Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2017

CHÚA TỎ MÌNH RA CHO NHỮNG TÂM HỒN THIỆN CHÍ


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT CHÚA HIỂN LINH  -  NĂM A      8/1/2017 

                                                                       ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt.

Bài Tin Mừng hôm nay đưa ra những chi tiết tương phản lạ thường.
Tương phản giữa Giêrusalem và Bêlem: Giêrusalem, thủ đô hoa lệ, trung tâm văn hoá chính trị của nước Do thái, nhưng đã khước từ, không đón tiếp Đấng Cứu thế. Trong khi đó, Bêlem, một thị trấn bé nhỏ, nghèo nàn lại là nơi đón tiếp Đấng Cứu thế hạ sinh.
Tương phản giữa những người có đạo và những người ngoại đạo: Các bậc chức sắc thông thạo Kinh thánh, nhưng chỉ ngồi im tại kinh thành, không chịu lên đường, nên không gặp được Đấng Cứu thế. Trái lại, ba nhà đạo sĩ mà ta quen gọi là Ba Vua, là những người ngoại đạo, không am tường Kinh thánh, nhưng đã biết tìm tòi học hỏi, dấn thân lên đường, nên đã gặp được Chúa.
Tương phản giữa Vua giả và Vua thật: Hêrôđê được gọi là Vua, nhưng lại cứ nơm nớp lo âu, sợ mất ngai vàng, nên tìm cách tiêu diệt người khác. Trong khi đó, Đức Giêsu Kitô, Vua Trời lại thản nhiên bình an trong cảnh khó nghèo, mở rộng vòng tay đón tiếp mọi người xa gần.
Tất cả những tương phản ấy đáng cho ta suy nghĩ. Đấng Cứu thế không đến theo cơ chế, nhưng rất bất ngờ. Người không đến trong những cung điện sang trọng nhưng đến trong một chuồng bò tăm tối, hôi tanh. Người không đến trong quyền lực nhưng trong sự yếu đuối, khiêm nhường.
Tất cả những tương phản ấy khiến ta phải lo sợ. Không phải cứ có đạo là gặp đựơc Chúa. Không phải cứ giỏi giáo lý là biết Chúa. Muốn gặp được Chúa phải có thiện chí đi tìm. Muốn biết Chúa, phải dấn thân lên đường.
Ba Vua là những người ngoại đạo đến từ rất xa, nhưng đã trở nên gương mẫu cho ta trong việc đi tìm và hiểu biết Chúa. Các Ngài là những tâm hồn thiện chí.
Là những tâm hồn thiện chí, luôn luôn khao khát điều lành, nên các Ngài luôn để tâm tìm kiếm. Đêm đêm ngước mắt lên trời cố dò tìm dấu vết thần linh. Chắc chắn không phải chỉ trong phút chốc mà các Ngài phát giác ra ngôi sao lạ, nhưng phải trải qua nhiều năm tháng kiên trì chiêm ngắm bầu trời, cặn kẽ theo dõi đường chuyển dịch của các vì tinh tú, các Ngài mới có thể nhận biết ngôi sao lạ khi nó xuất hiện.
Việc đi theo ngôi sao lạ cũng không giản đơn. Trước hết việc lên đường đòi phải ra khỏi nhà, giã từ những tiện nghi dễ chịu, từ bỏ những sinh hoạt quen thuộc, chấp nhận những thiếu thốn, những nguy hiểm, những bất tiện trên đường đi. Thiện chí của các Ngài rất cao, nên khi ngôi sao biến mất, các Ngài vẫn không nản lòng bỏ cuộc, nhưng tìm mọi cách vượt qua khó khăn, tìm mọi cách để đến gặp được Chúa. Chúa đã chúc lành cho thiện chí của các Ngài, nên đã cho các Ngài được gặp Chúa.
Đời sống chúng ta là một cuộc đi tìm Chúa. Trong cuộc đi tìm, ta phải có thiện chí như Ba Vua, biết dấn thân lên đường, biết phấn đấu chấp nhận hy sinh gian khổ, biết kiên trì không nản lòng bỏ cuộc khi gặp thử thách.
Ba Vua không thể đến với Chúa nếu không có ngôi sao dẫn đường. Hôm nay, Chúa muốn mỗi người chúng ta là một ngôi sao lạ, loan báo tình thương của Chúa, đưa dẫn những tâm hồn thiện chí đến với Chúa. Hãy là ngôi sao sáng trong đời sống công bình. Hãy chiếu sáng đức thương yêu của Chúa. Hãy toả ánh sáng ấm áp tình người. Qua những làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và tìm về với Thiên chúa là ánh sáng chân thật.
Để kết thúc, tôi xin kể một câu chuyện có thật. Một buổi chiều, một người lái xe con đi trên con đường miền núi vắng vẻ. ở một khúc quanh, người ấy phát hiện một gia đình bị hỏng xe. Đường vắng, trời tối, họ lo âu sợ hãi vì đó là đoạn đường thường xảy ra cướp bóc. Biết sửa chữa xe, nên người ấy đỗ xe, xuống giúp sửa chữa. Xe hỏng nặng. Người ấy phải chui vào gầm xe, tháo ra từng bộ phận. Tối mịt xe mới nổ máy. Cả gia đình mừng rỡ, muốn trả công cho người ấy. Nhưng người ấy không lấy công. Cả gia đình cám ơn rối rít và xin địa chỉ hẹn ngày lên thăm. Khi lên thăm, gia đình mới biết đó là một vị giám mục. Gia đình đem lòng cảm phục và xin theo đạo cả nhà. Vị Giám mục ấy chính là một Đức Cha ở cao nguyên Trung phần vào những năm 60.
Nhân dịp đầu năm mới, tôi xin cầu chúc tất cả anh chị em có một đời sống đạo trong sáng như ngôi sao sáng để đưa dẫn nhiều tâm hồn về với Chúa.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2017

BA VUA HAY ĐẠO SĨ

  


Hôm nay phụng vụ kính lễ Hiển linh. Tuy nhiên nhiều người vẫn quen gọi là lễ Ba vua? Danh xưng nào chính xác hơn?

Nếu chỉ phân tích từ ngữ Hán Việt, thì quả thực là khó nói. “Hiển linh” là gì? Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ học xuất bản, “Hiển linh” (động từ) được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ sự linh thiêng, theo mê tín”. Từ điển Việt Nam do ông Thanh Nghị xuất bản năm 1958 cho rằng “hiển linh” là tĩnh từ, có nghĩa là: “linh thiêng, rõ ràng”. Xem ra đó cũng là ý kiến của ông Lê Thanh, tác giả cuốn Tiếng nói nôm na (1999): hiển linh là “rất linh thiêng, thiêng liêng lộ rõ ra bằng sự thật”. Dù hiểu “hiển linh” như động từ hay tính từ đi nữa, thì chẳng qua cũng là dịch bởi danh từ gốc Hy-lạp epiphania, có nghĩa là sự “hiện ra, bày tỏ”. Tân ước dùng từ này để nói đến việc Thiên Chúa đã xuất hiện (tỏ lộ, mặc khải) cho nhân loại ở nơi Đức Giêsu (Lc 1,79; Tt 2,11; 3,4), hoặc là việc Đức Kitô sẽ xuất hiện trong vinh quang ngày tận thế (2Tm 4,8; Tt 2,13). Phụng vụ (cách riêng là bên Đông phương) nói đến ba cuộc tỏ hiện của Chúa Giêsu: thứ nhất cho các đạo sĩ; thứ hai tại sông Hòa giang; thứ ba tại tiệc cưới Cana. Dù ba biến cố cách xa nhau hơn 30 năm trường, nhưng đều nhằm bày tỏ thiên tính của Đức Giêsu, đặc biệt vào chặng đầu của mầu nhiệm Nhập thể. Cả ba biến cố đều được ghi lại trong Phúc âm, và được tóm lại trong Điệp ca Magnificat Kinh chiều lễ Hiển linh.

Thế còn tại sao gọi là lễ Ba Vua?

Như vừa nói, trong lễ Hiển linh (epiphania), phụng vụ mừng ba biến cố mà Chúa Giêsu xuất hiện cho nhân loại. Tuy nhiên, biến cố thứ nhất (nghĩa là tỏ hiện cho các đạo sĩ) thu hút sự chú ý của dân gian hơn, bởi vì gắn liền với lễ Giáng sinh, mang theo hình ảnh của hài nhi Giêsu sinh ra tại hang đá Bê-lem. Bên cạnh tượng Thánh nhi nằm trong máng cỏ giữa con bò và con lừa, người ta đặt tượng Đức Mẹ, thánh Giuse; xa hơn chút nữa là các mục đồng được các thiên thần gọi đến hang đá. Mãi hơn 10 ngày sau, người ta mới thêm một tốp nữa gồm có ba vua từ phương xa đến thờ lạy Chúa, mang theo lễ phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì thế gọi là “lễ ba vua”.

Ba ông là Vua của những nước nào vậy?

Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền tảng Kinh thánh, và đâu là truyền kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giuđê, thời vua Hêrôt trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn nói đến các nhà “chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định con số là bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm chí có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này dần dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V.

Con số 3 có ý nghĩa gì không?

Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa đo lường toán học, vừa theo nghĩa biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học. Thánh Matthêu (chương 2 câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng, nhũ hương, mộc dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có ba người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?), nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu tượng. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không chịu bỏ đạo mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà chiêm tinh của chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do thái, bất chấp những khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua Hêrôt ám sát.

Thánh Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại biến thành ba vua?

Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các nhà “chiêm tinh” không phải là các ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như các nhà thiên văn, và cách riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố vấn cho nhà vua về y khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các vua” bởi vì móc nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua chúa Ả-rập và Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn ngoan của ông. Nhưng các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến thờ lạy Chúa Giêsu.

Làm sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ nói đến những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông?

Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương Đông chắc chắn không phải là Trung Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên kia bờ sông Giorđanô, và các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập. Thánh Augustinô đã giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu mùa của muôn dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” (Sermo 200,1: PL 38,1028). Nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St 10,1). Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên biết là khi mới khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da đỏ nữa, nhưng tục lệ này không được phổ biến cho lắm.

Ba vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa phải không?

Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được đặt tên là Balthasar vua Ấn độ, Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy các tên này không có màu sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu truyền dân gian còn muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba Tư. Về sau khi thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã tấn phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô (Italia), và từ cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ chánh toà Colonia (Đức).

Như vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn thánh Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa?

Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói, thánh sử không nói đến các vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà chiêm tinh đi tìm thờ lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra cho triều đình Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật dâng tiến - vàng, hương, mộc dược - như là việc tuyên xưng ba phẩm tính của Người: vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con người hay chết. Tuy nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm chính mà thánh sử muốn nhắm tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu là vua Mêsia, đang khi mà dân Do thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm cách thủ tiêu Người nữa.

Nhưng vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu?

Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta biết rằng một thiên sứ đã hiện ra báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ và hài nhi Giêsu lánh nạn sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng sinh ra như đã tiên báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của mình tẩy chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt khác, ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là sự hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và ông lo ngại cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không phải là Vua theo nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua Mêsia.

Làm sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần?

Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng, chuyện một ngôi sao lạ như là điềm của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa lạ trong lịch sử các dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào lịch sử các tôn giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ đoạn văn sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp và vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà Israel”. Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao nhà Đavít, như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16. Trong lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của ngôi sao xuất hiện cho các nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao chổi, hay một ngôi sao nào khác thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn của các nhà chiêm tinh (nghĩa là hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không nói rõ điều đó, mà chỉ ghi nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn nhận Đức Giêsu là vị cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn chính các luật sĩ sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức Mêsia sẽ giáng sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình như bài học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang khi những người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng tìm chính đạo và tuân giữ.

nguồn: Đaminh VN

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2017

MỘT DƯỢC - MỘC DƯỢC


                                                                                       LM Stêphanô Huỳnh Trụ

Báo Tuổi Trẻ số ra ngày 23/12/2005 có đăng bài “Dạy chữ Hán để
biết và hiểu” của tác giả Nguyễn Văn Duận, trong đó ông nói “Muốn giỏi văn cần học chữ Hán”, ông nói rõ hơn: “Chúng ta có một thời – khi học toán – đã băn khoăn vì không hiểu được nghĩa gốc của những từ như tích phân, ma trận…; khi học vật lý quang học đã băn khoăn với từ như thị trường, quang phổ, tử ngoại……”. Riêng tôi nghĩ rằng bên Công Giáo cũng có tình trạng này. Ví dụ tên của Đức Hồng Y Hồng Kông là Trần Nhật Quân (陳日君), nhưng các báo, các đài, các trang web, cứ viết là Trần Minh Quân; hay là lễ năm mới trong sách lễ Roma, lúc đầu viết là Thánh lễ Minh Niên, sau này sửa lại cho đúng là Thánh lễ Tân Niên, nhưng các cha ở hải ngoại vẫn viết là Thánh lễ Minh Niên. Đây chỉ là vài ví dụ về hậu quả của việc ít biết chữ Hán, hễ thấy ai dùng một từ mới lạ, dù không hiểu ý nghĩa cũng dùng theo.
Sau khi Chúa Giêsu sinh ra, có các hiền sĩ đến thờ lạy Chúa, họ dâng tiến Chúa các lễ vật: "vàng, nhũ hương vàmyrrha" (Mt 2,11) có người dịch myrrha là mộc dược, có người dịch là một dược (1) . Chúng ta thử tìm hiểu xem từ nào là từ đúng?

1. Myrrha là gì?
Myrrha (tiếng Akkadi: murru; Hípri: môr) là một chất nhựa chảy ra từ cuống và nhánh của một giống cây bụi thấp, thuộc nhóm cây Commiphora myrrha (có tên khác là Balsamodendron myrrha), thuộc họ gần với nhóm Commiphora kataf. Cả hai nhóm cây này có nguồn gốc từ sa mạc Ảrập và Phi Châu. Nhựa tiết ra từ thân cây chảy xuống mặt đất, sau đó quánh lại thành một chất nhựa có màu vàng nâu sánh như dầu . 
Myrrha có giá trị nhờ mùi thơm (x. Tv 45,8-9; Sk 7,17; Ct 3,6; 4,14; 5,5,13); là thành phần trong dầu thánh (x. Xh 30,23-33); có tính chất chữa bệnh, pha với rượu giúp giảm đau; ở Ai Cập và Giuđêa được sử dụng chủ yếu để ướp xác chết, vì có tính chất chống lại sự thối rữa. Ngoài ra, nó còn được dùng để thanh tẩy phụ nữ.
Myrrha được các hiền sĩ dùng làm lễ vật dâng tiến cho Chúa Hài Nhi, họ dâng tiến Người các lễ vật gồm: “vàng, nhũ hương và myrrha” (Mt 2,11); Myrrha cũng là chất mà người ta đưa lên cho Chúa Giêsu lúc trên thập giá (x. Mc 15,23); và cũng là một trong những chất dùng ướp xác Người (x. Ga 19,39) (2). 
Theo cha Neil Chadwick (3): Myrrha là chất dẽo thơm được chế xuất từ bụi gai mọc ở Ả Rập và Ethopia, và thu được từ cây giống như cách thu được nhũ hương vậy. Loại cây có mùi thơm này được gọi là "Balsamodendron myrrha" tương tự như cây keo (Acacia). Myrrha cao từ 8-10 fts và có mùi thơm. Khi bị cắt, nó tiết ra một chất nhựa màu vàng nhạt, sau đó cô đặc lại thì sẫm màu hoặc có màu đen.
Myrrha đã được sử dụng chủ yếu là ướp xác chết, vì nó có tính chất chống lại sự thối rữa (x. Ga 19,39), nó được sữ dụng nhiều ở Ai Cập và Giuđêa. Cổ thời nó đã có giá trị thương mại (x. St 37,25), là thành phần của dầu thánh (x. Xh 30,23), được dùng như dầu thơm dễ chịu (x. Et 2,12; Tv 45,8; Cn 7,17). Myrrha được người thời xưa ưa thích dùng như dầu thơm. Người ta nói rằng đựng nó trong lọ thạch cao, nó có thể giữ mùi thơm ngát trong nhiều thế kỷ. Myrrha còn có tính chất chữa bệnh, trộn nó vào rượu vang để làm một loại thức uống. Người ta đã pha chế nó như một loại thuốc giảm đau và cho Chúa Cứu Thế uống khi Ngài bị treo trên thập giá (x. Mc 15,23; Mt 27,34).  

2. Myrrha dịch là một dược hay mộc dược?
Một số rất ít từ điển tiếng Việt có hai từ này:
- Theo “Từ điển tiếng Việt” (Viện Ngôn Ngữ Học, 2005): Mộc còn có nghĩa là cây bụi nhỏ, lá có răng cưa, mọc đối nhau, hoa nhỏ rất thơm, thường dùng để ướp chè, thuốc lá (nhưng không phải là myrrha). 
- “Việt Nam Tự Điển” (Lê Văn Đức, 1970) giải thích từ mộc dược (chữ Hán là 沐 藥): Tắm với nước có pha thuốc. 
- “Những Cây Thuốc và Vị Thuốc Việt Nam” (của Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, 2004) giải thích từ một dược (chữ Hán là 沒藥): Myrrha (còn gọi là Myrrhe) là chất gồm nhựa trích từ cây Commiphora momol Engler hay Commiphora abyssinica Engl, thuộc họ trám (Burseraceae). Cây này chưa thấy ở nước ta. Trước đây ta nhập của Trung Quốc, nhưng bản thân Trung Quốc cũng phải nhập từ các nước tây Châu Phi, vùng Hồng Hải, Somali, Abytsini, Ả Rập. Thành phần chủ yếu của một dược gồm 28-40% nhựa và tinh dầu, 61% gôm, 3-4% tạp chất và một ít chất đắng. Tinh dầu một dược chứa axít tự do, axít axetic, axít panmitic (tinh dầu cũ), hay tinh dầu kết hợp (tinh dầu mới cất), … Công dụng: Đông y dùng một dược để chế một số cao dán nhọt có tính chất hoại huyết, giảm đau, tiêu thũng. Có khi dùng làm thuốc điều kinh. Tây y dùng trong công nghiệp nước hoa, thuốc bổ, trấn kinh. Uống trong với liều 0,20 đến 2g.
- Theo cha Eugene Gouin (MEP) (4):
* Mộc: có 3 chữ Hán là: 木; 沐 và 霂 (5). Chữ Liên quan là (沐), có 3 nghĩa (6): (1) Tắm, tắm rửa, tắm gội. (2) Dầm, tẩm, làm thấm. (3) Con khỉ đột, con bú dù.
* Mộc dược (沐藥): Tắm với nước có pha thuốc (7) dùng với từ thứ hai, có nghĩa thứ nhất).
* Một: có 2 chữ Hán là: 沒 và 歿. Chữ liên quan là (沒), một có 6 nghĩa (8): (1) Nhúng, nhận chìm; tối tăm, mù mịt, mờ sẫm; chết chìm, chết đuối, chết trôi; chôn cất, mai táng. (2) Hoàn thành, hoàn tất; chết; ngất xỉu, bất tỉnh. (3) Vượt quá, lấn; trội hơn. (4) Ao ước, thèm muốn; thèm khát. (5) Từ diễn tả sự từ chối, phủ nhận. (6) Cây cỏ, thảo mộc, thực vật.
* Một dược (沒藥), có hai nghĩa (9): (1) Tịch thu, sung công; thu chiếm, đoạt lấy (nghĩa thứ hai). (2) Thuốc dùng ướp xác người chết, myrrha (nghĩa thứ sáu).

3. Nhận xét
Trong tiếng Việt, mộc dược chỉcó một nghĩa duy nhất là “tắm với nước có pha thuốc”. Còn một dược được dùng để chỉ chất thuốc (thơm, ướp xác,...) hoặc một loại thực vật, đó là cây Myrrha. 

Kết luận 

Vậy, Myrrha nên dịch cho đúng là một dược (沒藥), chứ không phải mộc dược (沐藥).

LM Stêphanô Huỳnh Trụ


_______________
Chú thích:
1. Các bản dịch Tân Ước của: ĐHY Giuse Maria Phạm Đình Tụng, Lm. Trần Đức Huân, Lm Tống Viết Toại, Thánh Kinh Hội Trung Hoa (Bản của anh em Tin Lành), http://www.vnbaptist.net/Tu_Dien (Bản của anh em Tin Lành), Hồng Kông (Bản của Công giáo)... Đều dịch là: Một dược.
Các bản dịch Tân Ước của: Lm. Nguyễn Thế Thuấn, Nhóm CGKPV, UBPV của HĐGMVN... Đều dịch là: Mộc dược.
2. BIBLE DICTIONARY, 1965.
3. Xem bài "Gold, Frankincense and Myrrh" của Dr. Neil Chadwick, trong http://www. webedelic.com/church: Có thể xem chi tiết ở http://www.science.siu.edu/plant-biology, http://www.essentialoils.co.za/essential -oils/ myrrh.htm.
4. Eugene Gouin, DICTIONNAIRE VIETNAMMIEN CHINOIS FRANCAIS, Imprimerie d'Extrême-Orient, Saigon,1957.
5. Pluie fine (tạnh mưa; mạch, minh)
6. (1) Se laver la tête; se baigner. (2) Imprégné. (3) Grand singe.
7. Bains médicamenteux.
8. (1) Immergé, sombrer, se noyer, inhumer. (2) Finir, mourir, s'évanouir. (3) Dépasser, excéder. (4) Convoiter, désirer. (5) Terme exprimant la négation. (6) Végétaux.


(Nguồn : http://www.gxhiepduc.com/)





Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

DƯ ÂM MÙA GIÁNG SINH 2017 ..... Ở BIÊN HÀ , BÌNH DƯƠNG



Sáng sớm 1/1, trời lạnh nhưng vẫn trực chỉ giáo xứ Biên Hà, Lạc An tổng kết thi đua làm hang đá của đoàn Hùng Tâm Dũng Chí. Lần đầu tiên từ khi lập giáo xứ (?), thiếu nhi Biên Hà mới trổ tài làm hang đá ở khuôn viên nhà thờ. Sau lễ, thi đua câu đố, ô chữ về Mùa Giáng Sinh và liên hoan, tổng kết, phát thưởng một mùa sinh hoạt cũng như chúc tết Dinh Dậu với mì gà tiềm + rau câu.....Xin cám ơn các anh chị em đã động viên, giúp đỡ tinh thần vật chất để các cháu có dịp được và duy trì sinh hoạt cho đến nay...
















Ninh Nguyen 



Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

ĐỨC MẸ CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI


ĐỨC MẸ MARIA TRONG VĂN HÓA CỦA CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
ST MARY IN CULTURE OF THE COUNTRIES IN THE WORLD

---------------oo0oo-------------


===== CHÂU Á (ASIA) =====



Đức Mẹ Vô Nhiễm tại nhà thờ Đức Bà - Sài Gòn, Việt Nam
Immaculate Mother in Duc Ba Church - Sai Gon, Viet Nam


Đức Mẹ La Vang - Quảng Trị, Việt Nam
Our Lady of La Vang - Quang Tri, Viet Nam


Đức Mẹ Giang Sơn - Buôn Ma Thuột, Việt Nam
Our Lady of Giang Son - Buon Ma Thuot, Viet Nam



Đức Mẹ An Bình - Bảo Lộc, Việt Nam
Our Lady of An Binh - Bao Loc, Viet Nam


Đức Mẹ Dân Tộc tại nhà thờ K'long - Bảo Lộc, Việt Nam
Our Lady of ethnic minorities in K'long church - Bao Loc, Viet Nam


Đức Mẹ Trà Kiệu - Việt Nam
Our Lady of Tra Kieu - Viet Nam



Đức Mẹ Tà Pao - Việt Nam
Our Lady of TaPao - Viet Nam


Đức Mẹ Bãi Dâu - Vũng Tàu, Việt Nam
Our Lady of Bai Dau - Vung Tau, Viet Nam




Đức Mẹ Măng Đen - Kon Tum, Việt Nam
Our Lady of Mang Den - Kon Tum, Viet Nam



Đức Mẹ tại nhà thờ Gỗ - Kon Tum, Việt Nam
Our Lady of Kon Tum - Viet Nam




Đức Mẹ tại nhà thờ lớn Hà Nội - Việt Nam
Our Lady in St. Joseph church - Ha Noi, Viet Nam



Đức Mẹ Việt Nam
Our Lady of Viet Nam



Đức Mẹ Thái Lan
Our Lady of Thailand



Đức Mẹ Campuchia
Our Lady of Cambodia



Đức Mẹ Campuchia
Our Lady of Cambodia



Đức Mẹ Naju - Nam Hàn
Our Lady of Naju - South of Korea



Đức Mẹ Đại Hàn
Our Lady of Korea



Đức Mẹ Đại Hàn
Our Lady of Korea




Đức Mẹ Akita - Nhật Bản
Our Lady of Akita - Japan




Đức Mẹ Nhật Bản
Our Lady of Japan



Đức Mẹ Nhật Bản
Our Lady of Japan



Đức Mẹ Nhật Bản
Our Lady of Japan



Đức Mẹ Manaoag ở Philippines
Our Lady of Manaoag in Philippines

Đức Mẹ Ánh Sáng - Philippines
Our Lady of Salvation/Light - Philippines

Đức Mẹ Philippines
Our Lady of Philippines


Đức Mẹ Singapore
Our Lady of Singapore



Đức Mẹ Indonesia
Our Lady of Indonesia



Đức Mẹ Xà Sơn - Trung Hoa
Our Lady of SheShan - China



Đức Mẹ Trung Hoa (Thái Hậu Maria và Hoàng Tử Giêsu)
Our Lady of China



Đức Mẹ Trung Hoa
Our Lady of China



Đức Mẹ Trung Hoa
Our Lady of China



Đức Mẹ Trung Hoa
Our Lady of China



Đức Mẹ Trung Hoa
Our Lady of China



Đức Mẹ Mông Cổ
Our Lady of Mongolia



Đức Mẹ Sri Lanka - Ấn Độ
Our Lady of Sri Lanka - India



Đức Mẹ Ấn Độ
Our Lady of India



Đức Mẹ Ấn Độ
Our Lady of India


Đức Mẹ Ấn Độ
Our Lady of India


Đức Bà Đen mang tên "I am the Beloved" ở Ấn Độ
Black Madonna: I am the Beloved - India

Khuôn mặt của Đức Mẹ được lấy từ khuôn mặt của một phụ nữ trẻ bị coi thường ở Ấn Độ.
The Madonna’s face is taken from a young woman born as an untouchable in India.



Đức Mẹ Nga
Our Lady of Russia



Đức Mẹ Nga
Our Lady of Russia



Đức Mẹ Liban
Our Lady of Lebanon


======= CHÂU PHI (AFRICA) ========



Đức Mẹ Châu Phi
African Madonna


Đức Mẹ Sudan
Our Lady of Sudan



Đức Mẹ Ai Cập tại viện bảo tàng Neues - Đức
Our Lady of Egyptian in Neues Museum



Đức Bà Đen ở Aksum - Ethiopia
Black Madonna - Aksum, Ethiopia



Đức Mẹ Le Puy - Ai Cập
Our Lady of Le Puy - Egypt



Đức Mẹ Kibeho - Rwanda
Our Lady of Kibeho - Rwanda



========= KHÁC =========




Đức Mẹ Mexico
Our Lady of Mexico



Đức Mẹ Guadalupe - Mexico
Our Lady of Guadalupe - Mexico



Đức Mẹ Guadalupe xứ Extremadura - Tây Ban Nha
Our Lady of Guadalupe in Extremadura - Spain



Đức Mẹ thời trung cổ ở Tây Ban Nha (Spain)



Đức Mẹ Sầu Bi - Tây Ban Nha
Our Lady of Sorrows - Spain



Đức Mẹ Lluc - Tây Ban Nha
Our Lady of Lluc - Spain



Đức Mẹ Fatima - Bồ Đào Nha
Our Lady of Fatima - Portugal


Đức Mẹ Lộ Đức - Pháp
Our Lady of Loudes - France



Đức Mẹ tại nhà thờ Notre Dame - Pháp
Our Lady in Notre Dame church - France



Đức Mẹ Đen kiểu Roma - Pháp
Black Madonna in Rome style - France



Đức Mẹ Đen - Pháp
Black Madonna - France

Đức Mẹ La Salette - Pháp
Our Lady of La Salette - France


Đức Mẹ La Salette - Pháp
Our Lady of La Salette - France


Đức Mẹ Bồng Con tại nhà thờ Rouen - Pháp
(Rouen Cathedral - France)



Đức Mẹ Vô Nhiễm thời trung cổ - Pháp (France)



Đức Mẹ của sự chết lành thế kỷ 12 - Pháp
Our Lady of Holy Death in 12 century - France



Đức Mẹ Meymac - Pháp
Our Lady of Meymac - France



Đức Mẹ Hiện Ra, Đấng Bảo Trợ của Brazil



Đức Mẹ Đồng Trinh - Ba Tây
Virgin Mary - Brazil



Đức Mẹ ở tu viện Tre Fontane - Roma, Ý (Rome, Italia)
Dòng chữ Latin bên dưới nghĩa là: "In me is all hope." (Trong Ta là mọi sự hy vọng)



Đức Mẹ Ý Đại Lợi
Our Lady of Italia


Đức Mẹ Ý Đại Lợi
Our Lady of Italia


Đức Mẹ ở Oropa - Ý
Our Lady of Oropa - Italia

Đức Mẹ Tindary - Ý
Our Lady of Tindary - Italia



Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp - Roma, Ý
Our Mother of Perpetual Help - Rome , Italia



Đức Mẹ Canada
Our Lady of Canada



Đức Mẹ Cát Minh - Đấng bảo trợ của Chilê
Our Lady of Camelo - Chile



Đức Mẹ Sầu Bi tại nhà thờ Thánh Peter - Mỹ
Our Lady of Sorrows in St Peter church - USA



Đức Mẹ ở Mỹ
Our Lady of USA



Đức Mẹ tại nhà thờ St. John Evangelist - Hoa Kỳ
Our Lady in St. John Evangelist church - USA



Đức Mẹ Navajo ở phía bắc của tiểu bang Arizona, Hoa Kỳ
Our Lady of Navajo - USA



Đức Mẹ bồng con tại nhà thờ Thánh Mary - Úc
Virgin Mary Holding Baby Jesus in St Mary church - Australia





Đức Mẹ Đen - Đức
The Black Mother of God - Cologne, Germany



Đức Mẹ Vô Nhiễm thời trung cổ - Đức (Germany)



Đức Mẹ Cuba
Our Lady of Cuba

Đức Mẹ Regla - Cuba
Our Lady of Regla - Cuba 
(patron saint of sailors and of Havana Port)


Đức Mẹ Ba Lan
Our Lady of Poland



Đức Mẹ Nam Tư




Đức Mẹ Gỗ Đen ở Thụy Điển
Our Lady of Sweden





Đức Mẹ Thỗ Nhĩ Kỳ
Our Lady of Turkey



Đức Mẹ thời trung cổ - Fribourg, Thụy Sĩ
Fribourg, Switzerland

Đức Mẹ Knock - Ailen
Our Lady of Knock - Ireland


Đức Mẹ Trinh Nữ Trái Tim Vàng - Bỉ
Our Lady of Beaurating - Belgium


Đức Mẹ Hồ Lụa - Pháp
Our Lady of Laus - France


Đức Mẹ Pontmain - Pháp 
Our Lady of Pontmain - France

Đức Mẹ ở Bolivia
Our Lady of Bolivia - Oruro, Bolivia

Đức Mẹ Lujan - Argentina
Our Lady of Lujan - Argentina

Tổng hợp: Cát Bụi