Thứ Sáu, 9 tháng 12, 2016

TỪ CẬU BÉ SINH HOẠT PHONG TRÀO HÙNG TÂM ...ĐẾN ƠN GỌI LINH MỤC MỘT ĐỜI

                                                                                        LM. An tôn Nguyễn Trường Thăng 

Ngày nay tại Giáo phận Đà Nẵng, nói đến Phong trào giới trẻ Hùng Tâm Dũng Chí, đa số lại nghĩ đến linh mục Antôn Bùi Hữu Ngạn, Antôn Trần Văn Trường, Giuse Đinh Công Hạnh, Giuse Nguyễn Trung Thành….những người đã phát triển phong trào mạnh mẽ tại vùng đất này thập niên 1960 và kết thúc tháng 3 năm 1975.


Ngày đó nhà in Thanh Tâm, An Hòa, đã cho xuất bản rất nhiều sách huấn luyện hội đoàn và tại Huế cũng ra đời nhiều bài ca hùng tráng thôi thúc giới trẻ dấn thân vì Chúa, vì Giáo hội.
Thực ra Phong trào du nhập rất sớm vào vùng Sài Gòn.Hà Nội năm 1942, với các linh mục lừng danh như cha Anton Bùi văn Nho, giáo xứ Ngã sáu (Jeanne d’Arc) Chợ Lớn. Là chủng sinh Qui Nhơn theo học tại Đại chủng viện Thánh Giuse, Đại Lộ Luro, Đại chủng sinh năng động thầy Nguyễn Văn Ban (?), có lẽ gốc Rừng Lai, Ninh Thuận, chắc hẳn rất hứng thú với phong trào giới trẻ này nên khi đi giúp xứ Trà Kiệu vào năm 1949, 1950, thầy Ban đã xin thừa sai Pierre Jeanningros Vị, MEP, cho phép thành lập hội đoàn Hùng Tâm (Coeurs Vaillants) . Vào thời đó, việc “nam nữ thọ thọ bất thân” vẫn còn rất nặng. nên không có nhóm con gái Dũng chí (Ames Vaillantes).
Tại Giáo xứ An Ngãi, linh mục trẻ vừa từ giáo đô Roma về, Giuse Lê Văn Ấn, cũng rất ấn tượng với hội đoàn mới lạ này nên cho phép thí nghiệm.
Cậu bé Antôn, 7 tuổi, rước lễ lần đầu năm 1949, là thành phần nhỏ tuổi nhất trong đoàn Hùng Tâm giáo xứ An Ngãi, một đoàn hỗn hợp từ người đã có gia đình, thanh niên và thiếu nhi. Đòan không có đồng phục, ngoại trử một chiếc khăn quàng và beret đen.
Mùa hè 1951, tại Lăng Cô, hai đoàn Trà Kiệu và An Ngãi gặp nhau. Đòan Hùng Tâm Trà Kiệu đông đảo, với thầy Ban thủ lĩnh, với đồng phục, cờ đoàn, trống phách, kỷ luật, hát xướng, lửa trại …rất bài bản. Trong khi đó, đoàn An Ngãi rất “tả pín lù”, đi picnic, du ngoạn, vui chơi, thưởng thức đặc sản là chính.Thời ấy, rừng còn phủ quanh ga Lăng Cô, biển , đập Lập An đầy cá…Đứng trên cầu sắt Lăng Cô nhìn xuống làn nước trong xanh là hàng trăm con cá to nào cá hồng, cá mú bơi lượn…cảnh chỉ còn trong giấc mơ. Tụi nhỏ 9, 10 tuồi tha hồ ăn hải sản… hơi buồn, xấu hổ vì thấy nhóm mình thua xa đoàn Trà Kiệu.
Từ cuộc gặp gỡ đó, các anh phụ trách trở về phúc trình với cha sở Giuse Ấn, ngài tức tốc cho phép cải tổ. Đồng phục Hùng Tâm với áo trắng cụt tay, quần short xanh nước biển, dép cao su trắng có quai, mũ beret đen có gắn phù hiệu thánh giá Hùng tâm. Cha sở, nhân dịp ra Bắc, đã đặt thêu một lá cờ đoàn màu sắc tuyệt đẹp và những dây trang trí ngũ sắc tại một tiệm thêu nổi tiếng Phát Diệm. Giáo xứ An Ngãi may mắn đón một thầy xứ gốc dòng Thánh Giuse Kim Châu, thầy Jean, đến giúp xứ. Người nhỏ nhắn, nghiêm khắc nhưng có rất nhiều tài. Thầy giúp đoàn Hùng Tâm lột xác với nhiều sinh hoạt. Sáng sớm ngày Chúa Nhật, đoàn tập hợp tập thể dục, sinh hoạt, tập hát…sau đó về nhà, tắm rửa, thay đồng phục, xếp hàng vào nhà thờ dâng lễ (thời đó chỉ có một thánh lễ Chúa nhật, thường vào lúc 9 giờ và kéo dài đến 11 giờ). Bài giảng, cha sở đứng trên giảng đài, thao thao bất tuyệt ít nhất 45 phút, thỉnh thoảng xen vài câu tiếng La tinh “xí lô xí là”. Tụi nhỏ ra về xụi lơ vì luật giữ chay rước lễ thời đó. “Từ nửa đêm cho đến khi chịu lễ chẳng nên ăn uống vật gì, một hãy giữ lòng sạch sẽ mà rước Mình Thánh Chúa”. Mà đâu có phải từ nữa đêm, vào thời đó chạng vạng là đã ăn tối, khoảng 7 giờ tối là “tắt đèn đi ngủ” rồi. Các cô và cậu nhỏ phải nhịn đói gần 15 tiếng đống hồ đấy. Vậy mà rất vui vẻ giữ đạo. Từ đó, đoàn Hùng Tâm được coi trọng. Đòan dẫn đầu các cuộc rước kiệu, nhất là khi thầy Jean sáng tạo được bộ trống con, trống cái….mặt trống gồm giấy xi măng dán hồ nhiều lớp, nhưng khi trang trí râu ria, không khác gì giàn trống lính Lê Dương. Gặp trời nắng, gõ bon bon, khí thế, nhưng khi trời mưa…thật là thảm họa, phải làm lại tất cả (ngày đó 1950 đâu có bao ni lông để che mưa). Đoàn Hùng Tâm còn tỗ chức những đêm lửa trại giúp vui, những ngày lễ Giáng Sinh với thiên thần hiện xuống tay cầm pháo hoa…đẹp tuyệt vời, hay những con trâu to thay lạc đà chở của ba vua cùng đoàn tùy tùng, đi viếng Chúa Hài đồng.
Năm 1953, cậu bé Antôn phải xa rời đoàn để xuống Đà Nẵng học hành thêm tiếng Tây và tiếng La Tinh giúp lễ “Ách Đê Um lê ti phi cách giu vên tu têm mê am” (Ad Deum laetificat juventutem meam), chuẩn bị vào Tiểu Chủng viện Nha Trang vào năm 1954.
Mấy năm vắn või sống với đoàn Hùng Tâm An Ngãi đã để lại dấu ấn khó phai mờ trong lòng cậu bé Antôn. Những bài hát thời đó như Hướng về Vatican với những lời ca : “Ta xin thề, ta theo Vua Giêsu mà tranh đấu….quyết theo Chúa trên đường cao sáng, sống dương gian không màn thế gian”. Những bài ca sinh hoạt hội đoàn rất ít, phải thêm các bài tiếng Tây như  Frère Jacques,dormez vous, sonnez les matines…và các bài từ Sài Gòn. “Chèo đi bơi đi, nước trong đang chờ ta….mà hát vang lên cho lòng hăng hái”. “Ngày đẹp tươi ta hãy cứ cười… cười cùng muôn chim chuyền cành hót … Ngày sầu đau ta hãy ráng cười, can chi giọt lệ mãi nhỏ sa….” đã ảnh hưởng sâu đậm tuổi thơ cậu bé Antôn.
Nhờ sống phong trào Hùng Tâm trong thời gian ngắn, cậu đã cố gắng phục vụ Chúa, Giáo hội và con người suốt cả cuộc đời.
Sau Trà Kiệu, An Ngãi là các đoàn Phú Thượng, Cồn Dầu. Tourane (Đà Nẵng)…
Từ thập niên 1960, phong trào Hùng Tâm Dũng chí bùng phát mạnh> Con số lên trên 30.000 tại nhiều giáo phận. Từ phong trào Hùng Tâm Dũng chí có ai thống kê bao nhiêu linh mục, nữ tu, giáo hữu nam nữ nhiệt thành…xuất thân từ Hội đoàn quí giá này? Họ đã trở thành những lãnh đạo khắp nơi trong các Giáo phận tại Việt Nam, nhất là những vùng kinh tế không có linh mục và sau đó trên thế giới
Mong các vị Giám mục Việt Nam hỗ trợ cho việc hồi sinh giai đoạn 3 cho Hội đoàn này, bắt đầu tại Giáo phận Đà Nẵng nơi đã được tái lập nhưng xem ra còn èo uột do thiếu lãnh đạo.
Xin quý cha Antôn Trường, Giuse Hạnh, Giuse Thành… giúp cập nhật hóa cẩm nang Phong trào mà tên gọi Hùng Tâm (Coeurs Vaillants) và Dũng Chí (Ames Vaillantes) đã biến mất trên thế giới để thay vào một từ rất rộng, rất mơ hồ   Phong trào Quốc tế Tông đồ Thiếu nhi (Mouvement International d’Apostolat des Enfants, viết tắt là M.I.D.A.D.E.).

(Nguồn :https://antontruongthang.com)

Thứ Năm, 8 tháng 12, 2016

ĐOÀN HÙNG TÂM CỦA TRƯỜNG TABERD , BẢO LỘC (1957-1974)



Vài dòng giới thiệu

Đoàn Hùng Tâm là một tổ chức thiếu niên Công giáo, xuất xứ từ Pháp với đường hướng giáo dục theo châm ngôn:
Với Hùng Tâm không gì khó
À cœur vaillant rien d’impossible - Jacques Coeur.
Tại Taberd, chúng tôi không biết đoàn Hùng Tâm chính thức hoạt động vào năm nào (xin các Huynh trưởng và đoàn viên cũ bổ sung thêm). Đa số anh em chúng tôi tham gia vào khoảng 1968 dưới sự lãnh đạo của SH Thanh Trung. Kế tiếp là SH Ephrem Trần Ngọc Tú và SH Martial Lê Văn Trí. Đoàn Hùng Tâm Taberd giải tán vào năm 1974 do thiếu người lãnh đạo.
Cũng giống như học sinh Taberd, một số tương đối lớn các bạn đoàn viên Hùng Tâm Taberd không phải là Công giáo. Sinh hoạt của đoàn Hùng Tâm chủ yếu là rèn luyện tinh thần đồng đội và hướng thiện qua việc tập luyện kỷ năng, sinh hoạt, cắm trại, tham gia cứu trợ, v.v.
Lời chào: Nhất trí, Đồng tâm
Khẩu hiệu: Với Hùng Tâm không gì khó, cái khó để thắng, càng khó càng hay.
Bài ca đoàn: sẽ bổ sung sau
Đây là một số hình ảnh từ các cuốn kỷ yếu và từ các ảnh chúng tôi còn giữ lại được về các sinh hoạt của đoàn Hùng Tâm Taberd.
(Nguồn: taberd.org)

Niên học  1957-1958
Niên học 1958-1959
Niên học 1959-1960(1)

Niên học 1959-1960(2)

Niên học 1960-1961(1)







Niên học 1969-1970












(Hình ảnh của : taberd.org)

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2016

HÙNG TÂM DŨNG CHÍ PHỦ CAM , TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ (HẢI NGOẠI)







Đoàn Hùng Tâm Dũng Chí và Thánh Lễ Tạ Ơn ngày 06-8-2009 tại Phủ Cam


               Hằng năm, vào ngày Lễ Bổn Mạng của Đoàn Hùng Tâm Dũng Chí, Lễ Chúa Giêsu Hiển Dung (ngày 06 tháng 8), các đoàn viên nam nữ của Phong trào Hùng Tâm Dũng Chí của Giáo phân Huế, có buổi gặp mặt nhau tại một địa điểm. Trong dịp nầy, họ tham dự Thánh Lễ để tạ ơn Chúa, quây quần bên nhau để mối giây liên kết giữa họ được bền chặt thêm, và thúc giục nhau luôn sống theo lý tưởng Phúc Âm của Phong Trào Hùng Tâm Dũng Chí.
Năm 2009 nầy, cuộc họp mặt diễn ra tại giáo xứ Chánh Toà Phủ Cam.
Anh chị em Hùng Tâm Dũng Chí có mặt đông đủ. Nhiều linh mục cựu tuyên úy của Đoàn Hùng Tâm Dũng Chí cũng có mặt trong dịp nầy: linh mục Giuse Lê Viết Phục, linh mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Cao, linh mục Gioan Baotixita Lê Quang Quý, linh mục Emmanuen Nguyễn vinh Gioang.
 Trong Thánh Lễ Tạ Ơn tại Nhà Thờ Chánh Toà Phủ Cam, linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang có bài suy niệm sau đây.
+++
Hùng Tâm là Tâm Hồn mạnh mẽ.
Dũng Chí là Chí Khí can trường!
          Anh Chị Em Hùng Tâm Dũng Chí thân mến,
          Trong Thánh lễ hôm nay, cộng đoàn phụng vụ chúng ta thật là đặc biệt: từ chủ tế đến người tham dự, đều là Hùng Tâm Dũng Chí.
Linh mục chủ tế, đã từng là Cha Tuyên Úy Hùng Tâm Dũng Chí. Cộng đoàn tham dự, đều là những người đã sống trong đoàn Hùng Tâm Dũng Chí.
Tất cả đều có những thời hoạt động Hùng Tâm Dũng Chí với nhau trên nhiều miền đất của Giáo Phận Huế, và đặc biệt là trên đất của Giáo xứ Chánh Toà Phủ Cam nầy.
          Vì là Hùng Tâm Dũng Chí, chúng ta biết rõ về tổ chức của chúng ta.
          Sau trận Đại Chiến Thế Giới lần thứ hai (1939-1945), các thanh thiếu niên ở các nước Âu châu, nhất là nước Pháp, cảm thấy đời mình tan nát rã rời từ thể chất đến tinh thần: nhiều em bơ vơ, không biết nương tựa vào ai vì các em đã thất lạc gia đình. Có em mất cha. Có em mất mẹ. Có em bệnh hoạn, tàn tật. Vì thế, các thanh thiếu niên nầy sống cuộc đời vô vọng, kết bè kết phái, đi lang thang, cướp bóc, đập phá, chơi bờ, phóng túng.
Tuy sau chiến tranh, chính phủ nào cũng tìm cách để phục hồi kinh tế, lo sao cho dân chúng được có ăn, có mặc. Nhưng con người đâu chỉ có ăn, có mặc là thoả mãn. Trường hợp các thanh thiếu niên lúc đó cũng vậy: các em cần được nâng đỡ bằng tình yêu chân thành và vô vị lợi; các em cần có lý tưởng cao cả và đại độ để xây dựng một cuộc đời tốt đẹp, mới mẽ.
Trong hoàn cảnh đen tối nầy, Chúa quan phòng sắp đặt cho có một linh mục dấn thân vào công việc giáo dục giới trẻ: đó là Cha Gaston Courtois, một linh mục người Pháp.
Theo gương thánh Gioan Bosco, cha Gaston Courtois ân cần săn sóc các thanh thiếu niên, hết tình yêu thương các em, tìm cách hướng dẫn các em trong nhiều buổi sinh hoạt thoải mái, hùng mạnh và đạo đức.
Lúc đó, có những người tâm huyết, vì ý thức mối nguy hại của giới trẻ đang sa sút, nên đại độ cộng tác với cha Gaston Courtois để lo việc giáo dục thanh thiếu niên. Nhờ thế, nhiều thanh thiếu niên sống đẹp tuổi xuân của mình. Các em tìm lại được niềm hy vọng trong cuộc sống. Các em biết xây dựng lại cuộc đời của mình theo lý tưởng cao đẹp. Thế làPhong trào “Hùng Tâm Dũng Chí” ra đời, và chẳng mấy chốc, lan rộng khắp năm châu.
          Bài học của Hùng Tâm dũng Chí để lại cho chúng ta, là sự mạnh mẽ, sự hùng dũng, để tự giáo dục mình và giáo dục các thiếu nhi. Đó là bài học: trong cuộc sống, hãy luôn mang lấy một tâm hồn mạnh mẽ, hãy luôn nuôi dưỡng một chí khí can trường.
Chúa Giêsu, tuy đem lại sự bằng an cho nhân loại, tuy rao giảng sự yêu thương, tha thứ, dịu dàng, và Ngài đã để gương lại cho chúng ta trong những đức tính nầy, nhưng Ngài đã sống một cuộc đời vô cùng mạnh mẽ.
Bắt đầu truyền đạo, Chúa Giêsu lên rừng vắng cầu nguyện.
Khi bị ma quỷ cám dổ, Ngài quyết liệt chống trả đến cùng.
Ngài cương quyết lột mặt nạ sự giả hình và sự kiêu ngạo của quyền thế.
Ngài thẳng tay dẹp bọn buôn bán giàu có ra khỏi đền thờ.
Ngài khiển trách các môn đệ khi họ tranh giành nhau chổ lớn, khi họ nhát gan trong cơn bảo táp, khi họ khoe khoang trong lúc đi giảng về. N
Ngài đã rước lấy cái chết tủi nhục vì đã cương quyết chống lại cái thế giới đầy ích kỷ, bất công và tội lỗi nầy.
Chúng ta hãy luôn bắt chước Chúa Giêsu để sống cuộc đời mạnh mẽ, để sống cuộc đời hùng tâm dũng chí, để quyết liệt chiến đấu với sự dữ quanh ta và nhất là ở trong ta.
Để sống mạnh mẽ, chúng ta hãy luôn tìm cách chế ngự những đam mê dục vọng hổn loạn của mình. Chúng ta hãy tìm cách chống trả lại mọi cơn cám dổ của ma quỷ và mọi quyến rủ của trần thế. Chúng ta hãy tìm cách sống đạo đức trong mọi hoàn cảnh lớn nhỏ của đời mình. Chúng ta hãy tìm cách khinh chê những sự nhạo báng của loài người để hiên ngang xưng đức tin khắp nơi, tìm cách nhẫn nại chịu đựng mọi thử thách và đau khổ, tìm cách hy sinh tất cả để thà chết chẳng thà phạm tội mất lòng Chúa.
             Theo lời ca của một bài hát của Hùng Tâm Dũng Chí ngày trước, cha chúc anh chịn em Hùng tâm Dũng Chí:
             Hùng Tâm Dũng Chí, ta ngắm đích cao mà đi. 
             Theo cờ Thánh Giá bay phất phới trên đường xa. 
             Cùng nhau hăng hái bước đi trên mọi con đường khó nguy.
             Ta đem Phúc Âm chiếu soi cho khắp sơn hà. Amen.
                                                Cao Quý
(Nguồn : tonggiaophanhue.net)

Chủ Nhật, 4 tháng 12, 2016

HÃY SÁM HỐI


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG NĂM A - 4/12/2016
                                                                     
                                                                                       Lm. JB. Hoàng Văn Khanh
.........
Lời rao giảng của Gioan gồm tóm trong câu:Hãy sám hối. Các ngôn sứ thời Cựu ước luôn mời gọi mọi người hãy trở về với Thiên Chúa để được tha thứ. Khi bắt đầu sứ vụ, Chúa Giêsu cũng tha thiết mời gọi hãy sám hối (Mc 1,15). Ngài truyền cho các Tông đồ hãy đi rao giảng để mọi người sám hối mà nhận lãnh ơn tha tội (Lc 24,47).
Hoán cải là sự thay đổi tận căn và toàn diện: từ não trạng, tư tưởng đến bản thân, hành động và cuộc sống. Cuộc trở lại nào cũng đòi phải chiến đấu cam go, cho đến lúc được Chúa chiếm hữu qua những thanh luyện. Chướng ngại lớn nhất của hoán cải là tính kiêu căng, sự tự mãn cho mình là công chính không cần ơn cứu độ, là mãi mê với sự đời và hưởng thụ vật chất. Gioan đã tuyên bố cách đanh thép: “Hãy làm việc lành chứng tỏ lòng sám hối. Lưỡi rìu đã kề sẵn gốc cây. Cây nào không sinh quả tốt, sẽ bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,7-10). Ông Giakêu đã thật sự hoán cải khi sẵn sàng đền bù gấp bốn cho những ai bị ông làm thiệt hại, bố thí phân nữa tài sản cho kẻ nghèo và từ bỏ tất cả để theo Chúa Giêsu (Lc 19,8). Hoán cải theo sấm ngôn Isaia là lấp đầy những hố sâu của lòng ích kỷ, tham vọng và hưởng thụ, là bạt đi những đồi cao của kiêu căng tự mãn, là uốn cho ngay những quanh co lươn lẹo trong tư tưởng và hành động dối trá, để có thể đón nhận Đấng Cứu thế và sống tình liên đới huynh đệ với mọi người.

Hãy hoán cải. Hãy thành tâm trở về với Chúa, nổ lực tìm kiếm Người, nhiệt thành đáp ứng lời mời gọi sám hối bằng việc thực thi đức bác ái là giềng mối trọn lành (Cl 3,14) và là sự chu toàn mọi lề luật (Rm 13,10). Đó là điều kiện tiên quyết để dọn đường Chúa đến trong tâm hồn và đời sống của mình và của mọi người.


Thứ Bảy, 3 tháng 12, 2016

THÁNH LM. PHANXICÔ XAVIE



Thánh Lm Phanxicô Xavie (Francis Xavier), vị Đại Thánh bổn mạng các xứ truyền giáo, trong đó có Việt Nam, được Giáo Hội mừng kính ngày 3-12 hàng năm, và cũng là ngày giỗ của ngài, vì ngài mất ngày 3-12-1552.


Ngài sinh ngày 7-4-1506 tại Xavier, thuộc Vương quốc Navarre (nay là Tây Ban Nha). Tên khai sinh của ngài là Francisco de Jasso y Azpilicueta. Ngài là con út của ông Juan de Jaso, cố vấn riêng của Vua John III (Jean d’Albret, cai trị Navarre) và bà Doña Maria de Azpilcueta y Aznárez. Ngài có bà con với thần học gia và triết gia Martín de Azpilcueta danh tiếng.

Ngài là học trò của Thánh Inhaxiô Loyola (lập Dòng Tên, Society of Jesus -= SJ), đồng sáng lập viên của Dòng Tên, là nhà truyền giáo và là một trong bảy tu sĩ đầu tiên của Dòng Tên tại Montmartre năm 1534. Ngài làm trưởng nhóm truyền giáo tại Á châu. Ngài có công truyền bá và duy trì Công Giáo ở Ấn Độ, kể cả Nhật, Borneo, quần đảo Maluku, và những vùng chưa có dấu chân các nhà truyền giáo. Tại những vùng này, ngài tiên phong và cố gắng học tiếng bản xứ, ngài thành công nhất ở Ấn Độ. Thật lòng ngài muốn tới Việt Nam, nhưng Chúa có kế hoạch khác, nên Việt Nam không được đón tiếp ngài.

Năm 1525, ngài học ĐH Sainte-Barbe ở Paris (Pháp). Năm 1530, ngài nhận bằng thạc sĩ văn chương và dạy triết học Aristotes tại ĐH Beauvais, tương lai rộng mở, danh vọng hứa hẹn. Ngài gặp Inhaxiô Loyola và Pierre Favre tại ĐH Sainte-Barbe. Thánh Inhaxiô đặt vấn đề với ngài: “Nếu người ta được cả thế giới  mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16:26). .
Thế là ngài bỏ tất cả để đi tu và làm linh mục, rồi tình nguyện đi truyền giáo .

Thánh Inhaxiô cùng với Thánh Phanxicô Xavie và năm anh em khác thành lập Dòng Tên ngày 15-8-1534 tại một nhà nguyện ở Montmartre, cùng nhau khấn đức nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời khấn hoán cải người Hồi giáo ở Trung Đông. Dòng Tên đã được Đức Giáo Hoàng phê chuẩn, khi đó tu sĩ Phanxicô Xavie tới Venice (Ý) để thụ phong linh mục vào ngày 24-6-1537. Đến cuối tháng 10, bảy anh em tới Bologna và cùng làm việc trong một bệnh viện địa phương. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie phục vụ một thời gian ngắn tại Rôma với tư cách thư ký của Thánh Inhaxiô. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie dành phần nhiều cuộc đời để truyền giáo tại Á châu, chủ yếu qua lại bốn nơi là Malacca, Amboina, Ternate (Nhật) và Trung Hoa.

Ngài rời Lisbon ngày 7-4-1541 lúc ngài 35 tuổi, đi cùng hai tu sĩ Dòng Tên khác. Từ tháng 8-1541 tới tháng 3-1542, ngài tới Goa, lúc đó là thủ phủ của Ấn Độ (thuộc địa của Bồ Đào Nha), ngày 6-5-1542, 35 tháng sau khi rời Lisbon. Mùa Xuân năm 1545, Lm Phanxicô Xavie đi Malaca (cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha). Khoảng tháng 1-1546, ngài rời Malacca đi quần đảo Maluku, nơi ngài truyền giáo 1 năm rưỡi cho dân đảo Ambon. Ngay sau lễ Phục Sinh năm 1546, ngài trở lại Malacca.

Tháng 12-1547, tại Malaca, Lm Phanxicô Xavie gặp một người Nhật tên là Anjirō. Chính Anjirō cũng đã nghe nói về Lm Phanxicô Xavie từ năm 1545. Sau khi bị kết tội sát nhân, Anjirō trốn khỏi Nhật. Ông hết nói với Lm Phanxicô Xavie về quá khứ của mìn, về văn hóa và văn chương Nhật. Anjiro làm thông dịch cho Lm Phanxicô Xavie để giao tiếp với người Nhật. Và rồi Anjirō trở thành Kitô hữu người Nhật đầu tiên và lấy tên là Paulo de Santa Fe.

Sau khi qua đời, thi hài Thánh Phanxicô Xavie được an táng trên đảo Shangchuan. Thàng 1-1553, người ta khai quật mộ ngài và thấy thi hài ngài còn nguyên vẹn. Rồi người ta đưa thi hài ngài tới Nhà thờ Thánh Phaolô tại đảo Malaca vào ngày 22-3-1553. Ngày 11-12-1553, thi hài ngài lại được chuyển tới Goa. Hòm thánh tích của ngài được chuyển tới Nhà thờ Chúa Giêsu Giáng Sinh tại Goa từ ngày 2-12-1637.

Cánh tay phải, đã từng chúc lành và rửa tội cho nhiều người, được Tổng bề trên Claudio Acquaviva tách ra từ năm 1614 để trưng bày cho mọi người kính viếng tại Nhà thờ Il Gesù ở Rôma. Cánh tay trái của ngài được đưa về Macau. Cuối cùng được chuyển tới Nhà thờ Thánh Giuse năm 1978, rồi lại chuyển tới Nnha2 nguyện Thánh Phanxicô Xavie trên đảo Coloane. Mới đây, thánh tích của ngài được chuyển tới Chủng viện Thánh Giuse và Viện bảo tàng Nghệ thuật Thánh (Sacred Art Museum).


Lm Phanxicô Xavie được ĐGH Phaolô V tôn phong chân phước ngày 25-10-1619, và được ĐGH Grêgôriô XV tôn phong hiển thánh ngày 12-3-1622, cùng với Thánh Inhaxiô Loyola. Cuối cùng, ĐGH Piô XI tôn phong Thánh Phanxicô Xavie làm bổn mạng các xứ truyền giáo (Patron of Catholic Missions).

 Nguyễn Trung Thành