mét tường để gắn văn bản trên, chúng ta cần đến 30. 000 mét tường , tức ba hecta để trình bày các bản dịch Kinh Lạy Cha.
Tại Việt Nam, nơi 54 dân tộc sinh sống, kinh Lạy Cha đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nhưng chưa ai thống kê được.
Riêng tiếng Kinh , từ thế kỷ thứ 17 đến đây đã có nhiều bản dịch khác nhau và lưu hành qua nhiều năm tháng.
Theo linh mục Roland Jacques OMI trong tác phẩm “ Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội công giáo Việt Nam, Sách song ngữ, quyển I, Định Hướng Tùng Thư năm 2004, Reichstett, France, trang 375- 377) cho thấy một số bản văn đặc biệt.
Bản văn kinh Lạy Cha năm 1632 .
Cha chúng tôi ở trên blời, chúng tôi nguyện danh cha cả sáng. Cuốc ( nước ) cha trị đến. Bvâng ý Cha làm trưng (chưng) đất ( đết) bằng trưng (chưng) blời bậy. Chúng tôi trông cha rày cho chúng tôi hằng ngày dùng đủ, mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi ít tha chủ nợ tôi vậy. Lại chớ để chúng tôi sa trưng (chưng) cám dỗ. bèn chữa chúng tôi trưng ( chưng ) tai dữ.
Bản văn kinh Lạy Cha năm 1700- 1750.
Chúng tôi lạy Thiên địa chân Chúa ở trên blời là cha chúng tôi. Chúng tôi nguyện danh ( cha cả sáng). Cuốc cha trị đến. Vâng ý Cha ( làm) dưới đất bằng trên blời vậy. Chúng tôi xin cha rày ( cho) chúng tôi hằng ngày dùng đủ. Mà tha nợ chúng tôi bằng chúng tôi cũng kẻ có nợ chúng tôi vậy. Xin chớ để chúng tôi sa chưng cám dỗ. Bèn chữa chúng tôi chưng sự dữ.
Bản kinh Lạy Cha tiếng Việt tại nhà thờ Kinh Lạy Cha. Giêrusalem.
Ảnh : Trường Thăng Mùa Hè 1997.
Bản văn kinh Lạy Cha năm 1905.
Lạy cha chúng tôi ở trên trời, chúng tôi nguyện danh cha cả sáng. Nước Cha trị đến. Vâng ý Cha làm dưới đất bằng trên trời vậy.
Xin Cha cho chúng tôi rày hằng ngày dùng đủ. Và tha nợ chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ có nợ chúng tôi. Lại chớ để chúng tôi phải sa cám dỗ, bèn chữa chúng tôi cho khỏi sự dữ.
Bản văn kinh Lạy Cha năm 1992.
Lạy cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến. Ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Bản văn kinh Lạy Cha hiện nay.
Lạy Cha chúng con ở trên trời. Chúng con nguyện danh Cha cả sáng; nước Cha trị đến. Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con . Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ. Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
Kinh Lạy cha, môt kinh rất ngắn nhưng lịch sử kinh nầy không hề ngắn.
Một kinh quý nhất trong các kinh vì kinh nầy do chính Chúa Giêsu dạy.
Một kinh phổ quát và đại kết vì đây là kinh mà toàn thể các Giáo hội Ki tô giáo : Chính thống, Tin lành, Anh giáo, Công giáo đều xử dụng vì nguồn gốc tông truyền từ Tân Ước.
Một kinh mà Thiên Chúa đã mặc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa đối vối loài người : Abba. Lạy cha.Ba ơi! Bố ơi! Papa! Daddy! Như tiếng bập bẹ trẻ sơ sinh trao về một người cha yêu thương , bảo vệ và tha thứ.
Một kinh mẫu mực cho việc cầu nguyện. Kinh phá đổ cái thành kiến cho cầu nguyện chỉ là một loạt những lời van nài tỉ tê, xin xỏ mà nhân loại thường làm.
Kinh Lạy Cha, là kinh đưa chúng ta đến mầu nhiệm cao sâu “ Thiên Chúa Tình yêu”. Như trẻ thơ coi ba mình là thần tượng, chúng ta như con dại tán tụng hồng ân, ca tụng Đấng tạo hóa : cầu mong cho danh Chúa cả sáng, nước Chúa hiển trị.
Kinh Lạy Cha còn đi sâu vào thẳm sâu tâm thức con người trước sức mạnh vô hình đối kháng : sợ quỷ ma, sợ tội lỗi, sợ không đũ sức tha thứ… kể cả nhu cầu sinh tồn trần thế: cơm bánh hằng ngày.
Kinh Lạy Cha dễ đọc, dễ thuộc nhưng thực hành không dễ chút nào nhất là những câu : ý Cha thể hiện, tha kẻ có nợ, hằng ngày dùng đủ.
Khi khổ đau, hoạn nạn, thất bại, bệnh tật, tang chế, tình phụ…Ý Cha thể hiện sao mà khó quá!
Chúa tha cho con thì dễ, còn con tha cho những kẻ bách hại, làm tan nát đời con, gia đình, danh dự con …Chúa ơi, sao mà khó quá!
Quanh con, tiền của là trên hết, kẻ giàu được tung hô “ đẳng cấp”, cơm bánh hàng ngày thôi sao, Chúa ơi mà sao khó quá!
Nhưng đối với những ai nghe, giữ và sống trọn Lời Chúa qua tám mối phúc thật, lúc đó kinh Lạy Cha sẽ là thước đo hạnh phúc.
Những ai sống trọn kinh Lạy Cha, họ đã bước một chân vào Thiên Đàng , không phải sau khi lâm tử mà ngay ngày hôm nay, trên cỏi hồng trần nầy.
Phúc cho ai tin vào Thiên Chúa và vui sống lời kinh Lạy Cha . Amen.
Lm Antôn Nguyễn Trường Thăng.
Hội An 24 tháng 7 năm 2010.
(Nguồn : https://antontruongthang.com)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)


