Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

TÌNH YÊU ĐÁP LẠI HẬN THÙ



SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT LỄ LÁ   - NĂM A-  9/4/2017 

Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt
Ngày Lễ Lá cho ta chứng kiến những đổi thay bất ngờ của cuộc đời và của lòng người. Dân chúng vừa mới hân hoan cầm cành lá đón tiếp Chúa đã lập tức quay lại la ó kết án Chúa. Chúa Giêsu vừa mới long trọng vào thành như một ông vua nay đã phải đứng trước toà Philatô như một tử tội. Giuđa vừa ăn chung một bánh, uống chung một chén với Thầy đã vội vàng ra đi nộp Thầy. Các môn đệ vừa mới ngồi đồng bạn với Thầy nay đã bỏ trốn. Phêrô vừa mới hăng hái thề sống chết bên Thầy đã mau chóng hèn nhát chối Thầy.
Những biến cố dồn dập, những đợt sóng thù hận giận dữ dâng cao đến tột đỉnh như muốn nghiền nát Chúa Giêsu. Nhưng Người vẫn luôn giữ được tâm hồn bình an thanh thản, thái độ quan tâm ân cần và trái tim chan chứa yêu thương.
Trước hết ta thấy Người thanh thản và chủ động bước vào cuộc Thương khó khi Người nói với các môn đệ: “Thầy ước ao dự bữa tiệc Vượt qua với các con”. Trước cái chết ai cũng run sợ. Nếu chết là hết thì cái chết thật là đáng sợ. Nhưng với Chúa Giêsu, chết là về cùng Chúa Cha. Người yêu mến Chúa Cha, khao khát kết hiệp với Chúa Cha, nên Người thanh thản bước vào cuộc khổ nạn để được về cùng Cha.
Quân lính hung hãn đến bắt Chúa Giêsu, nhưng Người vẫn hiền hoà không kháng cự.
Bị vây bọc trong bầu khí sát máu, Người vẫn cư xử với lòng nhân hậu khoan dung. Không lo cho an nguy của bản thân, giữa lúc khó khăn khốn đốn vẫn mở rộng bàn tay nhân ái chữa lành vành tai bị đứt của người đày tớ vị thượng tế.
Khi Giuđa đến hôn mặt Chúa Giêsu, Người vẫn đối xử một cách lịch sự, tế nhị. Đối lại tội phản nghịch tày trời, Người chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở, hy vọng đánh thức lương tâm người học trò mê tiền mà đi đến phản bội.
Lúc đang xét xử, dù phải chịu nhục nhã cay đắng, Người vẫn quan tâm đưa mắt nhìn Phêrô. Vị đại diện các môn đệ, sau khi chối Thầy, đã nhận được ánh mắt âm thầm của Thầy. Ánh mắt hiền dịu mà đau khổ. Ánh mắt trách móc thì ít mà tha thiết van xin thì nhiều. Ánh mắt nhân từ tha thứ đã khiến Phêrô ray rứt khôn nguôi.
Trên đường lên Núi Sọ, dù vai phải mang cây thánh giá nặng nề, dù bản thân yếu mệt và tủi nhục, Người vẫn còn đứng lại an ủi những người phụ nữ khóc lóc, an ủi đám dân đã tố cáo, đã kết án Người.
Trên thập giá, lúc đớn đau đã thấm vào đến tận xương tuỷ, lúc sức lực đã cạn mòn, Người vẫn còn quan tâm lắng nghe người trộm lành.
Còn hơn thế nữa, Người tha thứ cho những sĩ quan, những binh lính đã hành hàn. Người không chỉ tha thứ mà còn cầu nguyện xin Chúa Cha tha cho tất cả mọi người có dính líu vào việc xử án Người.
Tình yêu thương của Người là làn ánh sáng xé tan bóng đêm thù hận, chiếu soi cả những người ghét ghen. Tình yêu thương của Người giống như loài gỗ quý nhuốm cả hương thơm vào lưỡi búa đã đốn ngã nó (Fulton Sheen). Tình yêu của Người như đoá hoa sen. Bùn lầy có dậy lên cũng không nhiễm được vào đoá hoa tinh khiết thánh thiện. Tình yêu của Người là tình yêu nguyên tuyền không vẩn một chút oán hờn giận ghét, vượt lên trên tất cả những hận thù, nhỏ nhen, hèn nhát, phản bội. Giữa những hung hãn tàn bạo, Người vẫn yêu thương. Giữa những phản bội, Người vẫn tha thứ. Tình yêu của Người đã thắng.
Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

HÃY VÁC THẬP GIÁ CỦA MÌNH


Điều tâm niệm đầu tiên trong 10 điều tâm niệm của người Huynh Trưởng HTDC 
Huynh Trưởng ĐẠI ĐỘ luôn luôn hy sinh bất kể .
Huynh Trưởng LÀM GƯƠNG đi đầu mọi lúc mọi nơi 
**************************************************************************************************
Thánh Don Bosco đã tưởng tượng chuyện sau đây:
Một hôm, Chúa Giêsu bảo Phêrô và Gioan đi theo Ngài lên núi. 
Ngài dặn mỗi ông mang theo một hòn đá. Phêrô suy nghĩ một chút rồi nhặt hòn đá nhỏ bỏ vào túi; còn Gioan, do lòng quảng đại, vác cả một tảng đá to. Dĩ nhiên, đường dài, vác nặng, Gioan thở hổn hển và lên đến nơi sau cùng. Phêrô bước thảnh thơi và còn nói với Gioan: “Sao anh nhọc công vác tảng đá to như thế!” 
Tới nơi, Chúa Giêsu bảo hai môn đệ ngồi xuống. Ngài đọc lời chúc tụng và biến hai viên đá thành bánh. Dĩ nhiên, Phêrô chỉ được chiếc bánh nhỏ xíu không đủ cho cơn đói cồn cào của ông.
Lần khác Chúa lại bảo hai ông lên núi và mang theo đá. Rút kinh nghiệm lần trước, Phêrô mang một tảng đá thật to. Đến nơi, ông ngồi chờ phép lạ. Nhưng Chúa Giêsu chỉ nói “Nào mỗi người hãy ngồi lên tảng đá mình mang theo. Không phải lúc nào Thầy cũng biến đá thành bánh đâu.” Rồi Ngài nói riêng với Phêrô: “Lòng quảng đại không phải là lòng quảng đại tính toán.”
Lạy Chúa, xin dạy con biết sống quảng đại, biết cho đi mà không tính toán, biết chiến đấu mà không sợ thương tích, và không chờ một phần thưởng nào khác hơn là biết mình đã làm theo Chúa.
(Trích: “Chờ đợi Chúa”)


Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

MẦU NHIỆM THẬP GIÁ



   Nói đến hai chữ thập giá ai cũng hiểu đó là những khó khăn, đau khổ, thử thách, gánh nặng của thể xác và tinh thần ta gặp trên cuộc đời này. Ai cũng sợ gặp phải khốn khổ thương đau, vậy mà chẳng biết có thật lòng không khi ta vẫn hát: “Lạy Chúa, xin cho con bước đi với Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài thập giá trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cùng chết với Ngài…”
   Thánh giá hiện diện trong đời sống chúng ta bằng nhiều thể nhiều cách. Thánh giá có thể là bệnh tật, nghèo đói, hoạn nạn, đau đớn, bị khinh khi hoặc cô đơn. Có khi do hoàn cảnh tự nhiên, có khi bởi người khác, và cũng có khi chính chúng ta là thánh giá cho người khác. Mặc dù nhiều khi rất khó đón nhận, nhưng thánh giá có thể trở thành một nguồn thanh luyện, sự sống và niềm vui, nếu như chúng ta đón nhận với lòng yêu mến.
Khi gặp thánh giá, ước chi chúng ta đừng bao giờ thở than, nhưng hãy cảm tạ Chúa về những thất bại, đau khổ, tổn thương, vì chúng thanh luyện chúng ta. Những nghịch cảnh như thế là những cơ hội giúp chúng ta đến gần Chúa hơn. Chúa mời gọi: “Nếu ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình và vác thập giá mình mà theo.” Đối mặt với đau khổ nghịch cảnh ai mà không sợ hãi. Chính Chúa Giêsu trong vườn Giệtximani đã sợ đổ mồ hôi máu mà van xin với Chúa Cha: “Lạy Cha nếu có thể được thì xin cho con khỏi uống chén này”. Nhưng với lòng yêu mến vâng phục Thánh Ý Cha Ngài đã thưa lên: “Nhưng xin đừng theo ý con, một xin vâng ý Cha.” Và Ngài đã uống cạn chén đắng trong cuộc tử nạn. Nhờ đó, toàn nhân loại được ơn cứu độ. Chỉ trong yêu mến và vâng phục Ngài mới đủ sức hoàn tất Thánh Ý Cha. Ngày nay chúng ta có chỗ nương thân vì Chúa nói: “Hỡi những ai vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho.” Hãy đến với Chúa, trong Ngài, gánh nặng của ta sẽ trở nên nhẹ nhàng !
   Trong sách “Gương Chúa Giêsu” có lời: “Nếu con vui lòng vác thánh giá, thì thánh giá sẽ vác đỡ con”. Vâng, nếu ta khó chịu phàn nàn rên la khi gặp đau khổ thì quả là thập giá càng thêm nặng nề. Nhưng nếu ta biết nhìn lên mà kết hợp với đau khổ của Đức Kitô để Ngài cùng vác với ta, sức nặng thập giá trở nên nhẹ hơn, dễ vác hơn. Người ta kể lại thánh nữ Catharina khi gặp thánh giá kêu khấn Chúa nhưng không thấy Người. Sau cơn đau khổ Chúa hiện đến, thánh nữ than thở: “Lúc con đau khổ Chúa ở đâu?” Chúa phán: “Khi ấy Cha ở trong con để giúp con có sức chịu đựng.”
   Dưới cái nhìn của trần thế, thập giá là sự điên rồ. Nhưng trong Đức Giêsu Kitô, thập giá trở nên nguồn ơn cứu độ chúng ta. Là những chi thể sống động trong cùng một Hội Thánh mà đức Kitô toàn thắng là đầu, nếu chúng ta sống gắn kết với Ngài trong từng phút giây, Ngài sẽ cùng với chúng ta chiến đấu vượt qua, để thánh giá trở nên nguồn vinh phúc cho mỗi chúng ta. Bởi “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ được cùng sống với Người. Nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người.”
Én Nhỏ
http://www.giaophanhunghoa.org

Thứ Năm, 6 tháng 4, 2017

TẠI SAO KIÊNG THỊ MÀ KHÔNG KIÊNG CÁ ?

Luật Giáo hội buộc tín hữu phải ăn chay kiêng thịt. Nhưng mà tại sao phải kiêng thịt ? Tại sao phải kiêng thịt mà không kiêng cá, kiêng trứng hay kiêng trái cây ? Ăn thịt có gì xấu không ?

Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá
Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá
Trước hết, nên lưu ý tới việc sử dụng từ ngữ. Tiếng “ăn chay kiêng thịt” gợi lên cho chúng ta hai điều: một điều cấm (kiêng) và một điều khuyến khích. Điều cấm là kiêng thịt; điều khuyến khích là ăn chay. Chắc chị đã biết rằng ở Việt Nam có vài tôn giáo đã hiểu như vậy: ăn chay có nghĩa là ăn đồ chay, những đồ lạt, không mặn. Còn đối với Kitô giáo, ăn chay có nghĩa là kiêng ăn. Như thế, ngoài chuyện kiêng thịt lại còn thêm chuyện kiêng ăn nữa. Vì vậy nếu muốn diễn tả cho đúng tư tưởng thì thay vì nói “ăn chay kiêng thịt”, chúng ta phải nói “kiêng ăn kiêng thịt” hoặc là “chay ăn chay thịt”! Nếu đặt lại vấn đề như vậy thì câu hỏi “tại sao phải kiêng thịt” đã được giải quyết một phần rồi, nghĩa là chúng ta kiêng thịt không phải tại vì thịt nó xấu xa, cũng như chúng ta kiêng ăn không phải tại vì sự ăn uống xấu xa: sự ăn uống cần thiết cho sự sống; nếu ai tuyệt thực hoàn toàn thì sẽ sớm qua bên kia thế giới.

Chúng ta kiêng thịt không phải vì nó xấu; thế thì tại sao lại chỉ kiêng thịt mà không kiêng luôn cả cá nữa ?
Vấn đề kiêng thịt không phải là cái gì riêng của Kitô giáo. Nó đã có một truyền thống lâu đời ở các tôn giáo trên thế giới, tuy với những lý do và động lực khác nhau. Chẳng hạn như các tín đồ Phật giáo kiêng thịt bởi vì họ tin vào thuyết luân hồi: khi giết các súc vật, biết đâu ta đã giết chính ông bà của mình bị phạt đầu thai làm kiếp súc vật. Dĩ nhiên, Kitô giáo đã đặt ra kỷ luật kiêng thịt không phải tại vì tin theo thuyết luân hồi nhưng dựa theo một động lực khác. Trong Cựu ước, ta đã thấy có những luật về kiêng thịt với những chi tiết khá phức tạp, thí dụ trong chương 11 của sách Lê vi, phân biệt những thú vật ô uế với vật tinh tuyền.

Tại sao lại có sự phân biệt giữa các thú vật tinh tuyền với thú vật ô uế ?
Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có lẽ tác giả của sách Lêvi đã lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không còn ai nhớ rõ gốc gác. Cho dù lý do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang Tân ước, ta thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đã xóa bỏ sự phân biệt giữa các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở trong lòng của mình chứ thú vật chẳng có tội tình chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên, xem ra các Kitô hữu tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi não trạng nhanh chóng, thí dụ như ở chương 10 của sách Tông đồ công vụ, ta thấy thánh Phêrô còn sợ chưa dám ăn một vài thứ chim trời đã bị xếp vào hàng ô uế; lật qua chương 15 (câu 20 và 29) ta còn thấy thánh Giacôbê muốn đòi buộc các tín hữu tân tòng phải kiêng tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ hơn, nhất là vì ngài để ý tới dân ngoại hơn là tới dân Do thái. Thực vậy, thánh Phaolô chấp nhận hoàn toàn giáo lý của đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực nào là ô uế hết. Nhưng có một vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16 thánh Phaolô đã phân biệt như thế này: tự nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng có gì khác nhau, cho nên các tín hữu không phải kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có người non nớt bị vấp phạm vì việc người tín hữu ăn đồ cúng, thì mình phải tránh. Nói khác đi, mình kiêng ăn đồ cúng không phải tại vì nó là đồ ô uế nhưng mà mình phải tránh gây gương xấu cho người anh em mình; đây là một bổn phận thuộc giới răn bác ái yêu thương.

Như vậy, thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cứ tha hồ ăn uống, phải không ?
Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống say sưa; trái lại, ngài đã hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm chúa. Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hãy tìm hiểu cái lý do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả các lương thực đều tốt bởi vì do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hãy hưởng dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng tạ ơn Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng mực. Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hãy tiến thêm một bước nữa, biết hy sinh cả những cái gì được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt nằm trong chương trình thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở thao trường (1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của đức Kitô chịu thụ nạn trên thập giá vì yêu thương chúng ta.

Nhưng nếu đã muốn kiêng khem lương thực thì kiêng hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt ?
Như tôi đã nói ở đầu, trong Việt ngữ, vì đã quá quen với thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những gì đem lại thỏa mãn thích thú, nhằm giúp cho ý chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia, trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là với phe phóng túng. Phe khắc khổ đòi Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín hữu phải giữ chay. Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự nguyện. Nếu có luật lệ thì cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ 6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi vì nhiều tín hữu phải làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng mà bên Tây phương, người ta chỉ đòi kiêng thịt. Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc chay tịnh cũng là một hình phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo một bản văn pháp lý đòi hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu quả là người ta trở lại với não trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ gì? Có phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa bò, tiết canh hay không? Các giống động vật nào phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan, ngỗng, vịt, lươn, rùa, sò ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân lý tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đã mất đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. Vì thế có cảnh ngược đời là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm. Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.

Giáo luật ngày nay vẫn giữ nguyên tình trạng như vậy chứ ?
Bộ giáo luật hiện hành vẫn còn duy trì luật kiêng thịt, tuy nhiên với một tinh thần mới của công đồng Vaticanô II mà đức Phaolô VI đã muốn tiêm nhiễm với tông hiến Poenitemini (17/2/1966). Tinh thần đó có thể tóm lại 3 điểm sau: Tiên vàn là phải kiêng những gì xấu xa, tức là kiêng phạm tội; nói khác đi việc chay ăn chay thịt phải được lồng trong tinh thần thống hối cải hoán. Ngoài sự kiêng cái xấu, chúng ta hãy gắng tiến thêm một bước để kiêng cả cái tốt: sự kiêng cái tốt cũng nằm trong tinh thần đền tội và tu đức, để tập kiềm chế những đòi hỏi của bản năng dục vọng. Dưới khía cạnh này, lãnh vực kiêng khem rất là rộng: từ kiêng ăn uống cho tới kiêng thuốc lá, tivi, các thứ tiêu khiển giải trí, các thứ tiêu pha hoang phí. Bước thứ ba nữa là ngoài tính cách tiêu cực (kiêng lánh) cần thêm tính cách tích cực: nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền giúp đỡ người nghèo, tỏ tình tương trợ với người thiếu ăn thiếu mặc. Đó là cái động lực của việc kiêng khem. Các Hội đồng Giám mục sẽ tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương mà đề ra những hình thái cụ thể trong việc áp dụng luật ăn chay kiêng thịt chiếu theo đ.1251 và 1253 của bộ giáo luật.

Lm. Phan Tấn Thành, O.P.
Nguồn: daminhvn

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

TÌM HIỂU ĂN CHAY VÀ GIỮ CHAY CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO

Niên lịch phụng vụ của Giáo hội Công giáo theo chu kỳ khép kín và chia thành 05 mùa: mùa Vọng, mùa Giáng sinh, mùa Chay, mùa Thường niên và mùa Phục sinh. Hiện nay Giáo hội Công giáo đang trong mùa Chay, là mùa hy sinh hãm mình, thanh tẩy tâm hồn, canh tân đời sống để chuẩn bị tâm hồn kỷ niệm cuộc Thương khó của Chúa Giêsu Kitô và mừng Lễ Phục sinh.


Tìm hiểu ăn chay và giữ chay của người Công giáo
Tìm hiểu ăn chay và giữ chay của người Công giáo
Ăn chay là một trong ba hoạt động đặc trưng nhất của mùa Chay (cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái). Ăn chay được giáo hội khuyên làm để biểu lộ lòng ăn năn, sám hối và tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô. Chúng tôi xin giới thiệu đến độc giả về việc thực hành chay tịnh của người Công giáo.
Thực hành việc chay tịnh là hành động bắt chước Chúa Giêsu “ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày” (Mt 4,2) và “Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả” (Lc 4,2). Hiện nay, việc chay tịnh của người Công giáo gồm ăn chay và kiêng thịt.
Ăn chay
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ăn chay là một chế độ ăn, uống những thực phẩm có nguồn gốc từ thực vật; có thể ăn những sản phẩm từ sữa, trứng hoặc mật ong; và hoàn toàn không sử dụng các loại thịt (thịt đỏ, thịt gia cầm và hải sản ) hoặc kiêng ăn các thực phẩm có được từ quá trình giết mổ. Theo quy định của một số tôn giáo thì ăn chay là không ăn tất cả các sản phẩm từ động vật, chỉ ăn các sản phẩm chế biến từ thảo mộc (Phật giáo, Cao Đài); không ăn, không uống, không hút thuốc và kiêng việc chăn gối trong tháng Ramadan (Hồi giáo). Ngoài ra, có những trường phái, những người chủ trương ăn chay để chữa bệnh hoặc để tu luyện như một số tu sĩ, chức sắc các tôn giáo.
Đối với người Công giáo, ăn chay là không ăn hoặc ăn uống ít đi, đạm bạc hơn bình thường, tránh việc ăn vặt trong ngày chay và ăn một bữa no, hai bữa còn lại được phép ăn một chút ít, miễn là phù hợp tập tục của địa phương về lượng và phẩm của thức ăn. Giữa hai bữa ăn, cấm dùng thức ăn đặc, nhưng có thể dùng thức ăn lỏng (trà, nước trái cây, sữa…) vào bất kỳ lúc nào.
Luật ăn chay của Giáo hội Công giáo được quy định trong Bộ Giáo luật 1983, áp dụng bắt buộc với mọi tín đồ từ tròn 18 tuổi đến khi sang tuổi 60. Những người được miễn ăn chay là những người sức khỏe yếu, những người từ 60 tuổi trở lên (những người này vẫn phải giữ luật kiêng thịt), phụ nữ đang cho con bú, những người làm việc nặng nhọc, người nghèo đói và những người được các giám mục, linh mục, bề trên các dòng tu cho phép không phải ăn chay. Người Công giáo bắt buộc phải ăn chay trong ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh.
Kiêng thịt
Theo nguyên tắc chung của Giáo hội Công giáo hoàn vũ thì người tín đồ Công giáo phải kiêng thịt vào các ngày thứ sáu trong năm, ngày thứ tư Lễ Tro và thứ sáu Tuần Thánh. Tuy nhiên không bắt buộc khi ngày thứ sáu cũng trùng với ngày lễ trọng khác hoặc lễ, tết. Ví dụ năm nay (năm 2016), Lễ Tro trùng với ngày mồng 3 Tết nguyên đán, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã hướng dẫn các giáo phận cử hành Lễ tro bình thường theo lịch chung của Giáo hội hoàn vũ và chuyển việc ăn chay, kiêng thịt vào thứ sáu ngày 12 Tết.
Trong ngày kiêng thịt, không được ăn thịt các động vật có tính nóng như: lợn, bò, gà, vịt…nhưng được ăn trứng, được dùng các thức ăn làm từ sữa hay các loại nước thịt. Các loại cá và các thức ăn biển, những loài có tính hàn như: ếch, trai, sò, ba ba, những loài vừa sống trên bờ vừa ở dưới nước và những loài bò sát không bị cấm sử dụng.
Theo quy định của Bộ Giáo luật 1983, những người phải kiêng thịt là các tín đồ từ tròn 14 tuổi cho đến mãn đời. Tuy nhiên, cũng như việc ăn chay, những người vì lý do sức khoẻ (bệnh tật), hay vì khả năng lao động (thí dụ làm trong hầm mỏ) cần phải ăn thịt, hoặc những ai được các vị chủ của mình cho phép ăn thịt không phải thực hiện việc kiêng thịt.
Việc ăn chay và kiêng thịt do Hội đồng Giám mục quy định cụ thể, việc ăn chay có thể thay thế bằng những hình thức khác như: sám hối, hoạt động từ thiện bác ái.
Ở Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam cho rằng, việc ăn chay hãm mình không thể thiếu nhưng không nhất thiết phải làm giống hay làm hơn so với các tôn giáo khác cả về phẩm và lượng. Việc ăn chay, kiêng thịt theo quy định của Giáo hội chỉ muốn nhắc nhở tín đồ Công giáo về ý nghĩa của việc ăn chay và không giới hạn về hình thức áp dụng. Đối với tín đồ đã trưởng thành, việc ăn chay còn được áp dụng bằng nhiều hình thức khác nhau như: ăn chay lời nói (không nói xấu, chửi tục), ăn chay bằng hành động (bỏ đi những tập quán không tốt, những thứ mình ham thích, không xem phim trong mùa chay, nhịn thuốc lá để dành tiền cho người nghèo). Do đó, tại Hội nghị thường niên tháng 4 năm 1991, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã quy định: Trong các ngày thứ Sáu, có thể thay việc kiêng thịt bằng một việc đạo đức hay một việc từ thiện bác ái, như: đọc hay nghe một đoạn Lời Chúa, làm một việc hãm mình đền tội, bố thí cho người nghèo, làm việc công ích.
Như vậy, ăn chay theo Giáo hội Công giáo là nhịn ăn hoặc bớt ăn để diễn tả sự hy sinh tự nguyện, để tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô và chia sẻ với người nghèo khó trong tinh thần bác ái và phục vụ. Để giữ luật ăn chay, kiêng thịt, tín đồ Công giáo Việt Nam có thể thực hiện theo quy định chung của Giáo hội hoàn vũ hoặc thực hiện một việc đạo đức, từ thiện bác ái, như Hội đồng Giám mục Việt Nam đã cho phép.
 Để có thể giữ chay tốt, Giáo hội Công giáo khuyên tín đồ nên chú ý đến ý nghĩa của việc giữ chay hơn là những tiêu chuẩn và cách thức của việc ăn chay. Nếu chỉ giữ chay với thói quen hình thức, mà không yêu thương, từ tốn, nhã nhặn, tha thứ cho những người xung quanh, thì việc giữ chay không có ý nghĩa gì./.
C.H
Tài liệu tham khảo:
Ban Giáo lý giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh (1997), Giáo lý Hội thánh Công giáo, Số 575, 1387, 1430, 1434, 2043, 2742.
- Https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%82n_chay.
- Hội đồng Giám mục Việt Nam (2006), Bộ Giáo luật 1983, NXB Tôn giáo, Hà Nội.
- Giáo hoàng John Paul II (1979), Sứ điệp mùa Chay, Số 2

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY

Dưới đây là 40 thứ có thể từ bỏ để sống Mùa Chay. Không phải là những thứ liên quan việc ăn uống, nhưng chúng thực sự cần từ bỏ. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, mỗi ngày cố gắng từ bỏ 1 điều. Trong 40 điều này, có những điều không chỉ từ bỏ trong Mùa Chay mà phải từ bỏ suốt cả đời.
  1. SỢ THẤT BẠI – Bạn không thành công nếu chưa trải qua thất bại. Đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Thất bại là mẹ thành công”.
  1. VÙNG AN TOÀN – Đó là “vùng thoải mái”, sợ khó. Dám ra ngoài “vùng” này thì chúng ta mới có thể khám phá những điều mới lạ.
  1. CẢM THẤY HOÀI NGHI – Có lúc chúng ta nghi ngờ rằng không biết Tạo Hóa có tạo dựng nên mình hay không. Hãy xác định như tác giả Thánh Vịnh: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự” (Tv 139:13-16).
  1. THIẾU KIÊN NHẪN – Thời giờ của Thiên Chúa là thời giờ hoàn hảo. Mọi thứ đều đúng hẹn, đúng kỳ theo ý Ngài tiền định và quan phòng.
  1. SỐNG ẨN DẬT – Còn hít thở, chúng ta còn sống với người khác và tương tác với họ vì Đức Kitô. Công việc của chúng ta luôn ảnh hưởng người khác.
  1. LÀM VUI LÒNG NGƯỜI KHÁC – Không ai có thể làm vừa lòng mọi người, nhưng chúng ta phải luôn cố gắng làm vui lòng người khác, còn họ có vừa lòng hay không là phần của họ.
  1. SO SÁNH – Một là cảm thấy mình kém cỏi hơn người khác, hai là cảm thấy mình “ngon lành” hơn người khác. Dạng nào cũng không được.
  1. TRÁCH CỨ – Chúng ta có xu hướng không dám nhận lỗi, và luôn muốn đổ lỗi cho người khác.
  1. PHẠM TỘI – Nhân vô thập toàn. Mặc dù chúng ta là tội nhân, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta, và Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta. Hôm nay là ngày mới, hôm qua đã không còn.
  1. MẤT TỰ CHỦ – Do đó chúng ta khó có thể hoàn tất công việc và làm tốt hơn.
  1. THIẾU DỰ ĐỊNH – Các quyết định khôn ngoan hiếm khi trở thành vô ích.
  1. KHÔNG MINH BẠCH – Một là không minh bạch về điều này hoặc điều nọ (khuất tất), hai là không trong sạch (nhân đức).
  1. TỰ QUYỀN – Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta điều gì, thế giới cũng chẳng mắc nợ chúng ta điều gì. Hãy cố gắng sống trong ân sủng và khiêm nhường.
  1. LÃNH ĐẠM – Cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ. Không quý mến nhau thì cũng đừng kèn cựa nhau. Tranh chấp nhau, giành giật nhau, hơn thua nhau làm gì?
  1. GHEN GHÉT – Hãy cảnh giác kẻo mắc lừa ma quỷ, bởi vì chúng rất ranh mãnh. Kinh Thánh căn dặn: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12:21).
  1. TIÊU CỰC – Hãy cố gắng quan hệ hòa nhã với mọi người. Tránh né người khác là tiêu cực, mà cũng chỉ vì chúng ta không coi trọng người khác nên mới tránh né họ.
  1. MÊ VẬT CHẤT – Hãy nhớ rằng có Thiên Chúa là có tất cả, mất Thiên Chúa là mất tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23:1).
  1. SỐNG MÁY MÓC – Càng đầu tư nhiều thì càng có lợi nhiều. Về tinh thần và tâm linh cũng vậy.
  1. THAN PHIỀN – Đừng cằn nhằn, khó tính, than thân trách phận hoặc trách móc người khác, hãy cố gắng xử lý và giải quyết vấn đề cho thấu đáo.
  1. BẤT CẦN – Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc cả đời này và đời sau. Đó là niềm vui sống. Đừng buông xuôi, bất cần đời!
  1. GAY GẮT – Đó là tự làm khổ mình, và tất nhiên cũng làm khổ người khác. Tâm bất an thì không thể nào sống vui và sống khỏe, bệnh tật phát sinh từ đó.
  1. CHIA TRÍ – Cuộc sống có nhiều thứ khiến chúng ta chia trí, vì thế cần phải tập trung vào mục đích của mình.
  1. MẶC CẢM – Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ chúng ta, dù chúng ta xấu xa và tội lỗi: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì hãy còn có Chúa đón nhận con” (Tv 27:10).
  1. TẦM THƯỜNG – Cuộc đời chúng ta có thể không ai biết đến, không có gì khác thường, sống rất bình thường, nhưng tuyệt đối đừng sống tầm thường.
  1. GÂY CHIA RẼ – Chia rẽ là chết, đoàn kết mới sống. Khuyến khích nhau là điều cần thiết, mọi nơi và mọi lúc: “Phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần” (DT 10:25).
  1. BẬN RỘN – Đó là “huy hiệu danh dự” của người mê công việc mà bỏ bê những thứ cần thiết khác.
  1. CÔ ĐỘC – Có Chúa Giêsu, chúng ta sẽ không cô độc. Ngài luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta.
  1. BẤT HÒA – Xung đột là mối nguy cho cuộc sống, cả đời thường và tâm linh. Xung đột xảy ra thì không thể hợp tác. Sự cộng tác và đồng tâm nhất trí rất cần: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho” (Mt 18:19).
  1. VỘI VÀNG – Dục tốc bất đạt. Dù to hay nhỏ, cái gì cũng cần có thời gian, không thể một sớm một chiều.
  1. LO LẮNG – Thiên Chúa kiểm soát mọi sự, chúng ta có lo lắng cũng chẳng thay đổi được gì: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:33-34).
  1. THẦN TƯỢNG HÓA – Đừng thần tượng hóa bất cứ ai, bắt chước là ngu xuẩn, hãy cứ là chính mình! Chỉ có Thiên Chúa là Đấng hoàn hảo mà thôi.
  1. CỐ CHẤP – Cuộc sống luôn phải thay đổi để thích nghi mọi thứ. Cố chấp là ích kỷ, là hèn nhát.
  1. KIÊU NGẠO – Thiên Chúa hạ bệ kẻ kiêu ngạo, nhưng nâng cao người khiêm nhường (Lc 1:51-52).
  1. NÔNG CẠN – Đừng nói rằng vấn đề khó quá, chính vấn đề khó đó cho chúng ta biết Thiên Chúa vĩ đại. “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Thái Học).
  1. ĐỐ KỴ – Người Pháp có câu nói chí lý: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối người khác”. Mọi người đều là anh em và là con một Cha trên trời.
  1. VÔ ƠN BẠC NGHĨA – Cuộc sống là những ngày tháng chúng ta mắc nợ Thiên Chúa mọi, chúng ta cũng mắc nợ tha nhân và xã hội nhiều thứ. Do đó, chúng ta không thể không biết ơn Thiên Chúa và cuộc đời.
  1. THAM LAM – Thiên Chúa có kế hoạch riêng dành cho mỗi người: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta” (Is 45:4). Hãy cố gắng làm trọn công việc Ngài giao phó.
  1. TỰ MÃN – Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta: “Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết” (Pl 4:13). Có Ngài thì chúng ta mới làm được công kia việc nọ, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì đâu: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15:5).
  1. ƯU SẦU – Buồn thì cứ khóc, xong rồi thôi. Đừng giam mình trong vòng ưu sầu. Mọi sự sẽ qua, cứ tín thác vào Thiên Chúa: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người” (Tv 30:5b).
  1. CUỘC ĐỜI – Thế gian là cõi tạm, rồi sẽ qua đi. Đừng coi nặng vật chất, kể cả cuộc sống của chúng ta, tất cả chỉ là bụi tro mà thôi. Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời” (Ga 12:25).
TRẦM THIÊN THU (biên soạn theo Greater Things Today)
Khởi đầu Mùa Chay – 2017

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

NIỀM TIN TÍN THÁC



Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
Người ta hay nói chơi rằng: “đời là bể khổ và qua được bể khổ là qua đời!”. Xem ra cuộc đời là một chuỗi năm tháng dài đầy những khổ đau và mất mát. Bể khổ cuộc đời cứ đan xen trong kiếp người đến nỗi mà cụ Nguyễn Du phải thốt lên rằng:
“Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”
Nhìn trò bãi bể nương dâu ấy con người thường ngậm ngùi nuối tiếc mà than thở:
“Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu”
Nhưng có người lại hỏi rằng: Đời có thật là “bể khổ” không? Hay chỉ những người nghèo mới khổ, người giầu có tiền rừng bạc biển, “có tiền là có tất cả”, dùng tiền mua được cả vua chúa, kẻ hầu người hạ, muốn gì được nấy, trong nhà thì chăn êm nệm ấm, ra ngoài thì mọi người nể sợ, cuộc đời sướng như thần tiên, có gì là khổ đâu?
Nếu hiểu bể khổ là nỗi đau của những mất mát, những thua thiệt thì giầu nghèo đều có nỗi đau ấy! Có người giầu sang nhưng một cơn gió thoảng họ cũng ra đi để lại tất cả. Có người bị nỗi đau của mất mát tài sản sau thời gian vất vả tiềm kiếm. Có người mải làm giầu mà mất vợ con. Có người bị nỗi đau của thất nghiệp, của nợ nần, của nghèo đói. Có người bị nỗi đau của bệnh tật, của chia ly…
Có người nhìn nỗi đau như Trời định để tự an ủi mình. Có người lại nhìn nỗi đau như Trời phạt hay bị Trời bỏ rơi nên oán trách trời đất. Dường như con người hay có cái nhìn đổ lỗi cho Trời. Tất cả cái xui xẻo đều do Trời không thương mình nên đầy đọa, bỏ rời mình. Nếu Trời ủng hộ thì ta đâu có bi cục của bãi bể nương dâu?
Đây cũng là cái nhìn của Matta. Bao lâu nay bà vẫn coi Chúa Giê-su là bạn tâm huyết thì đâu sợ gia đình gặp tai ương. Có Chúa thì đời bà sẽ tránh mọi rủi ro. Nhưng rồi em bà là Lagiaro lại chết. Cái chết tuổi xuân xanh của em khiến bà hụt hẫng mà trách Chúa. “Nếu Thầy ở đây thì em con không chết”. Tiếng bà nuốt nghẹn những nuối tiếc chia ly. Bà không cam lòng khi thấy em mình chết trẻ. Bà càng không hiểu tại sao Thầy Giê-su lại không đến giúp em mình khi nghe tin Lagiaro đau bệnh?
Ở đây chúng ta thấy thái độ của Chúa Giê-su rất điềm đạm và giầu tình thương. Ngài muốn qua biến cố này củng cố thêm đức tin cho Matta. Chúa nói với Matta rằng: “nếu ngay bây giờ con tin thì con vẫn thấy điều kỳ diệu xảy ra”. Việc người chết sống lại là không thể đối với loài người nhưng không khó đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa có thể từ hư vô mà tạo thành vạn vật. Thiên Chúa có thể chuyển bại thành thắng. Thiên Chúa có thể phục sinh kể chết vì Ngài là Đấng quyền năng. Thế nên, hãy tín thác nơi Ngài. Ngài có thể giúp con người vượt qua mọi bể dâu cuộc đời.
Matta đã tin và đã thấy việc kỳ diệu. Matta càng xác tín hơn về niềm tin của mình khi bà thưa cùng Chúa: “Thưa Thầy con tin. Con tin Ngài là Đức Ky tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian”. Và rồi chính nhờ đức tin ấy bà đã “thấy vinh quang Thiên Chúa”.
Cuộc đời hôm nay vẫn còn đó những cái khổ tột cùng của nghèo đói, bệnh tật, chết chóc. . . Con người luôn phải đương đầu với sự dữ. Những bất hạnh rủi ro luôn rình rập và đổ xuống trên cuộc đời chúng ta. Nhìn cuộc đời khổ nhiều hơn vui khiến chúng ta vẫn từng hỏi: Chúa ở đâu sao để cuộc đời luôn giăng đầy sầu đau? Chúa có nhìn thấy những bất hạnh mà con đang gặp phải trong cuộc đời vốn dĩ lắm nổi trôi lại nhiều phiền muộn này?
Bài phúc âm hôm nay, mời gọi chúng ta đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa. Thiên Chúa vẫn luôn quan tâm đến chúng ta. Người luôn đi bước trước để an ủi, nâng đỡ chúng ta. Người cũng đang mời gọi chúng ta đặt niềm tin vào Chúa như Matta để trong những biến cố đau thương nhất của cuộc đời chúng ta vẫn có thể thưa lên cùng Chúa: Con tin Chúa có thể làm những điều tốt đẹp nhất cho con.
Đau khổ là một sự dữ. Bất hạnh của cuộc đời là đêm tối của đức tin. Chính trong những bất hạnh đó, chúng ta mới thấy con người thật nhỏ bé, tầm thường, để biết đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa. Con người luôn bất lực trước sự dữ, nhưng nếu Thiên Chúa muốn, Ngài có thể giải thoát chúng ta ngay bây giờ khỏi mọi điều sự dữ. Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết đặt niềm tin tưởng cậy trông vào Chúa ngay giữa những gian nan của dòng đời và ngay giữa những bất hạnh của cuộc đời chúng ta. Amen