Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

HỌC CÁI GÌ ?



1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”. 
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

2. Thứ hai, “học nhu hòa”
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

3. Thứ ba, “học nhẫn nhục”
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4. Thứ tư, “học thấu hiểu”
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

5. Thứ năm, “học buông bỏ”
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

6. Thứ sáu, “học cảm động”
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

7. Thứ bảy, “học sinh tồn”
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.


(Theo Người Đưa Tin)


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC HAI " BÊN "

                                                        Thánh nữ TÊRÊSA AVILA 
                                                                 Lễ kính 15/10 
Têrêsa thành Ávila 
sinh: 28 tháng 3 năm 1515 - mất: 4 tháng 10 năm 1582) là một nữ tu sĩ Dòng Cát Minh (Dòng Camêlô), một nhà thần học nổi tiếng người Tây Ban Nha của Giáo hội Công giáo Rôma, bà gắn cả đời mình với cuộc sống chiêm niệm và lời cầu nguyện tinh thần.
Điều đáng chú ý ở bà là một nhà cải cách Dòng Cát Minh, người sáng lập ra Tu viện Cát Minh cho các nữ tu. Bà sáng tác những tác phẩm như: Con đường đi đến toàn thiện, Lâu đài nội tâm, Quyển sách của những nền tảng. 
Năm 1622, bốn mươi năm sau khi qua đời, bà chính thức được Giáo hoàng Gregory XV phong thánh. Năm 1970, bà được Giáo hoàng Phaolô VI nâng lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh.
                                               (wikipedia.org)

Thánh Nữ Têrêsa Avila. Bà đã thấy Hỏa Ngục, và tả lại rùng rợn như sau:
(Trích chương 32 của tác phẩm Thánh Têrêsa Avila, Tiểu Sử và Tự Thuật.)

.....
"Trong đời tôi, tôi đã chịu những đau đớn dữ dội nhất, chẳng hạn như giây thần kinh co rút trong suốt thời kỳ tôi bị tê bại, mà theo các bác sĩ, đó là những đau đớn tột bực, và còn nhiều thứ đau đớn khác nữa, mà một số do chính ma quỷ gây nên cho tôi, như đã nói. Nhưng tất cả những đau đớn ấy không là gì cả, so với thứ đau đớn tôi cảm thấy trong lúc ở hỏa ngục. Càng không thể nói gì về nỗi kinh hoàng bởi biết rằng những đau đớn ấy sẽ kéo dài vô tận và không bao giờ nguôi ngoai. Dẫu vậy, tất cả những đau đớn này vẫn không là gì so với cơn hấp hối của linh hồn.
Linh hồn như bị bóp nghẹt, khắc khoải, kinh hoàng và sầu khổ vô hạn, một thứ sầu khổ tuyệt vọng và cùng cực không thể diễn tả. Nói rằng nỗi đau đớn ấy giống như linh hồn bị liên lỉ xé rời khỏi xác thì còn quá êm dịu, vì nói như thế có thể có nghĩa là một người nào khác đoạt lấy sự sống của mình; còn trong trường hợp này, chính linh hồn tự xé nát mình ra từng mảnh.".....



THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC 
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm 

I. THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC Ư ?

          Khi nói đến Thiên đàng Địa ngục, nhiều người cho là chuyện viển vông, mơ hồ, lãng mạn… thậm chí có người cho là mê tín dị đoan.  Nhưng trong thực tế vẫn có người tin, có người sống với niềm tin ấy đến nỗi dám hy sinh mạng sống mình để bảo vệ niềm tin đó, và để chiếm hữu được Thiên đàng.

          Rarindra Prakarsa là một nhiếp ảnh gia người Indénosia đang sống  và đang sáng tác ở Jakarta. Ông có biệt tài sử dụng ánh sáng và mầu sắc tương phản đẹp đến huyền ảo trong các ảnh nghệ thuật, đặc biệt là ảnh trẻ con chơi đùa.

          Trong số 425 ảnh của ông, có một tấm ảnh miêu tả trẻ con Indénosia đang chơi trò chơi rồng rắn ở một làng quê. Tấm ảnh này nhắc chúng ta  nhớ tới trò chơi xa xưa của trẻ con Việt nam kèm với lời đồng dao :

                                      Thiên đàng địa ngục hai quê
                             Ai khôn thì về, ai dại thì sa.
                                      Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha
                             Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn.
                                      Linh hồn phải giữ linh hồn
                             Đến khi mình chết được lên thiên đàng.

          Qua ý nghĩa bài đồng dao này chúng ta đoán được  xuất xứ của nó là các trò chơi xuất phát từ các làng Công giáo.

          Câu thứ hai, có nơi nói khác đi một chút : thay vì “Ai khôn thì về, ai dại thì sa” lại đọc là “Ai khôn thì lại, ai dại thì qua”. Theo đó thì “Ai khôn thì lại” : lại là đến, đến thiên đàng. “Ai dại thì qua” : Qua là tới, tới địa ngục.

          Thực ra  khôn khéo hay vụng dại tùy vào cách sống. Sống sao cho linh hồn khỏi sa địa ngục là khôn ngoan. Sống mà linh hồn không được lên Thiên đàng là khờ dại…

          Trong cuốn “Góp nhặt cát đá” (Shasekishu) truyện 31, thiền sư Muju kể rằng : một người đến xin thiên sư Hakuin (1686-1768) thiên đàng và địa ngục có thật không.
          Sư hỏi :
          - Anh là ai ?
          Đáp :
          - Tôi là samurai.
          Sư ra giọng mỉa mai :
          - Kiếm sĩ ư ? Trông chẳng khác tên ăn mày.
          Tức giận, kẻ ấy đưa tay sờ vào đốc kiếm. Sư không buông tha :
          - Anh mà đủ gan cắt đầu ta ư ?
          Lập tức kiếm bèn tuốt ra. Sư ngửa cổ, bảo :
          - Đây, hãy mở cửa địa ngục.
          Bừng ngộ, kẻ kia liền tra kiếm vào vỏ, cung kính chắp tay xá .  Sư nói luôn :
          - Cửa Thiên đàng vừa mở.

II. LỜI DẠY CỦA CHÚA GIÊSU

          Chúa Giêsu nói rất nhiều tới Thiên đàng, nhưng Ngài dùng những từ khác để nói về Thiên đàng, chỉ có một lần Ngài nói rõ ràng  với người trộm lành :”Ngay hôm nay, con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta” (Lc Lc 23,43).

          Còn về địa ngục (hay hỏa ngục) thì Chúa Giêsu nói rất nhiều, ví dụ :”Thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục” (Mt 5,29; 18,9).

          Chúng ta có thể xem tiếp ở (Mt 5,22; 18,28; 25,15; Mc 9,43).

          Trong dụ ngôn người phú hộ và người nghèo Lazarô,  Chúa Giêsu nói đến số phận của hai người đều khác nhau : người nghèo khó Lazarô được đưa vào trong lòng ông Abraham tức là Thiên đàng, còn người phú hộ kia phải vào âm phủ chịu cực hình.

          Như vậy, Chúa Giêsu chỉ xác định là có sự hiện hữu của Thiên đàng và hỏa ngục, còn Ngài không mô tả thiên đàng hỏa ngục như thế nào.

          Chúa Giêsu không mô tả về Thiên đàng, có lẽ như vậy sẽ tốt hơn cho chúng ta để chúng ta sống trọn vẹn tự do và nhân phẩm của mình. Tuy nhiên, Ngài đã cho biết Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta. Tại sao ?  Vì Chúa muốn chúng ta được ở bên Chúa, được Chúa chăm sóc và chia sẻ hạnh phúc với Ngài :”Lạy Cha, Con muốn rằng con ở đâu thì họ cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).  Cần phải có điều kiện nào ? Rất đơn giản :”Đây là điều răn Thầy truyền cho các con là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,17).

          Đứng về huấn quyền của Giáo hội, chúng ta cũng không biết gì thêm. Giáo hội cũng chỉ cho chúng ta biết những nét tổng quát chứ không có chi tiết cụ thể, đến ngay thánh Phaolô được đua lên đến tầng trời thứ ba  mà cũng không thể diễn tả bằng lời nói hay chữ viết được (x. 2Cr 13,3).

          Chúng ta chỉ biết mấy nét về Thiên đàng trong sách Giáo lý Công giáo :

Ai chết trong ân sủng và tình nghĩa với Thiên Chúa, ai hoàn toàn được thanh luyện sẽ sống muôn đời với Đức Kitô, họ luôn luôn giống Thiên Chúa, vì họ đã thấy Ngài như Ngài hiện hữu, mặt đối mặt (1Ga 3,2)… Mầu nhiệm này vượt quá mọi hiểu biết và mọi biểu trưng : sức sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu thiên quốc, nhà Cha, Giêrusalem trên trời, thiên đàng : “Điều mắt chúng ta chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa hướng tới, đó là nhưng gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai yêu mến Ngài” (1Cr 2,7-10) (GLCG  số 1023-1029).

          Ngoài ra chúng ta có thể biết được  vài nét về Thiên đàng qua thị kiến của thánh nữ Faustina được ghi trong nhật ký của thánh nữ :

“Hôm nay ngày 27 tháng 11 năm 1936, tôi được ở trên Thiên đàng cách thiêng liêng.  Tôi thấy những sự đẹp đẽ không thể diễn tả, và những hạnh phúc đang chờ chúng ta sau khi chết.  Tôi thấy các tạo vật đang dâng lời ca tụng và tôn vinh Chúa không ngừng. Tôi thấy hạnh phúc trong Chúa lớn lao chừng nào, hạnh phúc lan ra mọi thụ tạo, làm cho họ sung sướng. Rồi tất cả vinh quang, ca ngợi dâng lên từ hạnh phúc này trở về nguồn là Chúa, nhập vào chiều sâu của Chúa, chìm vào cuộc sống trong Chúa Ba Ngôi, mà không bao giờ có ai hiểu hết hoặc đo lường hết được.

Nguồn mạch hạnh phúc này không thay đổi trong bản tính nó, nhưng lại luôn luôn đổi mới trong cách diễn tả, nó lan tràn ra hạnh phúc cho mọi linh hồn.  Giờ đây tôi hiểu lời thánh Phaolô đã nói :”Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa cảm thấy những gì Chúa đã dọn sẵn cho kẻ kính mến Người”.

          Chúa cho tôi hiểu rằng, chỉ có một sự có giá trị vô cùng trong mắt Người, đó là “lòng yêu mến Chúa” : Yêu, yêu và yêu. Không gì có thể so sánh  với một tác động kính mến Chúa cách tinh ròng (Thánh Faustina, Nhật ký Tình Thương, số 777).

III. MUỐN VỀ THIÊN ĐÀNG.

          1. Niềm hy vọng của chúng ta.

          Chúng ta biết rằng Thiên đàng là phần thưởng Chúa dành cho con cái của Ngài sau một thời gian lưu đầy nơi trần thế, đã làm trọn nhiệm vụ được giao phó một cách tốt đẹp.  Chúng ta dám tin chắc như thế, vì chính Chúa Giêsu đã hứa cho chúng ta trước khi bước vào cuộc tử nạn :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó” (Ga 14,1-3).

          Nắm chắc được tư tưởng đó, thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Philipphê rằng :”Quê hương chúng ta ở trên trờ, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).

          Trần gian này chỉ là nơi tạm trú, chứ không phải là quê hương. Đã là tạm trú thì chỉ ở một thời gian vắn và chỉ ở nơi thường trú thời gian lâu dài.  Chúng ta sẽ rời thế gian này để về quê hương thật và vĩnh cửu nơi Cha chúng ta đang ở đấy. Vì thế, Thiên đàng là của chúng ta, mọi nỗ lực của chúng ta phải  hướng về đó.

                                      Truyện : Thiên đàng là của con.

          Một cô gái bị cám dỗ rất nặng nề về sự tuyệt vọng. Với những tội lỗi của mình, cô nghĩ rằng cô đã có chỗ trong hỏa ngục đời đời, không còn hy vọng gì được Thiên Chúa yêu thương và hưởng phúc Thiên đàng nữa. Ngày kia, thánh Philipphê Nêri đến thăm cô. Sau khi nghe cô thổ lộ tâm hồn, thánh nhân nói :
          - Thật là tai hại, con gái yêu của ta, khi con tin rằng con đã được dành cho lửa đời đời, Thiên đàng mới là của con.
          Cô gái tội nghiệp nức nở thưa :
          - Cha ơi, con không thể tin được điều ấy.
          - Đó là vì con khờ dại. Cha sẽ chứng minh cho con thấy. Chúa Giêsu đã chết cho ai ?
          Cô gái đáp :
- Cho người tội lỗi.
- Đúng lắm, thế bây giờ con nghĩ con là một vị thánh sao ?
Cô gái vừa khóc vừa trả lời :
- Không, con là một kẻ đầy tội lỗi.
          - Như vậy, chính vì con mà Chúa Giêsu đã chết, và chắc chắn Chúa chết  là để cho con được vào Thiên đàng. Vậy thì Thiên đàng là của con, bởi con đã gớm ghét tội lỗi, con đừng nghi ngờ chi nữa.

          Những lời của thánh Philipphê Nêri bắt đầu thấm vào tâm hồn cô gái. Và từ lúc ấy, lời nói “Thiên đàng là của con” đã không ngừng an ủi cô và khiến cô không mất lòng tin tưởng vào tình thương yêu vô biên của Chúa nữa.


          Về vấn đề này, thánh Anphongsô cũng khuyên nhủ chúng ta là những người tội lỗi  bất xứng :

          “Nếu vì lỗi lầm mà bạn có nhiều lý do để sợ chết bao nhiêu, thì bạn lại càng có hy vọng được sống muôn đời bấy nhiêu nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, công nghiệp ấy có thể cứu bạn mạnh hơn  cả ngàn vạn lần  tội lỗi làm cho bạn hư đi.  Như thế với lòng tin tưởng, chúng ta hãy chạy đến ngai tòa ân sủng để được hưởng lòng khoan dung.  Ngai tòa ấy chính là thập giá, nơi Chúa Giêsu ngự như trên một ngai vàng, để ban phát lòng nhân từ cho bất cứ ai chạy đến với Ngài “ (Thánh Anphongsô).

          2. Nhưng phải có điều kiện.

          Việc Chúa Giêsu về trời đem lại cho chúng ta ánh sáng và hy vọng.  Nếu không được ánh sáng phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu soi sáng, con người chỉ có thể thấy gần mà không thể thấy xa, chỉ biết chú mục vào cuộc sống phù du đời này  mà lãng quên cuộc sống mai sau, chỉ biết vun quén của cải vật chất tạm bợ trần gian  mà không tích lũy cho kho tàng vĩnh  cửu, chỉ biết kiếm tìm lạc thú chóng qua mà lãng quên hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời… Họ chối bỏ Trời, quay lưng lại với Thiên Chúa, khước từ thế giới thiêng liêng.

          Niềm thao thức khát khao của chúng ta phải là ngước nhìn lên, nhìn lên quê hương vĩnh cửu chứ không phải chỉ tìm những cái gì là là mặt đất. Chính thi sĩ R. Tagore đã nhắc cho chúng ta tư tưởng đó :

                                      Như đàn hạc hoài hương
                                      Bay thẳng về tổ ấm
                                      Trên đỉnh núi vút cao
                                      Nguyện đời con phiêu diêu
                                       Qua vùng trời thăm thẳm
                                      Lên tận chốn Thiên đường.
                                        (Tagore, Gitanjali, 103)

          Nhưng ao ước là một chuyện và thực hiện được ao ước ấy lại là chuyện khác.  Nói như người dân quê Việt nam :”Muốn ăn hét phải đào giun” hay : “Muốn ăn khoai phải vác mai đi đào” vì “Không có ai ngồi mát ăn bát vàng”.   Muốn lên Thiên đàng thì cũng phải làm sao chứ không tự nhiên mà có.

          Về vấn đề này Chúa Giêsu đã nói rõ :”Không phải cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa !  là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21; Lc 6,46; 13, 26-27).

          Muốn vào Nước Trời thì phải thi hành ý muốn của Cha trên trời, nhưng ý muốn của Cha trên trời là gì ?  Chúa Giêsu không nói rõ, không cho chúng ta biết thêm chi tiết. Ngài để cho chúng ta tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

          Phải chăng ý muốn của Chúa Cha là theo như lời Chúa Giêsu dạy :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình. Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16, 24-27).

          “Từ bỏ mình” tức là đừng lấy thân xác  làm mục tiêu cho mọi phấn đấu, mọi nỗ lực của ta : cụ thể là không dành toàn bộ công sức, thời gian, tài năng, trí tuệ để phụng sự thân xác.

          “Vác thập giá mình” là chấp nhận khổ chế, cụ thể là khước từ những đỏi hỏi vô độ của thân xác – sự khước từ nào cũng là một thập giá, đều để lại đau thương -  để dành thì giờ và nghị lực cho sự phát triển tâm linh.

          Chúa Giêsu đã chấp nhận đời người theo hướng đó và Ngài đã đạt tới vinh hiển khải hoàn. Ngài cũng muốn chúng ta đầu tư theo hướng Ngài đã đầu tư, bước đi theo con đường Ngài đã bước, để chúng ta được vinh hiển như Ngài.

Cứ nhìn vào hiện tại thì biết số phận của chúng ta trong đời sống mai hậu, bởi vì chúng ta đang xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian, như thánh Phaolô đã nói :”Gieo giống nào thì gặt giống ấy” (x. 1Cr 15,38) như người Việt thường nói :”Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu” : trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu.

          Về vấn đề này, chúng ta thấy có một vị sư già thuyết pháp cho các Phật tử bằng những hình ảnh rất hay :

           “Các Phật tử hãy nhìn vào một cây cao và to ở phía sau sân nhà chùa kia. Phần thân cây, đang nghiêng cùng hướng với vòm lá cây xanh um của nó. Khi có một trận động đất, hoặc một cơn giông bão ập tới, đương nhiên cây đó sẽ bị tróc gốc và ngả đùng xuống theo hướng nghiêng mà nó đang đứng đấy. Cũng vậy, nhìn vào việc làm tốt xấu của một người trong đời sống hiện tại, chúng ta sẽ đoán ra được sau khi chết linh hồn họ sẽ bay đi về đâu. Trồng cây ớt, phải hái trái ớt mà ăn. Không thể nào trồng cây me chua mà đòi ăn cho được trái ngọt ngon lành…”

                   Hạnh phúc Thiên đàng chẳng qua chỉ là thành quả của những nỗ lực phấn đấu của chúng ta ở trần gian này, là những gì chúng ta đã xây dựng ngay ở dưới đất, là những gì chúng ta đã gửi về trời khi chúng ta còn sống.

                                       Truyện : Ngôi nhà xinh đẹp

          Một bà giầu sang đến cửa Thiên đàng. Thánh Phêrô chỉ cho bà một căn nhà rất xinh đẹp và bảo :”Đây là nhà tài xế của bà”.
          Bà ta mừng rỡ và nghĩ thầm :”Tài xế như thế, chắc nhà mình sẽ lộng lẫy hơn nhiều”.
          Nhưng, bước xa hơn một chút, thánh Phêrô chỉ túp lều nhỏ xíu và bảo :”Nhà của bà đấy”.
          Hụt hẫng và ngỡ ngàng, bà ta vội kêu to :”Đâu được, thưa ngài làm sao con có thể ở trong đó được.
          Thánh Phêrô ôn tồn giải thích :”Rất tiếc con ạ, vật liệu con gửi lên đây chỉ đủ để xây túp lều như thế.
          Thiên đàng không có nếu con không xây,
          Hỏa ngục chẳng thấy nếu con không sắm.
          Con đừng nhọc công để đi tìm  đàng sau cuộc đời này một Thiên đàng, nếu ngay cuộc sống trần gian này con chẳng thấy Thiên đàng ló dạng. Định mệnh cuộc đời đâu phải là một lá bài may rủi. Ai cũng chết nhưng số phận khác nhau.

          Bông thẹn, cỏ may, cúc hay hồng… đều là hoa

          Vòng hoa đẹp xấu là do con kết

          Thiên đàng có được là do con sống,
          Giầu hay nghèo cũng một kiếp người,
          Muốn Thiên đàng phải sống thánh.

          Thiên đàng không trên trời cao và hỏa ngục không ở lòng sâu đất thấp – mà ở ngay chính lòng con, con có quyền chọn cho mình chứ không phải Chúa”.

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt 

(Nguồn : simonhoadalat.com)         



"Lạy Chúa Giêsu xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục.  Xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là các linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn."


         




Thứ Hai, 21 tháng 10, 2013

ĐẠI HẠ GIÁ

Đại Hạ Giá

Thời buổi này còn cái gì không hạ giá nhỉ? Sách vở, quần áo, đồ điện tử v...v... hạ giá! Tôi cầm mảnh bằng đại học cạ cục mãi chưa tìm ra việc làm, cũng nhào ra vỉa hè bán sách đại hạ giá. Từ Victor Hugo, Lev Tolstoy, Tagore, Dostoievski... đến Khái Hưng, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng... cả thảy đều bị “hạ” nằm la liệt. Lắm lúc ngồi chồm hổm nhìn xuống các tên tuổi từng “vang bóng một thời”, tôi thầm hỏi:

-         Nên cười hay nên khóc, thưa chư liệt vị?

Cách đây ít lâu, một ông lão hình dáng tiều tụy mang đến bán hai pho sách dày. Một cuốn là “Hán Việt Từ Điển” của Đào Duy Anh do Khai Trí tái bản. Cuốn kia là “Petit Larousse Illustré” in tại Paris năm 1973. Sách còn tinh tươm lắm, hẳn chủ nhân đã xài rất kỹ. Thấy giá rẻ, tôi mua. Loại ấn bản này đây, gặp loại khách biên biết, bán cũng được lời.

Ngoài bìa và một số trang ruột của mỗi cuốn, đều có ấn dấu son hình ellipse: “Bibliothèque - Đô Bi - Professeur”. À, té ra ông lão vốn từng là giáo chức. Thảo nào! Cất tiền vào ví rồi mà ông cứ dùng dằng nuối tiếc, ngoảnh lại nhìn những tài liệu - tài sản phải đứt ruột bán đi. Ngoái mãi mấy lần rồi ông mới dắt chiếc xe đạp cà tàng đạp về. Mắt ông đỏ hoe. Lòng tôi chợt se lại!

Chiều 25 Tết. Ngồi cạnh các danh tác tôi vẫn lim dim, thấp thỏm, chồm hổm ra đấy. Qua đường không ai thấy, lá vàng rơi trên giấy. Sài Gòn chả có mưa bụi cho đủ khổ thơ Vũ Đình Liên. Nhưng bụi đường thì tha hồ, đủ khổ thứ dân lê lết vệ đường như tôi.

-         Anh mua bánh bò, bánh tiêu?

Một chị hàng rong đến mời. Tôi lắc đầu. Bỗng chị sững người chăm chú nhìn vào hai bộ từ điển. Chị ngồi thụp xuống, đặt sề bánh bên cạnh, cầm hết cuốn này đến cuốn kia lật lật. Rồi chị hỏi giá cả hai. Ngần ngừ lúc lâu, chị nói:

-         Anh có bán... trả góp không?

-         Trời đất ơi! Người ta bán trả góp đủ thứ, chứ sách vở, sách đại hạ giá ai đời bán trả góp? Vả lại, tôi nào biết chị là ai, ở đâu?

-         Tôi cần mua cả hai - chị nói tiếp - xin anh giữ, đừng bán cho người khác. Khi nào góp đủ, tôi sẽ lấy trọn. Anh thông cảm làm ơn giúp tôi.

Thấy lạ, tôi hỏi chuyện mới vỡ lẽ. Đô Bi chính là thầy cũ của chị hàng rong. Chị Tám (tên chị) bất ngờ thấy có dấu son quen, hiểu ra hoàn cảnh của thầy, bèn nảy ý chuộc lại cho người mình từng thọ ơn giáo dục. Song, bán bánh bò bánh tiêu nào được bao nhiêu, lại còn nuôi con nhỏ, không đủ tiền mua một lần nên chị xin trả góp.

Tôi cảm động quá, trao ngay hai bộ từ điển cho chị Tám:

-         Chị hãy cầm lấy, kịp làm quà Tết cho thầy. Tôi cũng xin lại đúng số vốn mà thôi, chị à.

-         Nhưng...

-         Đừng ngại, chị trả góp dần sau này cũng được.

Chị lấy làm mừng rỡ, cuống quít trả tôi một ít tiền.

-         Chao ôi, quý hóa quá! Cảm ơn... cảm ơn... anh nhá!

Mai lại, chị Tám trả góp tiếp. Chị kể :

-         Thầy Bi thảm lắm... Gần Tết, cô lại ngã bệnh... Thầy nhận sách, mừng mừng tủi tủi tội ghê, anh à!... Thầy cũ trò xưa khóc, khóc mãi!

Tôi vụt muốn nhảy cỡn lên và thét to:

Hỡi ông Victor, ông Lev, ông Dostoievski... ơi! Ông Khái, ông Vũ, ông Ngô... ơi! Có những thứ không bao giờ hạ giá được! Có những người bình thường, vô danh tiểu tốt nhưng có những kiệt tác không hạ giá nổi, đó là ‘Tấm lòng’ ”.




TRUYỀN GIÁO THEO GƯƠNG MẸ TÊRÊSA

CHÚA NHẬT 29 MÙA THƯỜNG NIÊN C


Suy niệm của ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

          Hôm nay, toàn thể Giáo Hội cầu nguyện cho việc truyền giáo. Ngày Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị tuyên phong Mẹ Têrêxa lên bậc Chân Phúc mà ta quen gọi là Á thánh cũng là ngày cầu nguyện cho việc truyền giáo. Và Đức Thánh Cha khuyên nhủ chúng ta hãy truyền giáo theo gương Mẹ Têrêxa. Vậy Mẹ Têrêxa là ai và Mẹ đã truyền giáo như thế nào?
1) Cuộc đời
         Mẹ Têrêxa sinh tại nước Anbani cũ. Mẹ đã xin gia nhập dòng Đức Mẹ Loretto và được sai đi Ấn độ để phục vụ nguơì nghèo. Khi đến Ấn độ, Mẹ được chứng kiến cả một đại dương mênh mông những người nghèo đói. Trẻ sơ sinh bị bỏ rơi nằm la liệt ngoài đường. Những người già cả bệnh tật nằm chờ chết bên những đống rác, và khi chết, bị vất vào đống rác như một con thú vật. Xúc động trước cảnh nghèo khổ. Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo. Việc đầu tiên là mở những trung tâm đón tiếp, đưa những người hấp hối ngoài đường về, săn sóc để họ được chết như một con người. Rồi mở cửa nhà cô nhi nuôi dưỡng trẻ em bị bỏ rơi. Rồi mở bệnh viện chăm sóc chữa trị những người nghèo khổ. Rồi mở trường cho trẻ em nghèo đến học. Công việc càng ngày càng phát triển. Số người theo giúp Mẹ càng ngày càng đông. Chẳng bao lâu, một dòng mới được thành hình với tên Nữ tử Thừa sai Bác ái. Ngoài 3 lời khấn như những nữ tu khác, còn có lời khấn phục vụ người nghèo. Mẹ được thế giới biết tiếng. Cả thế giới gọi Mẹ là Mẹ Têrêxa. Khi Mẹ qua đời, 80 nhà lãnh đạo quốc gia trên toàn thế giới, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Cliton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến nghiêng mình kính cẩn trước thi hài của Mẹ. Nước Ấn độ có đa số dân theo Ấn độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, thế mà đã nghi thức quốc táng cho Mẹ,đã bắn hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về thiên đàng.
2) Truyền giáo
          Mẹ Têrêxa đã truyền giáo cách nào mà thành công như thế? Thưa, Mẹ đã dùng 4 phương cách sau:

Phương cách thứ nhất: cầu nguyện. 

         Có nhiều người tưởng Mẹ Têrêxa là con người hoạt động. Không phải thế. Trước hết Mẹ là con người cầu nguyện. Những giờ cầu nguyện triền miên phát xuất từ nỗi niềm khao khát Chúa. Cầu nguyện đã đưa Mẹ đến phục vụ người nghèo. Rồi việc phục vụ người nghèo đã đưa Mẹ trở về với kinh nguyện. Dòng chảy cầu nguyện liên lỷ không bao giờ ngừng. Có thể nói cuộc đời Mẹ là cuộc đời chiêm niẹm trong hoạt động.

Phương cách thứ hai: thấm nhuần Lời Chúa

         Mẹ tha thiết yêu mến Lời Chúa. Lời Chúa thấm vào tận mạch máu thớ thịt, để Mẹ suy nghĩ, nói năng và hành động theo Lời Chúa. Mẹ thường nói: Lời Chúa phải ở trên đầu ngón tay ta. Theo Mẹ 5 từ ngữ quan trọng khắc ghi tên 5 đầu ngón tay của Mẹ là: You did it for me. Đó là 5 từ tóm tắt 25 chương Tin Mừng theo thánh Mátthêu: “Mỗi lần các con làm những việc này cho một trong những anh em bé nhỏ nhất, đó là các con làm cho Thày”.

Phương cách thứ ba: yêu mến người nghèo

         Nơi Mẹ, yêu mến người nghèo không phải là cảm tính nhất thời. Yêu mến người nghèo thực sự phát xuất từ một đức tin sâu xa. Tin thật Thiên Chúa đang ở trong nhưng người nghèo. Vì yêu mến người nghèo Mẹ đã tự nguyện sống nghèo. Mẹ sống trong một căn phòng đơn sơ, chỉ có một chiếc giường, một bàn nhỏ, một ngọn đèn và một chậu nước.

Phương cách thứ tư: phục vụ bằng tình yêu

          Vì tin Chúa đang ngự trong người nghèo, nên phục vụ người nghèo chính là phục vụ Chúa. Vì thế, phục vụ người nghèo là một bổn phận phải thực hiện trong khiêm nhường. Phải phục vụ một cách kính cẩn. Phải phục vụ bằng tình yêu.
          Giữa thế kỷ 20 tôn trọng vật chất, quay lưng lại với đời sống tâm linh, Mẹ Têrêxa đã trở nên một nhân chứng sống động của thế giới thần linh. Giữa nước Ấn độ xa lạ với Kitô giáo, Mẹ Têrêxa đã trình bày được khuôn mặt dễ thương dễ mến của Chúa, làm cho mọi người yêu mến đạo Cháu. Mẹ xứng danh là nhà truyền giáo của thế kỷ 20. Giữa những bế tắc Mẹ đã khai thông một lối đi. Lối đi vào thẳng trái tim con người. Trong bóng tối dày đặc, Mẹ đã thắp lên một ngọn đèn. Ngọn đèn đó chiếu lên ánh sáng niềm tin. Giữa trần gian lạnh lẽo, Mẹ đã đốt lên ánh lửa yêu mến. Ánh lửa đó sưởi ấm tình người.
          Năm 2004 được Hội đồng Giám mục Việt Nam chọn làm Năm Truyền Giáo. Chúng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, biết tha thiết cầu nguyện, biết yêu mến Lời Chúa, nhất là biết yêu mến người nghèo và biết phục vụ bằng tình yêu. Để mỗi người Công giáo thực sự là một ngọn đèn chiếu toả ánh sáng của Chúa. Để mỗi người Công giáo là một niềm vui cho những người chung quanh.

Lạy Chân Phúc Têrêxa, xin cầu cho chúng con. Amen.


Thứ Sáu, 18 tháng 10, 2013

TỜ LỊCH GỠ MỖI NGÀY






         Nhà tôi treo một “lốc” lịch to nơi phòng khách, mỗi sáng thức dậy, tôi gỡ một tờ quăng đi… Khi ló tờ mới, tôi xem kỹ câu danh ngôn nếu có, coi đấy như lời dạy dỗ đầu ngày của các bậc tiền bối ! Không biết ai sao, riêng tôi thấy tâm đắc việc này lắm !
        Ví như, sáng thứ 2 tuần trước, ngủ dậy liền đến bóc tờ lịch, tờ mới có ghi câu danh ngôn của Turenne: Tôi có ý kiến này muốn tặng bạn: Đó là, mỗi khi bạn muốn nói, bạn hãy làm thinh. Xem câu ấy xong, tôi ngẫm nghĩ… và thấy có lý, hay lắm. Quá hay đi chứ! Lời khuyên răn này rất xác đáng, đã đúc kết một kinh nghiệm quí báu trong cuộc sống đầy những chuyện khôn lường của lòng dạ con người! Và, ngày hôm đó tôi cẩn ngôn hơn! Tôi chỉ thực hành nửa câu nói ấy mà cũng thấy mình khá rồi! Còn thực hành nguyên câu dĩ nhiên là không nổi! Xin cảm ơn ông hay bà Turenne người nước nào tôi không rõ, đã cho tôi một chút của báu giắt lưng phòng thân trên đường đời gian truân! Tôi không muốn coi tiếp câu danh ngôn của ngày kế tiếp… Ừ, cứ giữ bí mật để đó, vội gì!
        Đến sáng ngày thứ 3, ngủ dậy, tôi lại gỡ lịch, gặp câu nói của Swift: Nổi giận là tự gánh giùm lỗi của người khác!. Chí lý ! Dại gì mà nổi giận cơ chứ! Quả nhiên, câu ấy tác động nơi từng sâu thẳm tâm hồn, ngày hôm đó gặp nhiều việc bực mình, mà tôi đâu có thèm giận! Ngu gì gánh lỗi kẻ khác! Lại phải cảm ơn cái ông Swift hay bà Swift gì đó nữa!…
        Rạng đông ngày thứ 4, lại ló tờ lịch ghi câu của Montesquieu: Phải khóc con người lúc sinh ra, chứ đâu phải lúc chết. Chết rồi có phải làm gì nữa đâu mà cực với nhọc! Thế thì cũng chả nên khóc lóc mà làm chi! Ừ nhỉ! Lạ thật! Cái chết đột nhiên giảm bộ mặt khủng khiếp trong tâm tưởng tôi, nói chí tình cũng phải có chút ít tác dụng của Montesquieu mới ra thế! Và, ngày hôm đó tôi nghị lực hơn, yêu đời hơn! Lại cảm thấy mình cứng cáp lên!
        Sang ngày thứ 5, tờ lịch hiện lên câu ngạn ngữ Ba Tư: Lưỡi dài thu ngắn đời sống. Ôi, quá chất lượng! Dân Ba Tư kinh nghiệm quá dày dặn! Nói lắm chỉ được cái “nguy to”, chỉ được cái “rước họa vào thân”! Còn nhớ trong ngày ấy, lúc nhậu cùng bạn bè, vậy mà tôi cũng ráng tịnh khẩu! Cứ sợ sa vào cái “vạ mồm”!
        Đến ngày thứ 6, tờ lịch lấp lánh câu danh ngôn khác, thật cao siêu của Villier de l’Isle Adam: Người nhục mạ bạn, họ chỉ nhục mạ ý nghĩ của họ có về bạn, tức là họ nhục mạ chính họ!. Câu này trong tầng sâu là đúng, nhưng thực hiện quả là thiên nan vạn nan! Lên hàng thánh mới xài được! Tâm đắc lắm nhưng cứ cất yên đấy! Công lực chưa đủ, chờ thời gian nữa hẵng hay!
        Sáng ngày thứ 7, lại ló câu của Cervantes:Ăn to thì di chúc nhỏ. Úi cha! Cũng có lý quá! Tôi coi tiếp luôn ngày Chủ nhật xem sao… Đó là câu của G. Herbert: Ai cũng có một thằng điên trong ống tay áo. Trời đất ! Lại cũng quá đúng! Những lúc bưng ly bia, cốc rượu chỗ đông người, trong ống tay áo tôi thường rớt ra thằng điên, thậm chí đôi lúc rớt ra hai thằng ! Say quá, có khi rớt tới ba thằng!
         Ôi chao! Riêng về phần danh ngôn, tờ lịch vậy mà hay! Một lần nữa xin cảm ơn, cảm ơn… tờ lịch gỡ mỗi ngày! Việc gì phải đi thư viện đọc sách hao thời gian, cứ lịch đấy mà học mãn đời không hết!…

Ngô Phan Lưu