(Trích lời giới thiệu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong cuốn Youcat Bible:) Các bản trẻ của cha thân mến, Chúng con có thể mua cho cha cuấn Kinh thánh mới với giá chỉ 1 đôla, nhưng cha không thích lắm. Cha yêu cuốn cách cũ của cha, vì nó đồng hành với cha suốt nửa cuộc đời của cha. Nó ở với cha trong mọi thời điểm vui buồn. Nó là gia tài quý nhất. Cha sống vì nó và cha không để bất cứ thứ gì vào trong cuốn sách này. Cha thực sự thích cuốn Kinh Thánh mới dành cho giới trẻ lần này. Sách có nhiều màu sắc và phong phú về những lời chứng: lời chứng của các thánh, của người trẻ. Nó đang mời gọi đến nỗi khi chúng con đọc nó từ trang đầu, chúng con chẳng thể dừng cho tới trang cuối. Và sau đó…? Sau đó Kinh thánh lại để trên kệ sách bụi bặm. Rồi con cái chúng con ngày nào đó lại thấy nó và quẳng chúng đi. Nó không phải để vứt đi như thế. Cha nói với chúng con đôi điều: Trên thế giới, hiện có nhiều Kitô hữu bị bách hại khóc liệt hơn so với thời Giáo Hội sơ khai. Và vì sao họ bị bách hại? Bị bách hại vì họ mang vác thập giá để làm chứng cho Chúa Giêsu. Vì thế Kinh thánh quả là cuốn sách rất nguy hiểm; vì nguy hiểm nên trong một vài quốc gia, chúng con cần thích thú nó như thể chúng con đang dấu những vũ khí trong nhà của mình vậy. Không là Kitô hữu, Mahatma Gandhi đã nói rằng: “Là Kitô hữu, các bạn chăm chút một tài liệu mà ẩn chứa trong đó nguồn năng lượng làm nổ tung tất cả nền văn hóa thành từng mảnh, chuyển đổi thế giới và mang hòa bình đến trong hành tinh thương tổn này. Nhưng bạn lại xem Kinh Thánh như một cuốn sách văn chương không hơn không kém.” Vì thế, chúng con có gì trong tay? Một cuốn văn chương? Vài mẩu truyện vui cũ rích? Sau đó chúng con lại thích khoe với nhiều Kitô hữu bị bỏ tù hoặc bị tra tấn vì họ sở hữu cuốn Kinh thánh: “Bạn thật điên khùng, đó chỉ là cuốn truyện văn chương!” Không. Vì Lời Chúa có Ánh sáng chiếu tỏa vào thế giới nên nó không bào giờ lỗi thời. Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng (số 175) cha nói rằng: “Chúng ta không tìm kiếm Thiên Chúa một cách mò mẫm, hay chờ đợi Ngài nói với chúng ta trước, bởi vì ‘Thiên Chúa đã nói với chúng ta rồi, và không có gì chúng ta cần biết mà Ngài đã không mặc khải cho chúng ta’. Chúng ta hãy đón nhận kho tàng siêu vời này của lời mặc khải.” Vì thế, các con phải có cái gì thánh thiện trong tay: Cuốn sách như một ngọn lửa! Qua Kinh thánh Thiên Chúa nói với chúng ta. Cần lưu ý rằng: Kinh thánh không phải để trưng trên kệ sách mà cần cầm trong tay để đọc mỗi ngày, cả trong tay của chúng con lẫn của tha nhân. Chúng con chơi thể thao, đi mua sắm với nhau. Tại sao lại không đọc Kinh thánh cùng nhau, chẳng hạn 2, 3 hoặc 4 người chúng con? Nơi thiên nhiên, trong rừng vắng hoặc nơi bãi biển, trong đêm tối với vài ánh nến…và chúng con có được trải nghiệm tuyệt vời! Hay chúng con sợ người khác liệt mình vào những kẻ dở hơi? Hãy đọc chăm chú! Đừng dừng lại ở bề mặt của câu chữ như thể chúng con đọc sách khôi hài! Đừng bao giờ đọc Lời Chúa một cách qua loa! Hãy hỏi chính chúng con xem: “Điều gì đang nói trong cõi lòng chúng con? Thiên Chúa có ngỏ lời của Ngài với tôi không? Ngài có đụng chạm đến tôi ở chiều sâu của tâm hồn tôi không? Tôi nên làm gì?” Chỉ trong cách này sức mạnh của Lời Chúa mới có thể tỏ hiện. Chỉ cách này mới có thể thay đổi cuộc sống của chúng ta và làm cho cuộc đời chúng ta thêm tươi đẹp tuyệt vời. Cha muốn nói với chúng con cách cha đọc cuốn Kinh thánh cũ này của cha. Thường thì cha đọc từng chút một; sau đó cha đặt sách xuống và chiêm ngắm Thiên Chúa. Không chỉ nhìn ngắm Chúa, nhưng còn để Ngài ngắm nhìn cha. Ngài ở đó. Chính cha để cho mình nhìn ngắm Ngài. Và cha cảm thấy – không phải bằng tình cảm ủy mị- cha cảm nhận những điều rất sâu xa mà Thiên Chúa nói với cha. Thi thoảng Ngài chẳng nói gì. Sau đó, cha không cảm thấy chi, chỉ thấy trống rỗng, trống rỗng và trống rỗng…Nhưng cha vẫn kiên nhẫn và đợi chờ, đọc và cầu nguyện. Cha ngồi cầu nguyện bởi nếu quỳ thì đầu gối cha đau lắm. Thỉnh thoảng cha cũng buồn ngủ khi cầu nguyện. Nhưng đó không phải là vấn đề hệ trọng. Cha thích mình như người con với cha của mình, và điều ấy quan trọng biết bao. Cha muốn chúng con giúp cha hạnh phúc, có được không? Hãy đọc Kinh Thánh! Giáo Hoàng Phanxicô Chuyển từ Anh ngữ: Giuse Phạm Đình Ngọc SJ | ||
Thứ Hai, 17 tháng 10, 2016
ĐỨC GIÁO HOÀNG NÓI VỚI GIỚI TRẺ VỀ CÁCH ĐỌC KINH THÁNH
Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2016
CHÚA SAI TÔI ĐI
SUY NIỆM
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN NĂM C - 16/10/2016
ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Ta thường nghĩ rằng: Việc truyền giáo là dành cho các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ. Giáo dân không được học hỏi gì nhiều làm sao có thể truyền giáo được? Truyền giáo phải có nhiều phương tiện vật chất. Thiếu phương tiện không có thể làm gì được. Đó là những quan niệm sai lầm mà Chúa vạch cho ta thấy trong bài Tin Mừng hôm nay.
Chúa Giêsu cho ta thấy truyền giáo là công việc của mọi người khi Người sai 72 môn đệ lên đường. Mười hai Tông đồ có tên tuổi rõ ràng. Đó là thành phần ưu tuyển. Đó là các Giám mục, Linh mục, Tu sĩ. Còn 72 môn đệ không có tên tuổi rõ ràng. Đó là một đám đông không xác định. Đó là tất cả mọi người giáo dân. Khi sai 72 môn đệ, Chúa Giêsu muốn huy động tất cả mọi người thuộc đủ mọi thành phần tham gia vào việc truyền giáo.
Giáo dân tham gia vào việc truyền giáo bằng cách nào?
Trước hết phải ý thức sự cấp thiết của việc truyền giáo: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Lúa đã chín vàng, phải nhanh chóng gặt về không được chậm trễ, nếu không lúa sẽ hư hỏng. Biết bao anh em đang chờ đợi được nghe Lời Chúa. Biết bao anh em đang tìm kiếm Chúa. Biết bao tâm hồn đang mở cửa đón Chúa. Ta phải mau mắn để khỏi lở mất cơ hội.
Thứ đến ta phải cầu nguyện. Sau khi đã chỉ cho thấy đồng lúa chín vàng, Chúa Giêsu không bảo lên đường ngay, nhưng Người dạy phải cầu nguyện trước. Cầu nguyện là nền tảng của việc truyền giáo. Vì truyền giáo phát xuất từ ý định của Thiên chúa. Ơn hoán cải tâm hồn là ơn Chúa ban. Nên cầu nguyện chính là truyền giáo và kết quả của việc truyền giáo bằng cầu nguyện sẽ rất sâu xa. Ta hãy noi gươngThánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu. Vị Thánh sống âm thầm, suốt đời chôn vùi trong 4 bức tường Dòng Kín. Thế mà nhờ lời cầu nguyện, Thánh nữ đã đem được nhiều linh hồn về với Chúa không kém thánh Phanxicô Xaviê, người suốt đời bôn ba khắp nơi để rao giảng Lời Chúa.
Khi đi truyền giáo, hãy trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chúa dạy ta: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép” để ta biết sống khó nghèo. Để ta đừng cậy dựa vào tài sức riêng mình. Để ta đừng cậy dựa vào những phương tiện vật chất. Biết mình nghèo hèn yếu kém, biết những phương tiện vật chất chỉ có giá trị tương đối, ta sẽ biết trông cậy vào sức mạnh của Chúa. Chính Chúa sẽ làm cho việc truyền giáo có kết quả.
Sau cùng, truyền giáo là đem bình an đến cho mọi người. Niềm bình an đến từ thái độ quên mình, sống chan hoà với những người chung quanh. Niềm bình an đến từ sự hiệp thông, có cho đi, có nhận lãnh. Và nhất là, niềm bình an vì được làm con cái Chúa, luôn sống dưới ánh mắt yêu thương của Chúa.
Như thế việc truyền giáo hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người giáo dân. Mọi người đều có thể ý thức việc truyền giáo. Mọi người đều có thể cầu nguyện. Mọi người đều có thể trông cậy vào Thiên chúa. Và mọi người đều có khả năng cho đi, nhận lãnh, sống chan hoà với người khác
Như thế mọi người, từ người già tới em bé, từ người bình dân ít học đến những bậc trí thức tài cao học rộng, từ người khoẻ mạnh đến những người đau yếu bệnh tật, tất cả đều có thể làm việc truyền giáo theo ý Chúa muốn.
Hôm nay, Chúa đang than thở với mọi người chúng ta: “Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt”. Chúng ta hãy bắt chước tiên tri Isaia thưa với Chúa: “Lạy Chúa, này con đây, xin hãy sai con đi”.
Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2016
CẬU BÉ ĐI TÌM MẸ KHIẾN CẢ NƯỚC ĐỨC CẢM ĐỘNG
Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền tìm theo tiếng khóc thì phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đã đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.
Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Cậu bé có tấm lòng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: “Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”
Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.
Nữ tu sĩ nghe xong giật mình hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”
Derby trả lời: “Tại vì con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”
Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: “Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi”.
Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Cậu hy vọng những dòng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem tình cảm của cậu đến với mẹ.
Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mãnh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các kênh truyền hình đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những hình ảnh về tình mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đìa trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nhìn cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới hình ảnh này đã nói với nữ tu sĩ: “Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”
Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi vì suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức gì của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.
Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: “Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, vì vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra trò chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ thì số hạt gạo đã là 18 triệu tỷ hạt”.
Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ý nghĩ này đã khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: “Xin cô (chú…) hãy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”. Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm lòng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của mình, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của mình.
Sức mạnh của “10 việc tốt”
Derby không thể ngờ mình lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức.
Rick là một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đã 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của mình, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương trình của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hãng truyền hình và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xã hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.
Tháng 10/2003, ông đã xin đài truyền hình cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đã tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đã bị vẻ đẹp của dòng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đã gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.
Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.
Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cảm ơn cháu rồi ạ!”.
Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái gì cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.
Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đã để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn dò ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hãy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nhìn qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong lòng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.
Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân mình có giá trị hơn rất nhiều.
Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đã trở lại đài truyền hình làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và hòa đồng với mọi người hơn.
Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền hình sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đã nói với khán giả: “Trước đây, tôi đã nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính mình”. Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong vòng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: “Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đã tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!”
Thông qua truyền hình, chương trình của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đã có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm “10 việc tốt” này. Thậm chí còn rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền hình bởi vì họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.
Tháng 1/2004, Derby đã đến đài truyền hình chia sẻ về câu chuyện của mình. Tại hiện trường, có người đã hỏi cậu: “Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rõ chuyện đời mình. Rất nhiều người đã vô cùng xúc động và bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ mình.
Ông Rick đã ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: “Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ tìm được mẹ!”
Tình yêu của hàng ngàn người mẹ
Sau sự tình ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đã đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng thì giờ đây lại đối xử với nhau rất có tình. Mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.
Derby đã trở nên rất nổi tiếng và đài truyền hình cũng giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi vẫn không thấy xuất hiện…
Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không tìm thấy tiền trên người cậu bé, nên đã đâm trọng thương cậu bé.
Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu mãi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” mãi không thôi.
Đài truyền hình tiếp sóng trực tiếp tình trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…” Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành hình trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.
Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: “Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: “Tôi từ nhỏ đã không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm tình của Derby”.
Có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby thì chỉ có một. Cho nên, đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi vì cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.
Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt. Cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: “Con trai Derby yêu quý! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. Derby dường như nhìn thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đã rất ngạc nhiên và hỏi:“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”. Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nhìn Derby và gật đầu. Hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: “Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”
Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu còn muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đã không còn sức lực nữa rồi…
Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại vì muốn được nhìn thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều òa khóc, cảm thấy như trái tim mình đang vỡ tan ra.
Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đã nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.
Theo Daikynguyenvn / NTDTV
Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016
ĐẠO LÝ NHÂN SINH BÊN TRONG CHIẾC CHÉN THỦNG CỦA LÃO ĂN MÀY
Rất nhiều năm trước có một người cầu đạo trẻ tuổi, vì muốn biết đạo lý nhân sinh nên anh ta không ngại vất vả, quanh năm suốt tháng trèo đèo lội suối đi đến khắp nơi để tìm người có thể trả lời câu hỏi của mình.
Thời gian mỗi ngày một trôi qua, người cầu đạo trẻ tuổi đã hỏi qua rất nhiều người nhưng đều không có ai trả lời được thắc mắc trong lòng anh ta. Điều này khiến cho anh rất thất vọng. Anh luôn suy nghĩ trong đầu: “Vì sao không có ai trả lời được những thắc mắc trong lòng mình? Rốt cuộc nguyên nhân vì đâu?”
Một hôm, trên đường đi, anh ta gặp một vị tiên sinh, vị này nói rằng: “Trên ngọn núi phía nam cách đây không xa, có một vị cao tăng đắc đạo, ông ấy có thể trả lời tất cả những vấn đề liên quan đến đạo lý nhân sinh mà anh đang thắc mắc”.
Nghe vậy, anh vội vàng cảm ơn vị tiên sinh này, rồi lên đường tìm kiếm suốt ngày đêm chỗ ở của vị cao tăng đắc đạo.
Mấy ngày sau, anh đi đến ngọn núi phía nam và gặp một người tiều phu đốn củi từ trên núi trở về. Anh ta tiến đến hỏi thăm: “Xin hỏi anh có biết vị cao tăng ở trên ngọn núi này không? Tướng mạo của vị cao tăng đó như thế nào?”
Người tiều phu trầm ngâm một lát rồi nói: “Quả thực là trên ngọn núi này có một vị cao tăng, nhưng tôi không biết ông ấy ở chỗ nào bởi vì ông ấy thường xuyên đi lại tứ phía, tùy duyên mà độ hóa thế nhân. Có người nói tướng mạo của ông ấy trong suốt hiếm thấy, nhưng cũng có người nói ông ấy lôi thôi bẩn thỉu. Thực sự là không ai có thể nói rõ ràng cả”.
Người thanh niên tạ ơn vị tiều phu rồi ôm quyết tâm hướng lên núi tiếp tục đi tiếp. Không lâu sau, anh ta lại gặp một người thợ săn, rồi người đi hái thuốc, nhưng không ai trong số họ biết vị cao tăng kia ở đâu và tướng mạo trông như thế nào.
Anh ta tuyệt vọng quay đầu bước xuống dưới núi. Bất chợt trên đường đi, anh gặp một lão ăn mày rách rưới, trên tay cầm một chiếc chén thủng, hướng đến phía anh ta mà xin nước.
Người thanh niên lấy túi nước đeo trên lưng xuống rồi rót một ít nước vào trong chiếc chén. Lão ăn mày chưa kịp đưa lên miệng uống thì nước trong chén đã chảy hết rồi. Bất đắc dĩ, người thanh niên đành phải lại một lần nữa đổ một ít nước vào trong chiếc chén thủng kia rồi thúc giục lão ăn mày mau chóng uống. Nhưng chén vừa đưa đến miệng thì nước lại chảy hết không còn giọt nào.
Người thanh niên lúc này không nhịn được nữa liền bực mình nói: “Ông cầm cái chén thủng như thế thì làm sao mà chứa được nước uống chứ?”
Lão ăn mày khi đó nhìn thẳng vào anh ta rồi chậm rãi nói: “Người bạn trẻ đáng thương này, ngươi đi khắp nơi hỏi đạo lý nhân sinh, biểu hiện ra rất khiêm tốn. Nhưng trong lòng ngươi lại đánh giá lời nói của người khác bằng cách là xem có hợp với tâm ý của mình hay không.
Ngươi chẳng muốn tiếp nhận những lời nói không hợp với tâm ý của mình. Một chút thành kiến này đã tạo thành một lỗ thủng lớn ở trong tâm của ngươi, càng khiến ngươi vĩnh viễn không cách nào tìm được câu trả lời đâu! Cũng giống như chiếc chén thủng kia không giữ lại được chút nước nào”.
Người trẻ tuổi nghe xong bừng tỉnh, quỳ gối cúi đầu hỏi: “Đại sư chính là vị cao tăng mà tôi đang tìm phải không?” Nhưng hỏi mấy câu mà không có người trả lời. Anh ta ngẩng đầu lên thì người ăn mày đã đi từ lúc nào…
Tâm của mỗi người đều có “lỗ thủng”. Thành kiến chính là lỗ thủng, ghen ghét, nghi ngờ vô căn cứ, hèn nhát, nóng nảy, thù hận…cũng đều là các lỗ thủng. Chỉ có điều, lỗ thủng của mỗi người có khác nhau.
Loại bỏ những “lỗ thủng” kia đi thì tâm con người mới được bồi đắp hoàn thiện. Chỉ khi đó, tâm người ta mới có thể trở nên thanh tịnh mà cảm thụ được Pháp, đắc được Đạo, không cần nhọc công tìm kiếm nữa.
Nguồn: Daikynguyenvn
Thứ Năm, 13 tháng 10, 2016
FATIMA NĂM 1917
Mặt Trời Quay, Một Phép Lạ Vĩ Đại Chưa Từng Xảy Ra Và Không Ai Có Thể Chối Cãi Được!
Chắc hẳn khi nhắc đến
tên Fatima, các bạn đã nghe nói đến phép lạ mặt trời quay?
Nhưng các bạn có biết
rằng qua cách thức phép lạ xảy ra, thì đây hẳn là một phép lạ vĩ đại nhất chưa
từng xảy ra trong lịch sử Giáo Hội? Hay: Phải chăng đây là một chuyện thêm thắt
và bịa đặt thái quá?
Ba đứa trẻ lần lượt là Jacinta, Lucia và Francisco.
Để mọi người tin
Vào ngày 13.10.1917, tại
ngọn đồi Cova da Iria ở Fatima, Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, đã hiện ra
lần thứ sáu với ba trẻ chăn chiên: Lucia (10 tuổi), Francisco (7 tuổi) và
Jacinta (6 tuổi).
Nhưng nhiều người cho
rằng việc Đức Mẹ hiện ra chỉ là trò hề, do ba đứa trẻ nhà quê bịa đặt ra để gạt
gẫm người khác, hay do thủ đoạn của những người lớn đứng phía sau giật dây để
nhắm tới một mục đích chính trị hay kinh tế nào đó.
Chính bà mẹ Lucia cũng
hoàn toàn nghi ngờ, đến nỗi bà còn đánh đập con gái mình vì cho rằng Lucia nói
dối.
Để đánh tan sự nghi ngờ
và bất tín của thiên hạ, nhất là để mọi người tin nhận biến cố Fatima là sự
thật, trong lần hiện ra vào ngày 13.07.1917, Vị Thiên Nữ đã hứa là vào ngày
13.10.1917, sẽ có một phép lạ vĩ đại xảy ra trước sự chứng kiến của mọi người.
Lời hứa này còn được Vị
Thiên Nữ nhắc lại vào ngày 19.08.1917 và vào ngày 13.09.1917.
Vâng, trong lần hiện ra
vào ngày 13.09.1917, sự thông báo của Vị Thiên Nữ về một phép lạ vĩ đại sẽ xảy
ra vào ngày 13 tháng 10 tới, cũng được ba trẻ nói cho mọi người hay. Vì thế, đúng vào ngày đó, đã có khoảng từ 50
đến 70.000 người đã tấp nập đổ xô về Fatima, trong số họ, gồm có đủ mọi hạng
người, từ các tín hữu, những người tò mò cho đến cả những người nghi ngờ chống
đối.
Nhiều
phóng viên của những tờ báo lớn ở Bồ Đào Nha cũng đều có mặt trong lần hiện ra
hôm đó. Nhưng có lẽ những phóng viên này
chỉ muốn đến để soạn sửa cho bản tin ăn khách sẽ được đăng ở trang nhất trên
các tờ báo của họ trong số ra ngày mai với tít lớn: “Sự thất bại ê chề của
hiện tượng Fatima,” hay: “Nhân loại văn minh của thế kỷ XX vẫn còn bị
những chuyện hoang đường lừa đảo” kèm theo những bài bình luận đầy giọng
mỉa mai châm biếm tôn giáo, nếu như phép lạ đã được loan báo trước, không xảy
ra. Nhưng vào ngày 13.10.1917, mọi sự đã
xảy ra hoàn toàn khác với ý nghĩ của những nhà báo này: Phép lạ cả
thể đã thực sự xảy ra; mặt trời đã quay cuồng trước sự chứng kiến của tất cả
mọi người có mặt hôm đó.
Đám đông tò mò đến xem hiện tượng Đức Mẹ tái thế.
Rất đông người dân đã chứng kiến cảnh tượng "Mặt trời nhảy múa".
Một vị giáo sư là chứng nhân hiện tượng lạ lùng hôm đó
Ở đây, chúng ta hãy nghe
tiến sĩ José Maria Proença de Almeida Garrett, giáo sư môn khoa học tự nhiên
đại học Coimbra, kể lại những gì ông đã quan sát thấy ở Fatima hôm đó. Vì ông là một giáo sư, nên lời tường trình
của ông rất khả tín và gây được sự chú ý của mọi người:
“Hôm đó, tôi đến nơi vào
giữa trưa. Cơn mưa tầm tã từ buổi sáng
sớm chẳng những không ngớt, mà bây giờ còn bị những trận gió dữ dội thổi ào tới
tấp như muốn làm tràn ngập cả cảnh vật. (…)
Lúc đó vào khoảng 2 giờ chiều. Trong vài
giây lát trước đó, mặt trời còn bị che khuất sau đám mây dày đặc, bỗng chốc nó
chiếu sáng qua đám mây. Mọi cặp mắt đều
hướng nhìn về phía mặt trời như bị một sức mạnh nam châm vô hình nào đó cuốn
hút vậy. Chính tôi cũng nhìn thẳng vào
mặt trời. Nó trông giống như một cái đĩa
sáng rực rỡ, chói lọi, nhưng không làm lóa mắt.
(…) Nhưng mặt trời vào lúc bấy giờ không làm lóa mặt, không giống như
khi chúng ta nhìn nó bị che khuất sau một đám mây. Không, bầu trời lúc bấy giờ hoàn toàn trong
sáng, chứ không hề có một vẩn mây nào che khuất mặt trời cả; nó xuất hiện rõ
ràng giữa bầu trời. Cái đĩa sáng chói
đầy mầu sắc rực rỡ đó không đứng yên, nhưng chuyển động rất nhanh. Và đó không phải là những tia sáng lung linh
phát ra từ các ngôi sao. Cái đĩa lửa
quay tròn với một tốc độ nhanh khủng khiếp, khiến từ đám đông những người có
mặt hôm đó, bỗng chốc vang lên những tiếng kêu la sợ hãi thất thanh. Mặt trời cứ tiếp tục quay tròn như thế cùng
với tốc độ nhanh khủng khiếp tương tự, đồng thời nó tách ra khỏi không trung và
tiến đến gần mặt đất với mầu đỏ máu, mọi cảnh vật như đang sắp sửa bị nghiền
nát dưới độ quay nhanh khủng khiếp của vòng lửa không lồ. (…) Tất cả những hiện tượng này, tôi đã bình
tĩnh quan sát và trình bày ra đây sự nhận xét khách quan của mình, chứ không do
bất cứ sự xúc động nào chi phối cả. Tôi
cũng hoàn toàn chờ đợi sự nhận xét và quan điểm của kẻ khác.”[1]
Phải chăng đám đông bị thôi miên?
Hàng chục ngàn người đều
đổ nhìn về phía mặt trời đang quay lộn kỳ lạ.
Về phép lạ mặt trời quay, có lẽ sẽ có người cắt nghĩa ngay rằng vì đã
được báo từ trước, và đám đông đã đến Fatima với một tâm trạng quá nóng lòng
hồi hộp chờ đợi. Vì thế, khi có một hiện
tượng bất bình thường nào đó nơi mặt trời xảy ra, họ đã vội cho là phép lạ, và
rồi sự công nhận đó cứ lan tỏa ra nhanh trong đám đông một cách vô ý thức như
một dòng điện vậy, tương tự như phản ứng của các khán giả ngồi xem đá banh
trong một sân vận động khi có cầu thủ đá thủng lưới đối phương.
Nhưng sự cắt nghĩa đó sẽ
hoàn toàn trở nên buồn cười và không thể đứng vững được khi sự kiện cụ thể xảy
ra trong thực tế, đó là người ta có thể quan sát và nhìn thấy được phép lạ mặt
trời quay trong chu vi rộng 1550 cây số vuông.
Rất nhiều nhân chứng đã
từ xa chứng kiến được phép lạ mặt trời, lại là những người vô tín ngưỡng, những
người đã từng phê bình và cười chê những khách đến Fatima hôm đó như những kẻ “nhẹ
dạ cả tin.”Trong số những người quan sát được phép lạ mặt trời từ xa, chứ không
có mặt tại Fatima, đã cho ý kiến như sau:
Linh mục Joaquim
Lourenco, hiện là nhà giáo luật học của giáo phận Leiria, nhưng vào lúc xảy ra
phép lạ, hãy còn là một học trò và cùng người anh và các bạn bè của ngài đang
có mặt tại làng Alburitel, cách Fatima vào khoảng 54 km. Tất cả đều tưởng ngày tận thế đã đến.
Cha Lourenco tường thuật
lại như sau: “Tôi nghĩ rằng tôi không đủ khả năng để diễn tả lại những gì chính
tôi đã chứng kiến xưa kia. Tôi nhìn như
dán mắt vào mặt trời để quan sát: Mặt trời có màu nhợt, đến nỗi tôi có thể nhìn
thẳng vào nó mà không bị đau mắt chút nào cả.
Mặt trời vào lúc bấy giờ trông tựa như một quả bóng bằng tuyết, quay
chung quanh cái trục của mình, và bỗng chốc nó như rơi ra khỏi bầu trời, quay
lượn ngoằn ngoèo và tiến sát gần mặt đất với vẻ đầy đe dọa. Vì quá sợ hãi, tôi đã chạy nấp vào phía sau
người lớn đang đứng khóc lóc vì tưởng rằng thế giới trong giây lát nữa sẽ bị
chấm tận. Bên ngoài ngôi trường làng của
chúng tôi, có một đám đông đang tụ họp lại; còn đám học trò chúng tôi thì xô
nhau chạy ra khỏi lớp học và đi xuống đường.
Khi phép lạ bắt đầu xảy ra thì chúng tôi nghe thấy tiếng kêu la của
những người đang đứng đầy ngoài đường phía trước cổng trường, đàn ông cũng như
đàn bà…
Lúc bấy giờ có một người
vô thần, mà cả buổi sáng hôm đó cứ rêu rao lên tiếng chê bai cười nhạo những người
tới Fatima là “những kẻ ngu ngốc,” cốt chỉ để xem một đứa bé gái nhà quê. Nhưng trong suốt lúc xảy ra phép lạ thì ông
ta đứng đờ ra như một người bị bất toại cả thân mình và chỉ đưa mắt cắm chặt
vào mặt trời. Ông ta bắt đầu run rẩy cả
mình mẩy lẫn chân tay, rồi quỳ xuống trên bùn lầy và giơ hai tay lên trời cầu
xin Chúa tha thứ cho mình.”[2]
Bản sao chụp 1 trang của báo Ilustração Portugueza ngày 29/10/1917 cho thấy đám đông dân chúng đang ngẩng nhìn phép lạ Mặt trời, khi Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.
Một hiện tượng không thể cắt nghĩa được
Qua sự trình bày của tất
cả mọi nhân chứng có mắt hôm đó khi xảy ra phép lạ mặt trời quay, người ta có
thể nói được rằng phép lạ cả thể đó có bốn đặc điểm khác nhau:
1. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào một vật
sáng chói lọi, mà họ cho là mặt trời, chứ họ không cần phải đeo kính râm hay
bất cứ phương tiện bảo vệ mắt nào cả.
2. Vừng sáng chói lọi đó đã tỏa ra những tia
sáng mầu sắc rực rỡ xuống trên mặt đất, đến nỗi mọi cảnh vật đều bị nhuộm mầu
hết.
3. Vừng sáng chói lọi rực rỡ đó rơi xuống trên
đám đông.
4. Chỉ trong vòng mấy phút mà cả vùng đất Fatima
đang bùn lầy dơ bẩn, bỗng chốc trở thành khô cứng, và áo quần của đám đông trên
dưới 60 ngàn người từng bị cơn mưa cả buổi sáng làm ướt đẫm, cũng hoàn toàn khô
ráo bình thường.
Đúng vậy, chỉ trong vòng
khoảng 10 phút đồng hồ mà cả mặt đất lầy lội cũng như quần áo ướt át của đám
đông bỗng chốc khô ráo hoàn toàn. Đó quả
là một điều đã minh nhiên nói lên rằng ngoài phép lạ siêu nhiên ra, không thể
tìm ra được lời giải thích theo phương diện tự nhiên được.
Nỗi lo lắng của Mẹ Maria cho con cái loài người
Nếu thánh nữ Têrêxa Hài
Đồng Giêsu đã từng ước ao là khi được về trên trời, thánh nữ sẽ trở thành tình
yêu đầy sáng tạo để cứu giúp mọi người, thì nay Fatima và nhất là phép lạ mặt
trời quay, là một bằng chứng hùng hồn của tình yêu đầy sáng tạo của Mẹ Maria
đối với con cái loài người chúng ta, dĩ nhiên, trên hết là bằng chứng của tình
yêu Thiên Chúa.
Bởi vậy, chúng ta hãy
nghiêm chỉnh đón nhận dấu chỉ của sự lo lắng của Mẹ Thiên Chúa; đúng như lời
chị Lucia đã cảnh báo: “Fatima luôn luôn mang tính cách thời sự cao điểm của
nó.” Bởi vì, đối với Thiên Chúa,
thời giờ là vô tận; nhưng đối với phàm nhân chúng ta, thời giờ luôn có giới hạn
của nó. Và giới hạn đó không ai biết
được dài ngắn, lâu mau. Vì chưa bao giờ
có ai biết được mình sẽ được sinh ra lúc nào, và cũng rất ít ai biết được mình
sẽ chết lúc nào. Ngày tận cùng của mỗi
người sẽ xảy đến một cách bất chợt, không ngờ trước được, tương tự như một kẻ
trộm vậy (x. Mt 24,37-44).Do đó, Đức Giêsu đã căn
dặn chúng ta: “Các con phải canh chừng, phải tỉnh thức, vì các con không biết
khi nào thời ấy đến!”(Mc 13,33).
Nhưng dĩ nhiên, sự tỉnh
thức và canh chừng mà Chúa nói đây, không có nghĩa là sự ngồi chờ cách thụ
động, vô vi; nhưng là một sự tỉnh thức đầy sáng tạo, nghĩa là một sự tỉnh thức
chờ đợi đầy tính năng động mà Mẹ Maria đã chỉ cho chúng ta tại Fatima cách đây
đúng 90 năm về trước. Đó là:
• Mỗi người phải ăn năn
sám hối và cải thiện cuộc sống cá nhân của mình;
• Hằng ngày hãy siêng
năng và sốt sắng lần hạt Mân Côi;
• Tôn sùng Trái Tim Vô
Nhiễm của Mẹ, như Chúa muốn.
Nếu được thế, thế giới
sẽ được hòa bình, nhiều dân tộc sẽ tránh khỏi cảnh bị diệt vong và nhiều linh
hồn sẽ không bị trầm luân trong hỏa ngục đời đời.
LM Nguyễn Hữu Thy
(Nguồn:vietboston.com)
Thứ Tư, 12 tháng 10, 2016
ĐỨC PHẬT DẬY 7 CÁCH BỐ THÍ
Một người nghèo chạy đến phía trước Đức Phật vừa khóc vừa hỏi Ngài:
“Tại sao con làm việc gì cũng không thành công, đó là do duyên cớ gì ạ?”
Đức Phật nói với anh ta: “Đó là bởi vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.”
Đức Phật dạy: “Đều không phải như thế.
Một người cho dù hoàn toàn không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:
Một người cho dù hoàn toàn không có tiền, vẫn có thể cho người khác 7 thứ:
1. Nhan thí – Cho đi bằng nét mặt. Chúng ta có thể cho đi nụ cười niềm nở đến những người xung quanh hàng ngày mà mình gặp trong cuộc sống.
2. Ngôn thí – Cho đi bằng lời nói. Chúng ta có thể nói nhiều những lời nói ấm áp, khiêm nhường, khen ngợi, an ủi, khích lệ, cổ vũ và động viên người khác.
3. Tâm thí – Cho đi bằng tấm lòng. “Sưởng khai tâm phi, thành khẩn đãi nhân”, có nghĩa rằng mở rộng tấm lòng, chân thật, thành tâm đối đãi với người khác.
4. Nhãn thí – Cho đi những ánh mắt, những cái nhìn hiền từ. Dùng ánh mắt thiện ý để nhìn người khác.
5. Thân thí – Cho đi bằng hành động nhân ái. Dùng hành động nhân ái để đi giúp đỡ người khác.
6. Tọa thí – Cho đi bằng nhường chỗ ngồi cho người cần. Khi đi xe hay trên thuyền có thể nhường chỗ ngồi của mình cho người cần.
7. Phòng thí – Bố thí nơi ở: Đem phòng còn trống cho người khác nghỉ ngơi.
Cuối cùng Đức Phật nói: “Cho dù là ai, chỉ cần tập thành 7 thói quen này thì vận may sẽ đi theo “như hình với bóng”!
Đức Phật nói với chúng ta hạnh của bố thí có rất nhiều cách, chỉ cần dùng chân tình và thiện tâm là có thể làm được.
– Ví như trong cuộc sống hàng ngày, mưu sinh kiếm tiền nuôi gia đình, kỳ thực nuôi gia đình cũng là một dạng bố thí!
– Nếu như bạn cảm nhận thấy bản thân là làm trâu làm ngựa, hay kiếm tiền trả khoản nợ nào đó cho người ta, thế thì chính là bạn đang ôm giữ trong lòng một bụng khí oán giận, bạn sẽ cảm nhận thấy cuộc sống rất khổ! Một khi bạn chuyển ý niệm đầu tiên “nuôi gia đình” thành là bố thí, là cho đi, là chăm sóc, nuôi dưỡng, cung phụng; bạn là cần cho gia đình này, gia đình này cần bạn và bạn là đang cho đi, đang bố thí, đang cung phụng nuôi dưỡng mọi người trong nhà, khi đó bạn sẽ cảm thấy ấm áp nhẹ nhàng và vui vẻ thoải mái.
– Đây chính là giác ngộ và trong mê, tỉnh và thức, khi mê thì thấy rõ ràng xác thực là như bị đòi nợ, trả nợ, một khi giác ngộ ra rồi thì không phải là đòi nợ, trả nợ nữa mà là thực hành bố thí, cung phụng phụng dưỡng cho đi.
– Đừng tưởng rằng đến đền chùa bỏ một chút tiền vào đó mới là bố thí, bởi vì trong vô lượng phương diện bố thí thì bạn mới chỉ hiểu được có một mặt. Bạn có biết rằng, trong cuộc sống thường nhật hàng ngày, hết thảy các hành động và việc làm của chúng ta đều là bố thí, là cung phụng, phụng dưỡng.
– Thí dụ như bạn sắp xếp thu dọn nhà cửa gọn gàng, ngăn nắp, sạch sẽ giúp cho cuộc sống những người trong cả nhà được thoái mái, dễ chịu, thì chính là bạn đang tu dưỡng bố thí trong gia đình. Bạn là đang thực hành hạnh Bồ Tát Đạo! Tại công ty bạn tận lực tận tâm làm việc đó là hạnh bố thí trong công việc, và là cung phụng, cung dưỡng đối với xã hội.
– Chúng ta có đủ khả năng khởi lên những niệm đầu này, chúng ta sẽ sống tự tại!
– Chúng ta vất vả chăm chỉ làm việc, có thể tính là không nhận được quyền lợi gì tới mình, nhưng cũng sẽ không còn cảm thấy khó sống, tại sao lại thế ? Bởi vì chúng ta bằng sức lao động và bằng chính thể lực, trí tuệ của bản thân mình để bố thí, cung phụng, phụng dưỡng cho người, cho nên tâm chúng ta hoan hỷ hài lòng và sẽ vô cùng vui vẻ.
– Chúc bạn có thể tu thành hạnh bố thí, cung phụng. Trên bề mặt trước mắt nếu mà bạn có thể chưa thấy ngay được phúc báo, nhưng rồi quả của nó sẽ báo đáp không thể nghĩ bàn.
Tác giả: Theo Letu.life | Dịch giả: Tâm Nguyễn
(Nguồn : vietdaikynguyen.com/v3/)
Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016
BẢN ÁN ĐẶC BIỆT CỦA QUAN TÒA CHO BÀ CỤ PHẠM TỘI ĂN CẮP
Trong phòng xử án, chủ tọa trầm ngâm suy nghĩ trước những cáo buộc của các công tố viên đối với một cụ bà vì tội ăn cắp tài sản. Bà bị buộc phải bồi thường 1 triệu Rupi.
Lời bào chữa của bà lý do ăn cắp vì gia đình bà rất nghèo và không có gì để ăn, đứa con trai bị bệnh, đứa cháu thì suy dinh dưỡng vì đói…
Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng sắn nói bà ta cần phải bị xử tội nghiêm minh như những người khác.
Thẩm phán thở dài và nói :
– Xin lỗi, thưa bà…
– Ông ngưng giây lát, nhìn ngắm bà cụ đói khổ
– Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn sắn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi.
Nhưng ông chủ quản lý khu vườn trồng sắn nói bà ta cần phải bị xử tội nghiêm minh như những người khác.
Thẩm phán thở dài và nói :
– Xin lỗi, thưa bà…
– Ông ngưng giây lát, nhìn ngắm bà cụ đói khổ
– Nhưng pháp luật là pháp luật, tôi là người đại diện của Pháp luật nên phải xử nghiêm minh. Nay tôi tuyên phạt bà bồi thường 1 triệu Rupiah cho chủ vườn sắn. Nếu bà không có tiền bồi thường, bà buộc phải ngồi tù 2 năm rưỡi.
Bà cụ run run, rướm nước mắt, bà đi tù rồi thì con cháu ở nhà ai chăm lo. Thế rồi ông thẩm phán lại nói tiếp:
– Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toàn này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật.
Nói xong, ông cởi mũ của mình ra và và bỏ vào 50.000 Rupi rồi đưa cho cô thư ký :
– Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo.
– Nhưng tôi cũng là người đại diện của công lý. Tôi tuyên bố phạt tất cả những công dân nào có mặt trong phiên toàn này 50.000 Rupiah vì sống trong một thành phố văn minh, giàu có này mà lại để cho một cụ bà ăn cắp vì cháu mình bị đói và bệnh tật.
Nói xong, ông cởi mũ của mình ra và và bỏ vào 50.000 Rupi rồi đưa cho cô thư ký :
– Cô hãy đưa mũ này truyền đi khắp phòng và tiền thu được hãy đưa cho bị cáo.
Cuối cùng, bà cụ đã nhận được 3,5 triệu Rupi tiền quyên góp, trong đó có cả phần đóng góp từ các công tố viên đã buộc tội bà trước đó, một số nhà hảo tâm khác còn trả giúp 1 triệu Rupi tiền bồi thường, bà lão run run vì vui sướng. Thẩm phán gõ búa kết thúc phiên toà trong niềm hạnh phúc của tất cả mọi người.
Đây là một phiên tòa xử nghiêm minh và cảm động nhất mà tôi được biết, vì tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm với cuộc sống xung quanh chúng ta, vị thẩm phán đã không chỉ dùng luật pháp mà còn dùng cả trái tim để phán xét.
http://senvangtv.com/
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)