Thứ Sáu, 20 tháng 9, 2013

THẰNG CUỘI




                                             Thng cui       
                                             Nhạc : LÊ THƯƠNG 
                                             TỐ HÀ trình bày 



T bé, chúng ta thường nghêu ngao ca hát : 

Th
ng Cui ngi gc cây đa, 
Đ
 trâu ăn lúa, gi cha i. 
Cha còn c
t c trên tri, 
M
 còn cưỡi nga đi mi quan viên. 
Ông th
i cm bút cm nghiên, 
Ông th
i cm tin đi chu
c lá đa.

R
m tháng tám, năm nào cũng nghe ging ca nhi đng hn nhiên tươi thm : 

Bóng trăng tr
ng ngà 
Có cây đa to
 
Có th
ng Cui già 
Ôm m
t mi mơ
...

Dù Cu
i có sng đến già vn còn b gi là thng. Người ta khinh thường Cui quá. Chc ti Cui có tt hay nói di. Tuy vy cũng có người ni ghen thy Cui được sng gn Hng Nga. Ch thế mà Tn Đà ni cơn ngông "Mun làm thng Cui" : 

Đêm thu bu
n lm ch Hng ơi 
Tr
n thế em nay chán na ri 
Cung qu
ế đã ai ngi đó cha 
Cành đa xin ch
 nhc lên chơi 
Có b
u có bn can chi ti 
Cùng gió cùng mây th
ế mi vui 
R
i c mi năm rm tháng tám 
T
a nhau trông xung thế gian cườ
i.

Cu
i là ai ? 

Các t
 đin đu gii thích rng Cui là mt nhân vt, có sách ghi là mt đa bé con ca chuyn c tích, ngi dưới gc cây đa trên mt trăng. 

T
i sao Cui đang sng đng sau lũy tre làng t dưng li bay bng lên tn mt trăng, sng vi ch Hng như vy ? 

Chuy
n k rng : 

M
t hôm Cui vào đn ci trong rng gp m h con. Cui ly rìu đp chết. Cht có tiếng h m rng  đng xa, Cui s quá leo tót lên mt cây ngi np. H m lng ln quanh đám h con, ri b đi v phía b sui. Cui tt xung theo rình. H m đến cnh mt cây con, đp ít lá, mang v nhai nát, rt cho h con. Ch mt lát h con tnh li. M con h b khu rng đi ch khác. 

Cu
i ra b sui đào cây con mang v trng trong vườn. T đy Cui có món thuc ci t hoàn sinh, cu mi người. Cui rt quý cây thuc, ngày nào cũng dn v phi chăm sóc nó. Cui cm v không được đái vào gc cây vì cây s dông lên tri. Nghe dn nhiu ln, v Cui phát cáu. Đã vy thì c đái xem chuyn gì xy ra ? 

V
 Cui va đái vào gc cây xong thì cây bng rung đng, tróc gc bay lên tri. Đúng lúc Cu rng v, ch kp bám r cây níu li. Nhưng cây c bay lên, kéo Cui ti tn mt trăng. 

T
 đó đến gi Cui vn còn ng gc cây, sng bên cnh ch Hng. 

Ý nghĩa câu chuy
n tht là hóm hnh. Culà đa chuyên nói di, la nga khác. Ln nào cũng dùng mo đc thng đám cường hào, phú h. Đến khi Cui mun hoàn lương, ra tay cu đi, thì li b tht bi. Cui thay đi bn cht nhưng cuc đi xung quanh thì không thay đi. Cui phi đi sang mt thế gii khác tìm đt sng. 

M
i đêm sáng trăng, t tri cao Cui ngo mn ngó đám đàn em ca mình đang khua môi múa mép, tung hoành nơi quê hương xa vi vi. 

(Theo Nghiêm To
n, Vit Nam văn hc s trích yếu, Khai Trí, Sài Gòn, 1968). 

Cu
i có m Vit nam t lúc nào ? Chc là đã t lâu. Đi Nam quc âm t v ca Huỳng Tnh Ca (1895) đã nói đến Cui. Tên Cui t đâu ra ? Lê Ngc Tr (Tm Nguyên t đin Vit Nam, Nxb Tp H Chí Minh, 1993) cho rng ch Cui có gc Hán Vit là ch "Qui". Ch Qui (Thiu Chu) hoc Quy(Đào Duy Anh) có nghĩa là la di, d d người khác mua hàng, bt con nít đem bán (m mìn). 

Trong dân gian có chuy
n thng Qui và thn mt trăng : 

"M
t trăng tính nóng ny, li hay xà xung gn dòm ngó h gii làm cho dân chúng khn kh vì nóng bc. By gi có thng Qui đnh tâm cho thn mt v. Nó nm cát trèo lên cây cao ngi đi. Lúc mt trăng xà xung, nó ném cát túi bi vào mt thn. Mt trăng t đó b cát làm m đi và cũng t đó thn không dám xung gn h gii, cho nên  h gii đ nóng bc." (Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Văn hc dân gian tp 2, Nxb Đi hc và Trung hc chuyên nghip, Hà Ni 1973). 

Th
ng Qui chng li thn mt trăng, trong khi thng Cui thì li bay lên sng trên mt trăng. Ni dung hai chuyn mâu thun nhau. Hay là thng Qui và thng Cui ch là hai anh em h ca dòng h nói di ch không phi là cùng mt nhân vt ? 

Đ
 gii quyết mâu thun, tôi cho rng ch Cui còn có th là do ch hán vit "Cung" mà ra. Cung nghĩa là nói di, la di (Thiu Chu, Đào Duy Anh). 

Cũng nên nói thêm r
ng thng Cui không dính dáng gì vi hòn cui (si đá) ca tiếng Vit. 

Mãi đ
ến năm 1937, t đin Vit-Hoa-Pháp ca Gustave Hue vn chưa có ch cui nghĩa là si đá. Năm 1940 nhà xut bn Tân Dân cho in "Vang bóng mt thi" ca Nguyn Tuân, trong đó có truyn ngn Hương Cui, k chuyn làm ko mch nha bc cui. Ch cui (tiếng Pháp là galet, calcul) chính thc có mt trong Dictionnaire vietnamien-chinois-frans ca Eugène Gouin (IDEO, Saigon, 1957) k t năm 1957. Đào Đăng V (Vit Pháp t đin, Nguyn Trung, Sài gòn, 1961) dch ch cui là caillou, galet. 

Ph
i chăng ch cui (si đá) đã đến t ch calcul hoc caillou ca tiếng Pháp ? Và ko cui ca Nguyn Tuân đã được gi ý t ko cui (dragée) ca Pháp ? 

Ngày nay, s
i và cui được đnh nghĩa là "đá nh tròn và nhn, thường  lòng sông, lòng sui" và cui là hòn si ln, sn là hòn si nh (t đin tiếng Vit, Văn Tân ch biên, Nxb KHXH, Hà Ni, 1977) 

V
 kích thước hòn cui, hòn si, t đin tiếng Vit (Hoàng Phê ch biên, Nxb KHXH, Hà Ni, 1988) mô t gn ging Larousse (cui : 1-10 cm, si : 2-10mm)

Chú Cu
i cung trăng

Ngày x
ư mt min n có mt người tiu phu tên là Cui. Mt hôm, như l thường, Cui vác rìu vào rng sâu tìm cây mà cht. Khi đến gn mt con sui nh, Cui bng git mình trông thy mt cái hang cp. Nhìn trước nhìn sau anh ch thy có bn con cp con đang vn nhau. Cui lin xông đến vung rìu b cho mi con mt nhát lăn quay trên mt đt. Nhưng va lúc đó, cp m cũng v ti nơi. Nghe tiếng gm kinh h sau lưng, Cui ch kp qung rìu leo thot lên ngn mt cây cao. T trên nhìn xung, Cui thy cp m lng ln trước đàn con đã chết. Nhưng ch mt lát, cp m lng lng đi đến mt gc cây gn ch Cun, đp ly mt ít lá ri tr v nhai và mm cho con. Chưa đy ăn gip miếng tru, bn con cp con đã vy đuôi xông li, khiến cho Cui vô cùng sng st. Ch cho cp m tha con đi nơi khác, Cui mi ln xung tìm đến cây l kia đào gc vác v.

D
c đường gp mt ông lão ăn mày nm chết vt trên bãi c, Cui lin đt gánh xung, không ngn ngi, bt ngay my lá nhai và mm cho ông già! Mu nhim làm sao, mm va xong, ông lão đã m mt ngi dy. Thy có cây l, ông lão lin hi chuyn. Cui thc tình k li đu đuôi. Nghe xong ông lão kêu lên:

- Tr
ơi! Cây này chính là cây có phép "ci t hoàn sinh" đây. Tht là tri cho con đ cu giúp thiên h. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nh đng tưới bng nước bn mà cây bay lên tri đó!

Nói r
i ông lão chng gy đi. Còn Cui thì gánh cây v nhà trng  góc vườn phía đông, luôn luôn nh li ông lão dn, ngày nào cũng tưới bng nước giếng trong.

T
 ngày có cây thuc quý, Cui cu sng được rt nhiu người. H nghe nói có ai nhm mt tt hơi là Cui vui lòng mang lá cây đến tn nơi cu cha. Tiếng đn Cui có phép l lan đi khp nơi.

M
t hôm, Cui li qua sông gp xác mt con chó chết trôi. Cui vt lên ri gi lá trong mình ra cu cha cho chó sng li. Con chó qun quít theo Cui, t lòng biếơn. T đy, Cui có thêm mt con vt tinh khôn làm bn.

M
t ln khác, có lão nhà giàu  làng bên ht hi chy đến tìm Cui, vt nài xin Cui cu cho con gái mình va sy chân chết đui. Cui vui lòng theo v nhà, ly lá cha cho. Ch mt lát sau, mt cô gái đang tái nht bng hng hào hn lên, ri sng li. Thy Cui là người cu sng mình, cô gái xin làm v chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng g con cho Cui.

V
 chng Cui sng vi nhau thun hòa, êm m thì tht nhiên mt hôm, trong khi Cui đi vng, có bn gic đi qua nhà Cui. Biết Cui có phép ci t hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết v Cui, c ý moi rut người đàn bà vt xung sông, ri mi kéo nhau đi. Khi Cui tr v thì v đã chết t bao gi, mm bao nhiêu lá vn không công hiu, vì không có rut thì làm sao mà sng được.

Th
y ch khóc thm thiết, con chó li gn xin hiến rut mình thay vào rut v ch. Cui chưa tng làm thế bao gi, nhưng cũng liu mượn rut chó thay rut người xem sao. Qu nhiên người v sng li và vn tr đp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cui bèn nn th mt b rut bng đt, ri đt vào bng chó, chó cũng sng li. V vi chng, người vi vt li càng qun quít vi nhau hơn xưa.

Nh
ưng cũng t đy, tính nết v Cui t nhiên thay đi hn. H nói đâu là quên đó, làm cho Cui lm lúc bc mình. Đã không biết my ln, chng dn v: "Có đái thì đái bên Tây, ch đái bên Đông, cây dông lên tri!". Nhưng v Cui hình như lú rut, lú gan, va nghe dn xong đã quên biến ngay.

M
t bui chiu, chng còn đi rng kiếm ci chưa v, v ra vườn sau, không còn nh li chng dn, c nhm vào gc cây quý mà đái. Không ng ch ta va đái xong thì mt đt chuyn đng, cây đo mnh, gió thi ào ào. Cây đa t nhiên bt gc, lng thng bay lên tri.

V
a lúc đó thì Cui v đến nhà. Thy thế, Cui ht hong vt gánh ci, nhy b đến, toan níu cây li. Nhưng cây lúc y đã ri khi mt đt lên quá đu người. Cui ch kp móc rìu vào r cây, đnh lôi cây xung, nhưng cây vn c bc lên, không mt sc nào cn ni. Cui cũng nht đnh không chu buông, thành th cây kéo c Cui bay vút lên đến cung trăng.

T
 đy Cu luôn cung trăng vi c cái cây quý ca mình. Mi năm cây ch rng xung bin có mt lá. Bn cá heo đã chc sn, khi lá xung đến mt nước là chúng tranh nhau đp ly, coi như món thuc quý đ cu cha cho tc loi chúng. Nhìn lên mt trăng, người ta thy mt vết đen rõ hình mt cây c th có người ngi dưới gc, người ta gi cái hình y là hình chú Cui ngi gc cây đ..".

D
 bn Chú Cui

Ngày x
a ngày xưa có mt cu bé tên là Cui. Cui là mt đa tr thông minh, nhưng như cái tên ca nó gi cho bn thy, nó dùng phn trí thông minh đ nói di. Nó rt khoái đánh la nhng người chung quanh. Không mt ai tránh khi b nó la di; thm chí c chú thím nó là nhng người đã mang nó v nuôi sau khi cha m nó qua đi, nó cũng không tha.

M
t hôm, chú nó đi cày  cánh đng xa, còn thím nó thì  nhà lo toan công vic ni tr. Nhìn thy thím nó bn rn, Cui cht nghĩ ra mt trò di trá đ trêu chc c ông chú ln bà thím. Nó ln ra khi nhà, chy thng ra đng, nơi chú nó đang cày. Va chy đến rung, nó đã gi git ging:

- Chú 
ơi! Chú! Chú v nhà ngay! Thím b ngã thang, máu chy đm đìa, cháu chng biết xoay x thế nào.

Ch
ng kp nói năng, chú nó lao v nhà. Thng Cui theo đường tt chy tót v trước. Nó nhy b vào trong nhà kêu tướng lên:

- Thím 
ơi! Thím! Chú b trâu húc  ngoài đng. Hình như sng trâu đâm xc vào bng chú. Thím đi nhanh lên không chú chết mt!

Cu
i nói chưa dt li, thím nó đã chy ra khi nhà. Cui nhìn theo, toe toét cười khoái trá và đng np đng sau nhà.

Thím nó ch
y vt chân lên c mà vn s không kp. Thế ri đúng vào lúc thím nó va đến ch đường ngot thì đâm sm phi mt người, hóa ra đó chính là chng mình đang th hng hc và đm đìa m hôi. Hai người nhìn nhau lng người đi.

- Cái th
ng Cui! Hai người hiu ngay ra là h li b mc la thng cháu.

Chú thím nó n
i cơn thnh n. Ông chú nói:

- T
 nay v sau, chúng ta quyết không đ thng nhãi con y đánh la na!

Hai 
v chng tr v nhà và tìm thy Cui đang n sau nhà. Hai người đem nht nó vào trong mt cái st tre to, buc cht np li cho chc chn.

 đy cho đến ti! - Chú nó đe - Ri thím mày và tao s mang cái st này ra sông qung xung nước đ mày chng còn bao gi nói di được na!

Đ
ến chiu, chú thím nó mang st ra sông. Nhưng đúng vào lúc h đnh qung nó xung nước, Cui kêu lên:

- Chú thím 
ơi! Cháu biết mình có li ri. Cháu xin sn lòng chu ti. Nhưng xin chú thím cho cháu mt ân hu cui cùng: Cháu có mt quyn sách dy nói di giu kín  đng sau b thóc trong nhà. Nay cháu mun mang theo đ đ dưới âm ti.

C
 chú và thím nó đu không n chi t. V li, chú nó cũng còn tò mò mun biết quyn sách đó nói gì. Thế là ông ta v nhà lc tìm.

Gi
a lúc Cui ngi trong st ch đi, thì mt người mù đang dò dm dc b sông. Thng bé lin gi to:

- Ông mù 
ơi! ông mù! Nếu ông mun li được sáng mt ra, thì hãy đến đây!

Nghe th
y thế, người mù lin dò đường đến ch cái st.

- Nhanh lên nào, nhanh lên!
 - Cui nói - Ông hãy tháo cái np st này ra, ri tôi s bo cho ông biết cách cha bnh mù.

Ng
ười mù dò dm quanh cái st và rt cuc cũng tìm cách m được cái np ra. Np st va bt m, Cui nhy vt ra ngoài chn thng.

Khi chú thím nó tr
 li b sông đ nói cho nó biết là h chng tìm thy quyn sách đâu c, thì thng bé không còn  trong st na. Ch có mt người mù ti nghip đang đng đi đ hc cách cha cho mt mình khi mù. Chú thím nó li b la mt ln na.

Th
ng Cui chy đến bi tre dày đ gn b sông. Trong lúc đang tha thn quanh bi tre, nó v được mt cái hũ c đng đy vàng. Tht là may biết my, Cui lin mang vàng v nhà cho chú thím. 

Nh
 có hũ vàng, gia đình chú thím Cui tr nên giàu có. Chú thím nó gi đây hiu rng có mng m my cũng không làm cho thng bé thay đi được tính nết. H nghĩ: hay cưới cho nó mt cô v t tế, có th nó s thôi nói di và b cái tt ăn không ngi ri. Vì vy hai người cưới cho Cui mt cô gái người làng. Dường như trong mt thi gian, vic cưới xin đó có làm cho Cui đ nói di đi nhưng ch my tháng sau, khi thím nó chết, Cui li tiếp tc nói di và đánh la mi người như trước.

M
t hôm, Cui đi lang thang trong rng, bt gp my con h con đang nm trên c. Vn là mt người xu tính, Cui bđàn h con và b gy chân ca chúng. Đau quá, lũ h con kêu lên, lin nghe có tiếng gm kinh rn t mt nơi nào gn đó. Chc là h m! Cui vn ngay vào đng sau mt bi cây. Mt lát sau, h cái xut hin. Khi thy con b đau, nó cp tng con đến dưới mt gc cây non cành lá xanh tt. Nó bt vài chiếc lá ri nhai nh và rt vào ch chân b gãy ca đàn con, Cui vô cùng sng st, lũ h con ch sau ít phút đã lành ln.

Cu
i rình cho đến khi đàn h đi hết, ri đào cây vác v nhà. Cui trng cây đó  trong sân và đt tên cho nó là cây đa. T đy tr đi, Cui chăm bón cây rt cn thn. Nó nói vi v rng, cái cây này là ca mt v thn đã cho nó, lá cây có th cha lành các vết thương, cha khi mi chng bnh và còn có th ci t hoàn sinh. Cui dn v phgi cho cây đa được luôn luôn sch s. Nhiu ln Cui đe v:

- C
m có đ rác vào gc cây, ko nó bay đi mt!

Tho
t đu v Cui làm theo li chng dn. Nhưng dn dn v sau,  đâm ra bc mình vi chng vì thy Cui t ra quý cây hơn v cũng phát ngy v nhng li chng răn dy. Thế ri mt hôm, xy ra chuyn cãi c v cái cây,  không còn kim chế được na, hét lên:

- Đây c
 đ rác vào gc cây nếu như đây mun.

T
c ti,  mang mt thúng rác đy t trong nhà bếp ra, đ c đóng vào gc cây đánh rm mcái. Đt nhiên, cây đa bt đu lung lay, ri t t bt r khi mt đt và bc lên cao.

Nhìn th
y s th xy ra, Cui lao sn đến cây đa, bám cht vào mt cái r. Nhưng cây đa c tiếp tc bc lên cao. Nó c bay lên mãi, cao vút trên bu tri cùng vi chú Cui bím cht ly r.

Cây đa bay mãi, bay mãi cho đ
ến khi ti mt trăng và đng  đy sut t đó cho đến bây gi.

N
ếu bn nhìn k mt trăng, bn vn còn có th trông thy bóng cây đa  trên đó, có chú Cui ngi dưới gc cây, nht là vào lúc tri quang và gp kỳ trăng tròn và sáng

L
i bình

N
ếu như  truyn Thn Tr Tri ta thy có nhng đim tương đng và khác bit so vi truyn "Thn Bàn C" ca Trung Quc thì  truyn Chú Cui cung trăng cũng có th tìm thy nhng đim chung và riêng so vi truyn "Hng Nga và Hu Ngh". S ging nhau và khác nhau trong truyn thn thoi cũng như trong truyn dân gian nói chung ca các dân tc, nht là các dân tc gn nhau, là hin tượng ph biến và d hiu. Điu quan trng đáng chú ý không phi là s ging nhau hay khác nhau ca tng chi tiết mà là tính hoàn chnh và s đc đáo ca mi đơn v tác phm.

Trong "Văn h
c dân gian Vit Nam", nhân vt Cui xut hin khá sm và tn ti, phát trin khá lâu dài, phong phú trong nhiu thi kỳ và  các th loi khác nhau. Cui có trong thn thoi, trong c tích, trong truyn cười và phn nào trong c truyn ng ngôn. Trong ca dao, dân ca cũng có khá nhiu bài, nhiu câu vi nhng d bn khác nhau v Cui:

Ví d
:

Th
ng Cui ngi gc cây đa
Đ
 trâu ăn lúa kêu cha i!
M
 Cui ct c trên tri
Cha Cu
i cưỡi nga đi mi quan viên
Tay thì c
m bút cm nghiên
Tay thì c
m tin, đi chuc ly trâu

Ho
c:

Th
ng Cui ngi gc cây đa
B
 chân xung giếng được ba đng tin
Đ
ng thì mua trng, mua kèn
Đ
ng thì mua m thp đèn th vong.
Sáng ma
i rước Cui ra đng.
Cu
i ngi Cui khóc nhng chng Cui đâu?
Ch
ng Cui còn mc chăn trâu ... 

Cu
i còn có trong hi ha, trong các loi trò chơi dân gian, trong tc ng và thành ng. Câu "Nói di như Cui" hoc "Nói Cui" có l không my người nói tho tiếng Vit không biết.

T
i sao vy? Ti sao nhân vt Cui đi vào nhiu lĩnh vc khác nhau ca văn hc ngh thut dân gian và đi sng tinh thn ngii Vit Nam như vy?

Đó là m
t câu hi, mt vn đ rt đáng đt ra cho hot đng nghiên cu văn hc và văn hóa dân gian Vit Nam. Và đ gii quyết vn đ này thì trước hết phi đi vào tng tác phm, tng lĩnh vc có nhân vt Cui.

Truy
n "Chú Cui cung trăng" có l là tác phm xut hin sm nht v nhân vt Cui.

Có ng
ười xếp truyn này vào th loi c tích. Xét trên nhiu phương din và yếu t thì truyn "Chú Cui cung trăng" gn vi thn thoi hơn c tích, nó là mt thn thoi đã ít nhiu b c tích hóa nhưng đ tài, ch đ và ni dung ct lõi vn là thn thoi.

Cu
i đã tìm được cây thuc quý, cha cho nhiu người chết đi sng li, đó là thuc trường sinh hay thuc ci t hoàn sinh. Đc đim này khiến cho Cui gn vi các nhân vt anh hùng văn hóa, nhng người có công sáng chế phát minh, được nhân dân thi c đi suy tôn, ca ngi và thn thánh hóa  mc này hoc mc khác. Đây là lp truyn ra đi mun trong kho tàng thn thoi các dân tc nên nó gn vi c tích và d b c tích hóa.

Ngoài vi
c tìm được cây thuc quý, Cui còn làm được vic th hai quan trng là đem được ging cây y v trng  trong vườn, thành công (cây sng được và gi nguyên công hiu, dược tính). Hơn na Cui còn có mt kỳ tích th ba đáng k, đó là vic th nghim thay rut người bng rut chó và nn mt b rut chó bng đt sét đ thay thế. Hin nhiên đó là chuyn hoang đường, h tưởng (vì đó là thn thoi). Nhưng rõ ràng nhng chi tiết hoang đường, h tưởng y đã phn ánh nhng ước mơ và gi thiết táo bo v y hc ca người xưa. Nhng tiến b, phát minh mi gn đây ca y hc hin đi (như thay thn nhân to, thay rut, thay tim, thay mt...) càng chng minh rng nhng ước mơ gi thiết nói trên không phi là hoàn toàn là vô lý.

Chi ti
ết v Cui hay quên, sau khi b thay rut ch lú ln nói trước quên sau, đã đi gii vào gc cây thuc quý đ cho nó bay đi mt (!) - tht đc đáo, thú v và giàu ý nghĩa. Như vy là tác gi dân gian đã chú ý đến mi quan h gia sinh lý và tâm lý ca con người. Cơ th ca người và vt có th thay thế chuyn đi tng b phn, nhưng đã chuyn đi thì s có nh hưởng đến tâm sinh lý! Điu đó không phi là chân lý hay sao? Li na, cây thuc ci t hoàn sinh không ưa bn thu, uế tp. Người xưa mun nói gì qua chi tiếy? Thuc quý là cn nhưng chưa đ, phi ăn  sch s, hp v sinh na.

Cu
i biết như vy nhưng không th, hay chưa th thc hin được vì v Cui lú ln, không sáng sut, nói trước quên sau! Mun kéo dài s sng nâng cao tui th phi có nhiu điu kin khác nhau, trong đó vic nâng cao dân trí là mt điu kin quan trng không th thiếu.

Vi
c Cui bám ly gc cây thuc quý kéo xung nhưng không được, cây thuc đã lôi Cui bay thng lên cung trăng cùng vi nó đ Cui tr thành con người trường sinh bt t, tr mãi không già, là mt sáng to hết sc đc đáo và giàu ý nghĩa. Nó va kết thúc rt khéo quá trình tìm cây thuc quý đ cha bnh cu ngườca Cu trn gian va m đu cho vic đưa Cui bay vào cõi trường sinh trên mt tinh cu khác. Hình tượng "Chú Cui - Cây đa" trên mt trăng là s hình tượng hóa, nhân cách hóa và thi v hóa nhng vết đen trên mt trăng trong trí tưởng tượng phong phú hn nhiên và rt nên thơ ca người Vit c. Và như vy là trong truyn "Chú Cui cung trăng" có s kết hp khá cht ch và tài tình nhng yếu t ca thn thoi suy nguyên và thn thoi v anh hùng văn hóa  trong nhân vt Cui.

C
 theo truyn k thì Cui không bao gi chết, đến nay Cui đã có hàng vn tui, nhưng không bao gi già, vì lúc nào cũng ngi dưới gc cây thuc "trường sinh bt lão". Và cũng vì vy, mà trong tt c nhng sáng tác dân gian v Cui, nhân dân Vit Nam đu quen gi trc tiếp riêng tên Cui hoc kèm theo t "Chú" t "Thng" mt cách thân mt, âu yếm (ch không ai gi Cui là "ông" hay "bác" Cui bao gi!)

Nguy
n Dư
Nguy
n Đng Chi
Nguy
n Văn Y
Hoàng Ti
ến Tu

                                                           (blog Nguyễn Đỗ Hoa)



Thằng Cuội
Sáng tác: Lê Thương

Bóng trăng trắng ngà có cây đa to 
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ 
Lặng im ta nói Cuội nghe 
Ở cung trăng mãi làm chi 
Bóng trăng trắng ngà có cây đa to 
Có thằng Cuội già ôm một mối mơ 

Gió không có nhà 
Gió bay muôn phương 
Biền biệt chẳng ngừng 
Trên trời nước ta 
Lặng nghe trăng gió bảo nhau 
Chị kia quê quán ở đâu 
Gió không có nhà 
Gió bay muôn phương 
Biền biệt chẳng ngừng 
Trên trời nước ta 

Các con dế mèn suốt trong đêm khuya 
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ 
Đền công cho dế nỉ non, 
Trời cho sao chiếu ngàn muôn 
Các con dế mèn suốt trong đêm khuya 
Hát xẩm không tiền nên nghèo xác xơ 

Sáng rơi xuống đời, sáng leo lên cây 
Sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống đây 
Cùng trông ánh sáng cười vui 
Chị em ta hãy đùa chơi 
Sáng rơi xuống đời, sáng leo lên cây 
Sáng mỏi chân rồi, sáng ngồi xuống đây 

Các em thích cười muốn lên cung trăng 
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang 
Mười lăm tháng Tám trời cho 
Một ông trăng sáng thật to 
Các em thích cười muốn lên cung trăng 
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang 
Các em thích cười muốn lên cung trăng 
Cứ hỏi ông Trời cho mượn cái thang 
Cho mượn cái thang








Thứ Năm, 19 tháng 9, 2013

TRĂNG VÀNG MÙA THU


         Mùa thu đã về! Vẻ đẹp của mùa thu được ghi dấu bởi những chiếc lá vàng rơi lãng đãng, trong làn sương mù bàng bạc và làn gió se se lạnh đầu ngày.

        Vẻ đẹp của mùa thu còn đi liền với ánh trăng. Mặc dù mặt trăng xuất hiện quanh năm, nhưng trăng mùa thu mới mang một vẻ đẹp huyền bí, tạo nên một nét đẹp vừa thanh tao vừa lãng mạn, nhất là ở miền quê, là nơi không có nhiều ánh sáng của đèn điện. Ánh trăng thu dịu êm và tươi mát, tạo cho ta một cảm giác thư thái thanh bình. Sau một ngày lao động mệt nhọc, vầng trăng thu giúp ta lấy lại sức khỏe thể xác và tinh thần.        
        Trăng thu đã gợi hứng cho các thi sĩ tạo nên những áng thơ bất hủ. Hàn Mặc Tử, một thi sĩ công giáo, đã gắn bó cả cuộc đời mình với trăng và với thơ. Trong cuộc đời và sự nghiệp của người thi sĩ này, trăng là bạn và là nguồn cảm hứng để ông sáng tác. Ông không thể thiếu trăng trong cuộc đời. Đối với ông, trăng gợi hứng để cầu nguyện, trăng giúp ông nâng tâm hồn lên với Chúa và giúp ông trở về với đời sống nội tâm. Trăng còn là người bạn tri kỷ, là nơi ông trút bầu tâm sự những lúc ông bị căn bệnh phong quái ác hành hạ. Trăng như một người tình vừa hư vừa thực, vừa trần tục vừa thanh tao. Trăng là nơi gửi gắm yêu thương và cũng là nơi ông thể hiện sự dỗi hờn. Yêu trăng đến mức say trăng và nhìn đâu cũng thấy trăng, có lẽ điều này chỉ có nơi Hàn Mặc Tử. Cũng như thi sĩ, thiên nhiên vũ trụ đều ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của trăng:


“Trăng nằm sóng soải trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp, Chị Hằng ơi”
 
(Bẽn lẽn)


Ở nước ta và ở Trung Quốc, tết Trung thu được tổ chức vào rằm tháng 8 âm lịch. Ngày tết này cũng được gọi là tết Trông Trăng. Từ thành phố tới thôn quê, mỗi nơi mỗi vẻ, những cuộc múa lân được tổ chức rộn ràng, với tiếng trống thùng thình vang dội, thu hút nhiều trẻ em và người lớn tham gia. Những bài hát mang nội dung ca ngợi mặt trăng mà người ta gọi với cái tên rất thân thương là “Chị Hằng”. “Chị Hằng” được coi như người thân của mọi người, rất xinh đẹp và thân thiện, lại là người tốt bụng hay tặng quà cho các bé ngoan.        
          Người ta tổ chức cỗ trung thu gồm bánh, kẹo và trái cây các loại. Các em thiếu nhi thì vui mừng nhảy múa ca hát, tới khuya thì cùng “phá cỗ”, tức là mọi người cùng thưởng thức mâm cỗ đã chuẩn bị. Tết Trung thu là tết của người lớn cũng như của trẻ em. Đây là dịp biểu lộ sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ đối với con cái, là ngày hội ngộ gia đình trong bầu khí thân thương, hài hòa.

         Nếu người Việt Nam và người Trung Hoa tổ chức lễ Trung thu vào ngày rằm tháng tám âm lịch để ca ngợi vẻ đẹp của vầng trăng, thì người công giáo cũng tôn vinh Đức Mẹ Maria vào ngày 15 tháng 8 dương lịch. Trong thi ca công giáo, Đức Mẹ được sánh ví như vầng trăng tuyệt vời. Đức Mẹ không chỉ là vầng trăng cho một số dân tộc mà là vầng trăng cho cả nhân loại. Nơi Mẹ, chúng ta tìm thấy tất cả những ưu điểm của vầng trăng như sự dịu mát, thanh bình, hướng tâm, thánh thiện:


“Mẹ là suối mát trinh nguyên giữa sa mạc hoang.
Mẹ là trăng thanh đêm về chiếu sáng mênh mang.
Mẹ là tiếng hát ru êm giữa đêm hè vắng.
Mãi mãi Mẹ là mây trời biển rộng thênh thang”
 
 (Dao ca Mẹ dịu hiền – Văn Chi)


          Hơn thế nữa, Mẹ Maria còn là Đấng che chở và phù giúp chúng ta trong cuộc sống dương thế đầy gian nan vất vả. Chúng ta đều biết, mặt trăng là một tinh tú ở gần trái đất. Nó không có khả năng phát sáng, mà nó tiếp nhận ánh sáng từ mặt trời giống như bao vì tinh tú khác. Nhờ việc tiếp nhận này, mặt trăng được sưởi ấm và tích tụ ánh sáng để chiếu soi ban đêm, khi mà mặt trời bị khuất dạng bởi trái đất xoay vần. Vì thế mà ánh trăng luôn dịu dàng, thanh thoát và chiếu sáng vào ban đêm. Mẹ Maria là một thụ tạo hoàn hảo của Thiên Chúa. Mẹ nhận ánh sáng Chân Lý từ Đức Giêsu Kitô, là Mặt Trời Công Chính để rồi Mẹ thông truyền cho thế gian. Ánh sáng của Chúa Giêsu là tình yêu, lòng nhân hậu, sự từ tâm, tình huynh đệ, lòng bao dung tha thứ, lòng trung thành và khiêm nhường… Đức Giêsu là Ánh Sáng Thật, Ánh Sáng Bởi Ánh Sáng, tức là nơi Người phản ánh hình ảnh của Chúa Cha là cội nguồn ánh sáng. Ánh Sáng này đã đến thế gian để phá tan tăm tối mịt mù, để xóa bỏ hận thù ghen ghét, và khai mở một thế giới yêu thương. Tất cả giáo huấn của Chúa trong Tin Mừng đều nhằm đến nội dung căn bản này. Như thế, đón nhận Đức Giêsu là đón nhận ánh sáng từ trời, nhờ đó ta nhận ra con đường dẫn tới hạnh phúc đích thực.

          Là người Kitô hữu, chúng ta cũng được tiếp nhận ánh sáng thiêng liêng từ Chúa Giêsu, qua Giáo Hội. Trong nghi thức rửa tội, vị linh mục chủ sự trao cho thụ nhân một cây nến sáng và nói: “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô, con hãy luôn sống như con cái của sự sáng, để được bền vững trong đức tin, khi Chúa đến, con xứng đáng ra nghinh đón Người với toàn thể các thánh trên trời” (Nghi thức Rửa tội). Cũng như Đức Maria, Vầng Trăng Thu tuyệt hảo, đã đón nhận ánh sáng từ Đức Giêsu là Mặt Trời Công Chính để giãi ánh vàng êm dịu cho trần gian, chúng ta, các Kitô hữu, cũng được đón nhận ánh sáng từ Đấng Cứu độ, để thông truyền cho cuộc đời, góp phần đẩy lui bóng tối là sự hận thù ghen ghét và dối gian.

          Chúng ta đang chuẩn bị đón tết Trung thu, bầu khí rộn ràng của ngày hội vui này đang lan tỏa trong cộng đồng xã hội. Ước chi mỗi tín hữu biết ca tụng quyền năng Thiên Chúa khi ngắm vầng trăng vàng mùa thu, đồng thời nhận ra sự che chở yêu thương của Đức Mẹ, Vầng Trăng Vĩnh Cửu.


Gm Giuse Vũ Văn Thiên



(nguồn http://www.hdgmvietnam.org)

Thứ Tư, 18 tháng 9, 2013

TRUNG THU XƯA





ÔNG TRĂNG XUỐNG CHƠI  của Nhạc sĩ Phạm Duy
Ca sĩ Xuân Nghi trình bày



Mời xem lại  những hình ảnh ghi lại cảnh  trung thu thời xưa (có lẽ khoảng 1920-1930 ) .... trong  bộ sưu tập của Viện Viễn Đông Bác cổ  Pháp (École Francaise d’ Extrême - Orient)





                          




                             
                             











Thứ Ba, 17 tháng 9, 2013

CỤC ĐẤT SÉT CỦA CHÚA



            Khiêm nhường là sự tĩnh lặng hoàn toàn của con tim.  Đó là không mong đợi gì, không tự hỏi điều gì đã thực hiện ở nơi tôi, hoặc cảm nghiệm điều gì chống đối tôi.  Khiêm nhường là vẫn yên nghỉ khi không ai lên tiếng ca ngợi tôi, và khi tôi bị đổ lỗi hoặc bị khinh thường.  Nhưng chỉ có một nơi ẩn náu trong Chúa, nơi mà tôi có thể bước vào, đóng cửa lại, và quỳ xuống trước mặt Cha của tôi trong nơi bí ẩn đó, và tôi ở trong bình an như đang ở trong sự tĩnh lặng của biển sâu dầu xung quanh và trên tôi đầy những xáo trộn. - Andrew Murray

          Ông Booker T. Washington được sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh của một người nô lệ da đen, và khi ông lên chín tuổi thì gia đình ông được trả lại sự tự do.  Từ đó, ông đã cố gắng hết mình để đi học và được tốt nghiệp đại học.  Sau này ông trở thành một người giáo dục nổi tiếng và là người tư vấn cho tổng thống Mỹ.  Chuyện kể rằng một buổi sáng nọ, khi ông còn là chủ tịch của trường Đại Học Tuskegee Institute ở tiểu bang Alabama, ông đang đi dạo thì có một bà Mỹ da trắng hỏi ông có muốn chặt củi để kiếm thêm ít tiền không.  Ông Booker nhận lời và khiêm nhường xắn tay áo làm việc đã được mướn.  Khi củi đã được chặt và sắp ngăn nắp ở cạnh lò sưởi, thì đứa cháu gái chạy ra và nhận ra người chặt củi là ai.  Sáng hôm sau người bà da trắng đó đã đến gặp ông tại trường và xin lỗi, nhưng ông chỉ trả lời là “Tôi thích được có cơ hội làm việc lao động”.  Hành động đó đã đánh động bà và bà đã kêu gọi những người thân bảo trợ cho ngôi trường đó và họ đã ủng hộ rất nhiều.

            Trong chương hai của sách Sáng Thế, Thiên Chúa đã tạo dựng chúng ta từ cát bụi, và mỗi một người chúng ta là cục đất sét của Chúa từ ban đầu cho đến lúc chúng ta trở về với Ngài trong tro bụi.  Đó là điểm mà ai cũng biết và chấp nhận nhưng có bao giờ bạn thắc mắc tại sao nó lại là như vậy khi mà Thiên Chúa cho mỗi người một nét rất riêng biệt và những tài năng khác nhau không?  Bạn có nghĩ rằng điều phù hợp hơn cho cục đất sét là khi nó dùng những tài năng mà Chúa ban cho để làm cho chính nó được đẹp hơn để rồi khi nó trở về với Ngài cục đất sét ấy được biến đổi thành một cái gì khác lạ hơn không?  Chẳng hạn, nơi một vị linh mục thì cục đất sét đó được biến thể và trở thành sợi dây Stola, người nữ tu thì được biến thể và trở thành chiếc áo dòng, vị bác sĩ thì trở thành ống nghe để chẩn bịnh (stethoscope), người luật sư thì trở thành cán cân công bình, v.v...  Có lẽ nhiều người chúng ta nghĩ như vậy là chúng ta nên tô điểm con người chúng ta, làm được nhiều việc ích lợi và sinh lợi trước khi chúng ta trở về với Chúa.  Chúng ta thường nhắm đến thành tích chúng ta đạt được trong đời để khi nhắm mắt xuôi tay chúng ta cảm thấy tự hào và không hổ thẹn trước mặt Chúa.

           Tuy nhiên một sự thật chúng ta nên chấp nhận đó là những gì chúng ta đạt được hay gây dựng không thuộc về chúng ta.  Những nén bạc chúng ta sinh lợi không thuộc về mình mà thuộc về Thiên Chúa và tùy Ngài chọn lựa.  Chúng ta không thể là người tự trang điểm cục đất sét của mình mà phải đích tay Chúa nhào nắn chúng ta theo ý Ngài (Tiên tri Giêrêmia có nhắc đến hình ảnh này ở chương 18:1-6). Ngay từ ban đầu khi tạo dựng chúng ta từ bụi đất, Thiên Chúa muốn chúng ta trở về với Ngài cục mịch và thô sơ như cục đất sét nguyên thủy.  Giáo Hội cũng nhắc nhở chúng ta điều đó vào thứ Tư Lễ Tro là chúng ta là bụi tro và sẽ trở về bụi tro.  Đó là điều thực tế nhất của mỗi con người của chúng ta và đó cũng chính là hình ảnh đẹp hoàn hảo nhất của tạo dựng - hoàn toàn buông thả tất cả trong bàn tay của Thiên Chúa.  Như vậy thì Thiên Chúa muốn gì nơi mỗi người chúng ta và Ngài muốn chúng ta làm gì với những nét riêng biệt và tài năng khác nhau ấy?

          Để trả lời câu hỏi trên có lẽ chúng ta hãy cùng nhau trở lại câu chuyện của ông Booker T. Washington. Ông sanh ra là một người da đen và bà Mỹ da trắng nhìn ông bằng một cái nhìn chất phác nhất của một người da trắng đối với người da đen thời bấy giờ, đó là họ là những người lao động tay chân, và bà chân thành hỏi ông giúp việc nếu ông muốn kiếm thêm chút tiền.  Với câu chuyện này, chúng ta có thể dựng nên hai bối cảnh khác.  Bối cảnh thứ nhất, ông có thể trở nên giận dữ và lên án bà là người kỳ thị và bước đi chỗ khác với một con tim tức giận.  Bối cảnh thứ hai là ông có thể lịch sự nói cho bà ông là vị chủ tịch của một trường đại học và tiếp tục bước đi.  Trong cả hai bối cảnh đó, câu chuyện chỉ dừng lại nơi ông và chẳng phát triển thêm được gì.  Nhưng chính nhờ vào sự khiêm nhường mà ông đã để cho bà Mỹ da trắng thấy ông như những người lao động da đen mà câu chuyện này được tồn tại và là một bài học cho chúng ta bây giờ.

          Có lẽ trong sự tạo dựng của Thiên Chúa, Ngài muốn chúng ta không chỉ là cục đất sét lúc tạo dựng và lúc trở về với Ngài, nhưng Ngài muốn chúng ta luôn luôn là một cục đất sét thuần túy hầu mọi công việc chúng ta làm không phải để tô điểm cho cục đất sét được đẹp hơn hay biến thể cục đất sét ấy thành một cái gì khác, nhưng là để tô điểm cho công trình tạo dựng của Ngài được hoàn hảo và được tồn tại.  Hơn nữa, có lẽ Thiên Chúa cũng chẳng muốn chúng ta phải lo lắng và phải tô điểm cục đất sét như thế nào để cho nó được đẹp hơn hoặc được biến thể thành một cái gì đó lớn lao hơn khi trở về với Ngài, hay phải bận tâm về cái nhìn hoặc sự đánh giá của người khác, nhưng Ngài chỉ muốn chúng ta sống với Ngài trong bình an và cảm nhận với tất cả con tim rằng chúng ta là cục đất sét yêu quý của Ngài.

          Ước gì chúng ta biết ngồi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày để Ngài nâng niu và nhắc nhở chúng ta về cục đất sét mà Ngài luôn luôn yêu quý.  Xin Ngài dạy cho chúng ta biết khiêm nhường buông thả những bận tâm về việc trang điểm cho cục đất sét được đẹp hơn, được coi trọng hơn, được thánh thiện hơn, nhưng luôn biết sống bằng an trong Ngài và biết nhận ra sự hư không của chính mình hầu chúng ta thật sự là một ống máng trống rỗng để qua đó Ngài tô điểm cho công trình tạo dựng của Ngài được hoàn hảo hơn.  Amen!


Củ Khoai
(tinvui.info)

Thứ Hai, 16 tháng 9, 2013

THƯỢNG ĐẾ VÀ KHOA HỌC



Trong lớp học, vị Giáo-sư Triết-học ngắt giọng :
"Hãy để tôi giải-thích vấn-đề của khoa-học đối với tôn-giáo", 
và ông yêu-cầu một học-sinh đứng lên.
- Em theo đạo Chúa ?
- Thưa Thầy, vâng.
- Em tin vào Thượng-đế ?
- Tất-nhiên.
- Thượng-đế có tốt không ?
- Chắc-chắn là tốt.
- Có phải là Ngài Toàn-năng ?
- Có thể làm được mọi việc ?
- Thưa vâng.
- Em là tốt hay xấu ?
- Kinh-thánh bảo là kẻ xấu.
Vị giáo-sư cố ý cười, suy-nghĩ chốc lát và bảo :
"À ha ! Kinh-thánh ? Giả-sử ở đây có người bệnh và em có thễ chữa lành. Em có khả-năng. Em có giúp anh ta? Em có thử không ?
- Thưa Thầy, em sẽ thử.
- Vậy em là người tốt.
- Em không có ý nói thế.
- Tại sao lại không nói như thế ?
- Nếu có thể, em sẽ giúp một người bệnh, tàn-tật.
- Hầu hết chúng ta sẽ làm nếu có thể, nhưng Thượng-đế thì không !
Cậu học-trò không trả-lời, và vị giáo-sư tiếp-tục.
"Em trai tôi là tín-đồ đạo Chúa đã chết vì ung-thư mặc dầu đã từng cầu nguyện xin Chúa Jesus cứu chữa... 
Sao mà cho Chúa Jesus tốt được ? Em có thể trả-lời được không ?
Cậu học-trò vẫn im-lặng.Vị giáo-sư nói
"Em không thể trả-lời phải không ?"
Ông cầm lấy ly trên bàn nhấp môt ngụm nước tạo thời-gian cho cậu học-sinh bớt căng thẳng.
"Chúng ta bắt đầu trở lại. Thượng-đế có tốt hay không ?".
- Dạ ... tốt !
- Quỷ Satan có tốt không ?
Cậu học-trò không ngại-ngần : "Không".
- Vậy Satan đến từ đâu ?
Cậu học-trò ngập-ngừng : "Từ Thượng-đế" .
- Đúng thế. Thượng-đế tạo Satan. Em cho tôi biết có kẻ xấu ác trên thế-giới này không ?
- Dạ có .
- Kẻ xấu ác có khắp nơi. Và Thượng-đế tạo mọi thứ, có đúng không ?
- Dạ đúng.
Vị giáo-sư tiếp-tục :- Vậy ai tạo ra kẻ xấu ác ? Nếu Thượng-đế tạo ra mọi vật, thì Ngài tạo ra kẻ xấu ác. 
Do bởi xấu ác hiện-hữu, và theo nguyên-lý "hành-động định-danh con người", vậy Thượng-đế là kẻ xấu ác.
Cậu học-trò lại không trả-lời.
- Có phải bệnh-tật, vô đạo-đức, hận-thù và xấu xa hiện-hữu trên cõi đời này ?
Cậu học-trò đứng im lúng-túng "Thưa vâng".
- Vậy thì ai tạo ra chúng?
Cậu học-trò lại không trả-lời để vị giáo-sư lập lại câu-hỏi "Ai tạo ra chúng ?".
Vẫn không có câu trả-lời. Đột-nhiên vị thẩy bước đến trước lớp học. Cả lớp như bị mê-hoặc. 
Ông tiếp tục hỏi một học-sinh khác "Hãy nói cho tôi nghe !".- Em có tin vào đức Chúa không ?.
- Vâng, Thưa Thầy, em tin.
Vị giáo-sư ngừng bước :- Khoa-học bảo em có ngũ-giác-quan dùng để xác-định và quan-sát thế-giới xung quanh. 
Em đã thấy Chúa Jesus bao-giờ chưa ?
- Thưa Thầy, em chưa bao giờ thấy Ngài.
- Có bao-giờ em cảm-nhận được Chúa của em, nếm Chúa của em hay ngửi thấy Chúa của em ? 
Có bao giờ em có những cảm-giác nhận biết đức Chúa hay Thượng-đế ?
- Thưa Thầy, đáng tiếc là em không có.
- Em vẫn còn tin Chúa ?
- Thưa vâng.
- Theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được,
 khoa-học bảo Thượng-đế không hiện-hữu... Em nói như thế-nào vể điều đó ?
- Không. Em chỉ có đức tin của em.
- Vâng. Đức tin. Và đó chính là vấn-đề khoa-học đã có đối với Thượng-đế. Không có bằng-chứng, chỉ có đức tin.
Cậu học-trò đứng lặng lẽ một lúc, trước khi hỏi :
"Thưa Thầy, có cái gì là nhiệt không ?"
- Có.
- Và có cái gì là lạnh không ?
- Vâng, có cả lạnh nữa em à .
- Thưa Thầy, không phải vậy.
Vị giáo-sư quay nhìn vào mặt cậu học-trò tỏ vẽ thú-vị. Cả lớp đột-nhiên im lặng như tờ. Cậu học-trò bắt đầu giải-thích :
- Thầy có thể có rất nhiều nhiệt, thậm chí thêm nhiều nhiệt, siêu-nhiêt, vô-hạn-nhiệt, nhiệt trắng, môt chút nhiệt hay không nhiệt, nhưng chúng ta không có cái gì gọi là "lạnh". Ta có thể đạt xuống 458 độ dưới zero mà không có nhiệt, nhưng ta không thể xuống hơn thế nữa. Không có gì là "lạnh" hết; nếu không ta có thể đạt mức lạnh hơn độ thấp nhất là -458 độ. Mọi thể-vật có thể nghiên-cứu được khi chúng có hay truyền được năng-lượng. Ở độ zero tuyệt-đối (-458 F) hoàn-toàn vắng bóng nhiệt. Thưa Thầy, Thầy có thấy "lạnh" chỉ là chữ ta dùng để diễn tả sự "vắng bóng nhiệt". Ta không thể đo-lường "lạnh" Ta có thể đo lường nhiệt theo những đơn-vị nhiệt vì nhiệt là năng-lượng. "Lạnh" không phài là đối nghịch của nhiệt. Thưa Thầy, đó chỉ là vắng bóng nhiệt.
Cả lớp lặng im. Có cây bút rơi đâu đó, nghe như tiếng búa rơi.
- Thưa Thầy, còn "bóng tối" ? Có cái gì là bóng tối không ?
Vị giáo-sư đáp lại không do dự :
- Có. Đêm là gì nếu đó không là bóng tối ?
- Thầy lại sai lầm. Bóng tối không là một cái gì cả ; chỉ là sự vắng mặt một cái gì đó. Thầy có thể có ánh-sáng yếu, bình-thường, ánh-sáng mạnh, ánh sáng nháy, nhưng nếu ánh sáng không liên-tục, Thầy chẳng có gì hết và phải chăng đó được gọi là bóng tối ? Và nếu thế, Thầy có thể làm bóng tối tối hơn, Thầy có thể làm được vậy hay không ?
Vị giáo-sư bắt đầu nở nụ cười với cậu học trò trước mặt. Đây hẳn sẽ là một học kỳ tốt đẹp. :
- Người bạn trẻ, em muốn nói đến điều gì ?
- Vâng thưa Thầy. Điều em muốn nói là tiền-đề triết-học Thầy khởi xuất là sai lầm, và kết-luận của Thầy cũng thiếu sót.
Lần này, nét mặt của vị giáo-sư không che giấu được sự ngạc-nhiên :
- Sai lầm ? Em có thể giải-thích được không ?
Câu học-trò giải thích :
- Thầy đang tạo một tiền-đề có hai mặt. Thầy tranh luận rằng có sự sống và rồi có sự chết; một Thượng-đế tốt và môt Thượng-đế xấu. Thầy đang có khái-niệm về Thượng-đế như là một gì hữu-hạn, là môt gì ta có thể đo đạc. Thưa Thầy, thậm chí khoa-học không thể giải-thích một ý-nghĩ. Dùng điện và từ, nhưng chưa bao giờ thấy, không hoàn toàn hiểu được đầy đủ. Xem cái chết như là đối nghịch với sống là không hiểu gì hết, thực ra cái chết không thể hiện-hữu như môt tồn-tại độc lập. Chết không đối nghịch với sống, chỉ là vắng bóng sự sống.. Bây giờ Thầy cho em biết có phải Thầy dạy học trò rằng chúng "tiến-hóa" từ khỉ ?
- Người bạn trẻ ơi, nếu em đề cập đến quá-trình tiến-hóa thiên-nhiên, vâng, tất-nhiên tôi đã dạy như thế.
- Có bao giờ Thầy dùng đôi mắt quan-sát sự tiến-hóa ?
Vị giáo-sư bắt đầu lắc đầu, vẫn cười mỉm như nhận ra cuộc tranh-luận sẽ như thế nào. Thật là một học kỳ tốt đẹp.
- Do bởi không một ai quan-sát được quá-trình tiến-hóa và lại càng không minh-chứng được nó đang tiếp-diễn, sao Thầy không dạy những quan-điểm của Thầy ? Phải chăng giờ đây Thầy chẳng là một khoa-học gia, mà là một người thuyết-giáo ?
Cả lớp học náo động. Người học trò vẫn im-lặng cho đến khi sự ồn ào lắng xuống.
- Để tiếp nối vấn-đề Thầy đã đặt ra cho bạn kia, em xin đưa một thí-dụ để rõ ý của em.Người học trò nhìn quanh lớp :
- Có ai trong các bạn đã từng nhìn thấy bộ não của Thầy ?
Cả lớp bật vang tiếng cười.
- Có ai trong các bạn đã từng nghe bộ não của Thầy ? càm nhận bộ não của Thầy, rờ mó và ngửi bộ não của Thầy ? Chẳng thấy có ai làm vậy cả. Vậy thì, theo quy-tắc những giao-thức thể-nghiệm, khả-nghiệm, và chứng-minh được, khoa-học bảo Thầy không có bộ não, thưa Thầy, em vẫn với một lòng tôn kính. Vậy thì, nếu khoa-học bảo Thầy không có bộ não, làm sao chúng em có thể tin vào các bài giảng của Thầy ?
Giờ thì cả lớp lặng yên. Vị giáo-sư chỉ nhìn chăm chăm học trò, khuôn mặt khó hiểu. Cuối cùng, tưởng chừng như vô-tận, vị Thầy già trả lời :
- Tôi đoán em sẽ phải đưa họ về lại với đức tin.
Cậu học-trò tiếp-tục :
- Bây giờ Thầy chấp nhận rằng có đức tin, và trên thực tế, đức-tin hiện-hữu với đời sống. Bây giờ, có cái gì là xấu ác không Thầy ?
- Tất nhiên có. Chúng ta thấy hàng ngày. Những thí dụ vô-nhân của người đối với đồng loại; vô số tội ác và bạo-lực xảy ra khắp nơi trên thế-giới. Những điều này biểu-hiện không gì khác hơn là điều xấu ác.
Cậu học-trò trả-lời :
- Thưa Thầy, sự ác không hiện-hữu, hoặc ít nhất nó cũng không tự nó hiện-hữu. Đơn-giản, sự ác là vắng bóng Thượng-đế. Cũng giống như bóng tối và lạnh, chỉ là ngôn từ con người đặt ra để diễn giãi sự vắng mặt của Thượng-đế. Thượng-đế không tạo ra sự ác. Sự ác chỉ là kết quả những gì khi con người không có tình-yêu của Thượng-đế trong con tim của họ. Giống như "lạnh" đến khi không có nhiệt hay bóng tối đến khi không có ánh sáng.
Vị giáo-sư ngồi xuống.

Cước chú
Cậu học-trò trong câu chuyện là Albert Einstein


Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

HÃY CHIA VUI VỚI CHÚA

 SUY NIỆM TIN MỪNG CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN C


E-mailPrintPDF



PM. Cao Huy Hoàng


Khi nói đến “Con chiên lạc”, có thể bạn, tôi, chúng ta nghĩ ngay đến một số thành phần không mấy tốt đẹp, không mấy đàng hoàng trong Hội Thánh. Có người nghĩ ngay đến những người rối vợ, rối chồng công khai, hoặc nghĩ đến ả giang hồ ở cuối xóm, tên du thử du thực lang thang chè chén tối ngày ở đầu phố. Người khác lại nghĩ đến cụ già đôi ba vợ kia đã đến lúc sắp hết hơi rồi mà chưa chịu xưng tội rước lễ, hoặc nghĩ đến bao người nay ăn nên làm ra rồi, khá giả rồi, ở nhà thoải mái, bỗng trở nên cao ngạo, ươn lười, nguội lạnh với Nhà Thờ Nhà Thánh…
         Nghĩ như thế là do bởi lòng kiêu ngạo xúi giục tự nhận mình là thánh thiện hơn bao nhiêu người khác và gắn cho mình con mắt, cõi lòng đầy thành kiến xấu xa về tha nhân.
         Nghĩ như thế, thì thiết tưởng chính mình là… con chiên lạc trước tiên. Lạc mà không biết mình lạc. Còn lầm lạc hơn nữa, khi tỏ ra bất bình với một số người nhiệt thành trong Hội Thánh Chúa, mặc lấy tấm lòng nhân hậu của Chúa, luôn nghiêng về phía những người đau khổ, tội lỗi, thấp kém.
         Nghĩ như thế thì có khác gì người Pharisêu đã từng suy nghĩ và lẩm bẩm về việc Chúa Giêsu làm trong Tin Mừng hôm nay: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”.
         Cả hai dụ ngôn “Con chiên lạc” và “Đồng bạc bị đánh mất” được Chúa nói cho cả hai đối tượng: người Pharisêu và người thu thuế, kẻ tội lỗi.
         Đối với người Pharisêu, hai dụ ngôn ấy là một lời cảnh tỉnh trực diện để họ phải nhận ra rằng chính họ mới là “con chiên lạc”, là “đồng bạc bị đánh mất”. Lạc vì họ đang sống kiêu căng, sống thiếu tình khoan dung, yêu thương; lạc vì họ không muốn hiểu đường lối của Chúa, vì không muốn mặc lấy tình thương của Chúa trong con tim mình… Bài học dành cho người Pharisêu là đừng lầm tưởng mình đạo đức, nếu không mặc lấy đức khiêm cung và lòng nhân hậu mà đối xử với tha nhân. Họ cần có cái nhìn mới mẻ hơn đối với người tội lỗi, cái nhìn của Thiên Chúa, cái nhìn của lòng thương xót xoáy vào sâu thẳm hơn, để cảm thông hơn vì bao nỗi bất hạnh, không phải cái nhìn nông cạn bề ngoài để rồi sinh ra ganh tỵ, xét đoán…
Còn đối với người tội lỗi, cả hai dụ ngôn là Lời rất vui mừng cho họ, vì:
        - Lời mặc khải cho họ biết một Thiên Chúa vô cùng khiêm cung, và yêu thương. Lòng thương xót, khoan dung, nhân hậu của Ngài luôn luôn lớn hơn tội lỗi, thân phận của họ.
        - Lời xóa tan nỗi ám ảnh bị khinh bỉ, phân biệt, có khi còn bị trừng phạt dã man cho đến chết vì luật xua đuổi khỏi cộng đồng, luật ném đá…
        - Lời khơi dậy cho họ một niềm hy vọng, mở ra cho họ một con đường sống và nhất là tái lập cho họ một tương quan quí giá đối với Thiên Chúa, tái lập cho họ một nhân vị xứng đáng là con cái Thiên Chúa.
        - Và cũng qua hai dụ ngôn, cả người Pharisêu và người tội lỗi có thể nhận ra một điều kỳ diệu là Thiên Chúa luôn đi bước trước đối với những tội nhân.
         Đề cập đến bước trước, tôi nhớ câu chuyện về Đức Tin đơn sơ của cụ Biên ở phía sau nhà tôi. Cụ luôn là người khôi hài vui vẻ. Đến lúc gần chết cũng còn vui vẻ. Năm 1979, trong cơn hấp hối, khi nghe một anh Legio giữ kẻ liệt cầm sách mục lục đọc kinh cho cụ, đọc sai chỗ nào, cụ đập nhẹ bàn tay, bảo: “Đọc lại, đọc lại, đọc sai làm sao Chúa hiểu”. Đêm cuối cùng, cụ chỉ cho mọi người biết là cụ đang chết từ dưới chân lên đến giữa lưng rồi. Rồi cụ nói: “Còn nói được mấy câu nữa thôi, cho tôi nói với Chúa. Chúa đã lỡ bước xuống đời rồi, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới đây đưa con về với Chúa. Chúa ơi, con tin”. Rạng sáng hôm ấy, cụ đã về với Chúa.
            “Chúa đã lỡ bước xuống, thì còn ngại ngần gì mà không bước tới”. Câu nói đơn sơ mà cho thấy cả một xác tín. Hôm nay, nghe lại dụ ngôn “Con chiên lạc”, mới ngộ ra là không chỉ Chúa chẳng ngần ngại gì mà không bước tới, mà còn dám bước trước, và bước kiên trì nữa: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất ?”
            Vâng đó là một bước trước, và kiên trì: “Đi tìm cho kỳ được” Quả là kỳ diệu ! Nếu trước đây chưa ai dám tiếp xúc với những người thu thuế tội lỗi, vì sợ nhơ bẩn con người, thanh danh của mình, thì Chúa Giêsu đã bước một bước trước đến với họ.
            Hai dụ ngôn hôm nay còn vén màn một chi tiết độc đáo của tình thương Thiên Chúa, đó chính Người đích thân đi tìm con chiên lạc, gọi đích danh, tha thứ vô điều kiện, âu yếm ẵm trong vòng tay, vui mừng vác chiên lên vai, mở tiệc tưng bừng. Thiên Chúa mời mọi người đến chia vui vì“trên trời cũng thế, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần phải sám hối ăn năn”.
           Người ta mở tiệc ăn mừng những dịp cưới hỏi, tân gia, sinh nhật, thi đỗ, thoát nạn… Trong đời tôi, lại được tham dự một bữa tiệc lạ thường.
Chuyện là thế này: 
          Giáo Xứ tôi có một người tên là T. được rửa tội năm 1972 tại Thủ Đức khi anh lập gia đình với chị N. Anh kể với các anh chị Legio, anh đã giữ đạo sốt sắng hơn 7 năm. Đến năm 1979, anh sa đà đủ món ăn chơi trên trần gian này. Chị N. bỏ anh đi. Anh càng lún sâu vào con đường tội lỗi. Bỏ lễ, bỏ các Bí Tích. 
         Năm 1996, anh em Legio thăm và khuyên bảo anh xưng tội, anh nói: “Nhiều quá, làm sao xưng cho hết ! Chúa không thể tha một lúc nhiều như vậy đâu !” Sau hơn 3 năm, cha sở và các anh chị Legio kiên trì cầu nguyện cho anh, năm 1999, anh quyết định đi xưng tội. Cha sở FX. Lê Quang Diễn đã yêu thương lắng nghe anh nói chuyện tòa ngoài với ngài hết một buổi sáng và thêm nửa buổi chiều. Chiều hôm đó, anh xưng tội. Ngày hôm sau, anh mở tiệc mừng. Có khoảng 3 bàn tiệc. Anh nói mấy câu trước khi vào tiệc: “Con cảm ơn cha, cảm ơn mọi người, xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Từ đó, anh đổi mới hoàn toàn, thật sốt sắng với Chúa và dễ thương với mọi người. Anh đã qua đời năm 2008. Linh hồn Phaolô.
          Mọi người bất ngờ về câu nói của anh: “xin CHIA VUI VỚI CON, và xin CHIA VUI VỚI CHÚA”. Thiết tưởng, anh không chỉ cảm nghiệm được niềm vui của mình là được trở về, mà với Đức Tin, anh còn dám cảm nghiệm được “niềm vui của Chúa’, của Chúa Chiên, người đã bỏ chín mươi chín con chiên tốt lành kia trong ràn, mà đi tìm anh, con chiên lạc.
          Cảm nghiệm được niềm vui của Chúa phải là người đang sống thông hiệp mật thiết với Chúa lắm, như hai người tình đang kết hợp toàn tâm toàn ý với nhau, và dĩ nhiên, niềm vui không của riêng chỉ một người. Suy tư ấy có thể là suy tư cách rất con người, rất chủ quan thôi. Nhưng rõ ràng, thử hỏi ai trong chúng ta, những người vỗ ngực xưng tên mình là đạo đức, đã có bao giờ có được cái cảm nghiệm “chia vui với Chúa” cách trọn vẹn, nếu không đặt trọn niềm tin vào lòng thương xót của Chúa, nếu không mặc lấy tình thương xót ấy mà xót thương bao kẻ tội lỗi, khốn cùng.
         Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con Đức Tin vào lòng thương xót của Chúa để biết mình là con chiên lạc được Chúa tìm về, và mặc lấy tình thương ấy mà cộng tác với Chúa, chia vui với Chúa khi có người anh em tìm được hạnh phúc được Chúa thứ tha. Amen

                                                                      (nguồn : menchuayeunguoi.net)