Thứ Bảy, 26 tháng 7, 2014

ĐẠI HỌC CÔNG GIÁO TẠI VIỆT NAM ?

           Việt Nam sắp có đại học Công Giáo đầu tiên

          Trang Vatican Insider đưa tin: “Đại học Công giáo đầu tiên của Việt Nam không còn là một ảo tưởng nữa. Nó sắp trở thành một thực tại. Theo Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, Tổng Giám mục Sài Gòn, cơ cấu có thể sẵn sàng trong vòng một năm tới. Nó sẽ đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, dấu của một sử trở lại quyền tự do giáo dục, mà chính quyền cộng sản đã từ chối trong 60 năm qua”.

            Vatican Insider cho biết: Đức cha Phaolô đã giải thích rằng “lối tiếp cận đối thoại với chính quyền đang đem lại kết quả”. Khi mối quan hệ song phương dần dần dễ chịu, các Giám mục đã chỉ ra rằng càng ngày các trường đại học và các trường tư, được điều hành bởi các đại học và tổ chức ở nước ngoài thuộc Á Châu, Úc Châu và Âu Châu, đang mọc lên trong thập niên vừa qua. Trường đầu tiên được thành lập vào năm 2001. “Vậy tại sao Giáo Hội Công Giáo Việt Nam lại bị tước đi quyền này? Đặc biệt dựa vào những khiếm khuyết trong hệ thống giáo dục quốc gia, vốn hiển nhiên từ những con số về nền giáo dục Việt Nam”. Giáo Hội Công Giáo có thể mang lại triết lý và kinh nghiệm giáo dục của mình để giáo dục người ta trở nên những con người có trách nhiệm, vì lợi ích của toàn thể xã hội,” Đức cha Chủ tịch HĐGM Việt Nam khẳng định.

            Cũng theo Vatican Insider, trong nhiều thập niên bị đứng ngoài hệ thống giáo dục độc quyền của Nhà Nước, các Giám mục đã khai triển kế hoạch và hành động một khi các ngài thấy một lỗ hỗng nơi các trường học. Các ngài xem xét thành lập đối tác với Đại học Công Giáo Paris và đi đến ý tưởng thiết lập một Học viện Thần Học tại Sài Gòn. Đồng thời, các ngài tìm kiếm quy chế cho Học Viện mới từ Bộ Giáo Dục Công Giáo của Tòa Thánh. Theo Vatican Insider, Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc nói điều này sẽ được cho phép “rất sớm”.

           Vatican Insider trích dẫn lời Đức Cha Phaolô: “ Chúng tôi tin chắc. Nó sẽ đánh dấu một bước tiến triển quan trọng vì ích chung của đất nước, một dấu hy vọng to lớn cho một tương lai tươi sáng hơn đối với Việt Nam”. “Giáo dục là chìa khóa và đối với Giáo Hội, sự tự do giáo dục là một phương tiện quan trọng thực hiện sứ mạng loan báo Tin Mừng cho xã hội hôm nay”. Các Giám mục sẽ thảo luận những bước cụ thể để thiết lập học viện mới này, vào cuộc họp sắp tới, sẽ diễn ra vào ngày 27-30/10/2014, tại Nha Trang.

            Ý tưởng mở một đại học Công giáo hình thành cách đây hơn 3 năm. Trong Thư mục vụ năm 2010, có tựa đề “ Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”, Giáo Hội Việt Nam đã tuyên bố rằng Giáo Hội sẵn sàng đóng góp vào việc phát triển đất nước trong lãnh vực giáo dục, một lãnh vực quan trọng để uốn nắn giới trẻ và lương tâm của họ. Bức thư đã chính thức yêu cầu chính quyền “mở rộng cánh cửa cho các tôn giáo và những người thành tâm thiện chí tham gia vào việc giáo dục học đường”

(Tý Linh, XBVN 14.07.2014/ Vatican Insider)

Xem thêm tai: http://thanhnienconggiao.blogspot.com/

Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

ME TINH YEU


Sáng nay, trong cuộc trò chuyện với phóng viên một tờ báo Công Giáo nước ngoài, người phóng viên muốn trao đổi với tôi về lòng sùng kính Mẹ Maria của người tín hữu Việt Nam, câu hỏi được đặt ra là: “Văn hóa Việt Nam có vai trò nào trong lòng sùng kính Đức Mẹ ?” Một câu hỏi thú vị và gợi mở nhiều vấn đề.
Ai trong chúng ta cũng biết, xã hội Việt Nam nặng về tình mẫu tử, vết tích chế độ mẫu hệ vẫn còn in đậm nét trong nhiều sinh hoạt của xã hội, ngay trong ngôn ngữ, những gì là cao quý, những gì là thương mến, ngôn ngữ Việt Nam đều dành cho người làm mẹ, như: Mẹ đất nước, Mẹ Việt Nam, Mẹ tổ quốc, quê Mẹ, tiếng Mẹ đẻ… Ngay trong Giáo Hội thì vẫn đề cao chữ mẹ: Nhà Mẹ, Tỉnh Dòng Mẹ, Mẹ Nhà Dòng, Nhà Thờ Chính Tòa của một Giáo Phận được coi là Nhà Thờ Mẹ của các Nhà Thờ khác… Thật ra một số ngôn ngữ trên thế giới cũng có, nhưng ngôn ngữ Việt vẫn có những nét hết sức tình cảm sâu đậm và thân thương dành cho Mẹ.
Trong Giáo Hội Việt Nam, người tín hữu sùng kính Đức Mẹ một cách đặc biệt, Nhà Thờ nào cũng dành một vị trí trang trọng xây dựng đài Đức Mẹ hoặc hang đá Đức Mẹ, lòng Nhà Thờ nào cũng có “bàn thờ kính Đức Mẹ”, ngay trong các gia đình thì bàn thờ nhiều khi vẫn chỉ đặt có mỗi tượng hoặc ảnh Đức Mẹ ! Giáo Phận nào cũng có ít là một Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ, hầu hết các trung tâm này đều hình thành từ phía những anh chị em giáo dân sùng mộ Đức Mẹ trước khi được giáo quyền chuẩn nhận và đứng ra chính thức tổ chức và phát triển. Các cuộc hành hương hiện tại trong nước đều là các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm sùng kính Đức Maria, trong khi các cuộc hành hương đến với các Trung Tâm dâng kính Chúa Giêsu hoặc các Trung Tâm có Thánh Tích Tử Đạo xem ra còn rất khiêm tốn.
Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ hiện tại trên quê hương Việt Nam chúng ta nhiều như vậy, các hoạt động bày tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria diễn ra sầm uất và đều đặn hằng năm và khắp nơi, thế nhưng những trung tâm đó và những sinh hoạt ấy lại vẫn chịu ảnh hưởng rất đậm từ các hình tượng và ngôn ngữ truyền thống của văn hóa Phương Tây.
Tháng hoa ( tháng 5 ) rất phổ biến trong sinh hoạt tôn giáo Việt Nam, nhưng những đoạn ca vãn mang âm nhạc và tiết tấu dân ca Bắc Bộ, nơi sản sinh ra loại hình dâng hoa này lại gần như mai một. Hình thức dâng hoa kính Đức Mẹ vẫn còn, nhưng thay vào đó là những bài tân nhạc quen thuộc của Nhà Thờ. Hầu hết các bạn trẻ không còn ngâm nga các bài "ca vãn" của các "con hoa" thuở xưa nữa, các nghệ nhân thì già yếu và mất dần, cô đơn và lặng lẽ vài nhà nghiên cứu ghi lại các bài ca vãn rồi cất vào tủ sâu ít ai ngó tới. Thôi thì không còn thích hợp nữa thì phải thay đổi, nhưng thay thế làm sao để văn hóa dân tộc còn tồn tại và phát triển, để người Việt còn tìm gặp được “ngôn ngữ mẹ đẻ" của mình trong việc thờ phượng.
Khi phát hiện ra tượng Đức Mẹ bị gãy tay ở Măng Đen, có hai khuynh hướng ngược hẳn nhau tranh luận về bức tượng này, nhóm muốn giữ nguyên hình ảnh Đức Mẹ bị gãy tay để tôn kính, họ nói họ tìm được chính họ trong hình tượng khổ đau này. Nhóm đối nghịch cho rằng cần phải sửa chữa và tôn tạo, họ lý luận mẹ tôi bị tai nạn gãy tay, tôi phải đưa vào bệnh viện băng bó, nếu mất tay thì phải làm tay giả chứ không thể để cụt mãi như vậy. Một cuộc thăm dò ngấm ngầm được thực hiện, ban tổ chức in hai loại lịch vào đầu năm 2013, hai loại lịch in hai hình Đức Mẹ theo hai khuynh hướng nêu trên, kết quả loại lịch hình Đức Mẹ gãy tay bán hết, loại lịch hình Đức Mẹ được lắp tay và sửa chữa sơn phết tội đẹp lại bị ế hoàn toàn.
Tìm thấy chính mình trong hình ảnh của Mẹ là một nhu cầu và một khuynh hướng tất yếu, con người cảm thấy trọn vẹn khi được thờ phượng bằng chính “ngôn ngữ” của mình. Ngôn ngữ hình thể, âm thanh, không gian, màu sắc… Mấy năm gần đây, người ta đã xây dựng một số nhà sàn trên Tây Nguyên bằng bêtông, nhưng người dân tộc lại không thích và không muốn bước vào những ngôi nhà này, họ bảo không phải nhà của họ, họ không tìm thấy không gian của họ được tái tạo lại bằng vật liệu xa lạ.
Cần nhớ là kiến trúc chính là nghệ thuật tái tạo không gian sống. Vấn đề này được đặt ra một cách nghiêm túc cho các Trung Tâm Hành Hương kính Đức Mẹ tại Việt Nam, nếu không chúng ta chỉ lập lại một cách vụng về các Trung Tâm kính Đức Mẹ nào khác trên thế giới, và người Việt không có cơ hội được diễn tả niềm tin của mình bằng chính ngôn ngữ của mình.
Trung Tâm Hành Hương La Vang tại Quảng Trị là Trung Tâm của cả nước, năm 1961 ( Huế ngày 13.4.1961 ) và 1980 ( Hà Nội ngày 1.5.1980 ), hai lần hai thời điểm Hội Đồng Giám Mục Việt Nam xác quyết như vậy. Làm sao để Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang thực sự là Trung Tâm Hành Hương của người Việt. Đến đó, người Việt cảm nhận như vào nhà mình, chan hòa giữa không gian Việt, ngôn ngữ Việt, màu sắc Việt, tương quan Việt, tâm linh Việt, hồn Việt...
Bài toán khó nhưng không thể không có lời giải đáp. Cần một sự chung sức, tôn trọng, thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi thói quen nếp nghĩ, cần phải đột phá, chấp nhận thử thách, chấp nhận sự tìm kiếm.
Ngày 15 tháng 8 năm 2014, ngày Đại Hội lần thứ 30, con cái của Mẹ đổ về từ muôn hướng, cùng với lời kinh là lời nguyện cầu cho công việc được tốt đẹp theo thánh ý Chúa. Công trình của Mẹ, Mẹ sẽ giữ gìn và hướng dẫn theo ý Mẹ vậy.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, 18.7.2014

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2014

THÁNH NỮ MARIA MAGDALENE TRONG HỘI HỌA


           Trong hàng Thánh nữ Công giáo, đi vào hội họa nhiều nhất, là Thánh nữ Maria Magdalene. 
 
           Thánh nữ Maria Magdalene được biết đến nhiều, đối với người Công Giáo, có lẽ, bởi trong Kinh Thánh, có nhiều câu chuyện viết về Bà gắn liền với cuộc đời Chúa Giêsu, đặc biệt, ở chi tiết, Bà là người đầu tiên được gặp Chúa Giêsu sau khi người sống lại.  Đã có rất nhiều tranh vẽ về chi tiết này. 
          Tuy nhiên, với phần đông họa sĩ, nhất là từ thời Phục Hưng, cảm hứng lớn nhất đối với chủ đề Thánh nữ Maria Magdalene , thì dường như, bởi ngay chính ý nghĩa hình tượng:  Bà không sinh ra “là Thánh”.  Bà sinh ra trong tội lỗi và lớn lên trong tội lỗi. Bà “trở thành Thánh”, bởi cái Tâm hướng thượng, hướng về Thiên Chúa, và đã “vượt qua chính mình”… 
          Nổi tiếng nhất, trong những bức tranh về Thánh nữ Maria Magdalene, là của Titian (Tizano Vecellio-1488-1576) - hoạ sĩ bậc thầy thời Phục Hưng - vẽ năm 1567, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Nazionale di Capodimonte, Naples


“Thánh nữ Maria Magdalene”, 1567, Tranh sơn dầu trên giấy lụa, 128 x 103 cm, Titian.
          Nổi bật trong tranh là hình ảnh một người phụ nữ đẹp, có sức sống tràn đầy, nhưng tâm hồn đã hướng trọn về Thiên Chúa.  Nó có thể, khiến gợi nhớ đến quá khứ tội lỗi, “bị quỹ ám” nơi Thánh nữ, nhưng, không tạo nên nghi ngờ về đức tin kiên định và sự thánh thiện hiện tại… Trong tranh, họa sĩ cũng đã sử dụng lại biểu tượng quen thuộc, gắn liền với hình tượng Thánh nữ Maria Magdalene, có từ trong nghệ thuật Byzantium, đó là lọ nước hoa, nhưng, ông đã thêm vào một biểu tượng mới, đó là chiếc đầu lâu người đặt ngay dưới sách Thánh.  Biểu tượng này, được ông dùng, như một cách “lý giải” hình tượng: đón nhận tin mừng của Chúa, Thánh nữ đã vượt qua cõi chết để đến với cõi vĩnh hằng…  Biểu tượng đầu lâu người được thêm vào tranh vẽ Thánh nữ Maria Magdalene này, đã được nhiều hoạ sĩ về sau sử dụng lại.
         Bức tranh thứ hai, cũng nổi tiếng không kém, là “Chúa Giêsu ở nhà ông biệt phái Simon” của Pieter Pauwel Rubens, vẽ năm 1618-1620, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Hermitage, thành phố Petersburg, Nga. 


“Chúa Giêsu ở nhà ông biệt phái Simon”, 1618-20, Tranh sơn dầu trên giấy lụa, 189 x 285 cm, Pieter Pauwel Rubens
          Hình ảnh trong tranh thể hiện câu chuyện Chúa Giêsu ở nhà ông biệt phái Simon, khi Thánh nữ Maria Magdalene đang quì ôm chân Chúa, dùng dầu thơm rửa chân Chúa, dùng tóc mình lau chân Chúa và xin được cứu rỗi…  Bức tranh nổi tiếng bởi sự sinh động của hình ảnh. Người xem có thể nhận thấy, Chúa Giêsu, dường như đang giải thích, không chỉ cho những người biệt phái, mà cho cả chúng ta, về ý nghĩa của Tin Mừng Thiên Chúa, về sự ăn năn và cứu rỗi…  Theo nhiều nhà phê bình mỹ thuật, đây là một trong số rất ít tác phẩm của Rubens thể hiện sự quan tâm nhiều đến các biểu hiện tâm lý nhân vật, đến tư tưởng chủ đề hơn là các hình thức kiểu cách… Và, bản thân điều này cho thấy, với ngay cả một họa sĩ kiểu cách, ưa thích sự hấp dẫn hình thức (nhiều khi hy sinh cả khía cạnh tư tưởng) như Rubens, ý nghĩa hình tượng nơi Thánh nữ Maria Magdalena cũng đã có giá trị hết sức đặc biệt. 
           Cả hai tác phẩm nêu trên đều đã đi vào lịch sử nghệ thuật như là những tác phẩm đặc sắc nhất và nổi tiếng nhất của nghệ thuật Công Giáo.  Đối với chúng ta, những suy ngẫm của các họa sĩ thể hiện trong tranh cũng rất nên được suy ngẫm lại…

Nguyên Hưng
(Nguồn : dongten.net)

Dưới đây là một số tác phẩm khác về Thánh Nữ Maria Magdalene

“Gặp lại Chúa”, 1511-12. tranh sơn dầu trên giấy lụa, 109 x 91 cm, Titian (Tizano Vecellio) Phòng triển lãm quốc gia, Luân Đôn

“Gặp lại Chúa”, 1525, tranh sơn dầu trên giấy lụa 130 x 103 cm, Correggio, Bảo tàng Prado, Madrid Tây Ban Nha

“Thánh nữ Maria Magdalene”, tranh sơn dầu, 45 x 29 cm bởi Quentin Massys (1466–1529), Bảo tàng Koninklijk voor Schone Kunsten, Antwerp


Thánh nữ Maria Magdalene”, 1596-97, tranh sơn dầu trên giấy lụa, 122,5 x 98,5 cm, Caravaggio, Phòng triển lãm Doria-Pamphili, Rome

“Thánh nữ Maria Magdalene”, 1623-27, tranh sơn dầu trên giấy lụa, 241 x 171 cm, Simon Vouet, Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia Antica, Rome



Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

CUỘC CHIẾN NGÀN NĂM THUỐC NAM - THUỐC BẮC



Hoàng Tuấn Phổ



Một hiệu thuốc của người Việt

            Mỗi dân tộc, để sinh tồn, phải có nền y học dân tộc riêng của mình. Truyền thuyết Trung Hoa nói vua Thần Nông mỗi ngày nếm 100 thứ cây cỏ, trong đó có 70 thứ độc, nhiều lần ông bị ngộ độc suýt chết, nhưng cũng nhờ có loại cây cỏ giải độc nên thoát chết. 

           Bởi vậy, vua Thần Nông đã tìm ra thuốc chữa bệnh. Việt Nam cũng có vua Thần Nông, vua của nghề nông, không phải một mà nhiều ông, rất nhiều ông. Thần Nông Việt Nam không liều mạng như Thần Nông Trung Quốc. Ông thông minh hơn, biết dựa vào thiên nhiên, nhờ vào động vật sống trong thiên nhiên để tìm ra cây lành, cỏ độc. Con chó mẹ sau khi đẻ con ra vườn tìm ăn một thứ lá cây, thành tên chó đẻ, một vị thuốc quý. Con khỉ trên rừng bị tên bắn, hái lá đắp vào vết thương, người ta trông thấy, dựa vào đặc điểm đặt tên bồ cu vẽ. Trâu bò gặm cỏ trên đồng, loài dê ăn lá trên núi, cỏ lá gì chúng ăn là lành, thứ gì chúng thà nhịn đói chứ không đụng mõm là độc, v.v… Từ những kiến thức cơ bản ấy, người xưa không ngừng tìm tòi, thử nghiệm, tổng kết, dân gian truyền miệng, có chữ thì ghi chép.


            Lục địa Trung Quốc rộng lớn, núi cao, rừng rậm, cây cỏ nhiều. Trên cơ sở đó, dược liệu họ phong phú và phát triển. Nhưng khí hậu Trung Quốc tùy từng miền mà có khô hanh, lạnh giá, băng tuyết, cây cỏ không tươi tốt bằng phương Nam bốn mùa xanh màu xanh sự sống. Bản chất người Trung Quốc từ ngàn xưa, thích chiếm đoạt đất đai và ham làm giàu bằng nhiều thủ đoạn. Trẻ em Việt Nam cũng biết điều này, thường hay hát: “Ngộ bên Tàu là ngộ mới sang, sang Nam Việt bán buôn làm giàu…”. Một trong những con đường làm giàu của họ là thuốc Bắc. Thời Trần, chợ Cửa Đông lớn nhất kinh thành, riêng hẳn một phố Thuốc Bắc. Nhiều hiệu bán thuốc Bắc có cả thầy thuốc Bắc. Từ kinh thành, thuốc Bắc tỏa đi nhiều ngả đường đến các thị trấn, thắt chặt dây thòng lọng vào cổ thuốc Nam.




             Nhưng thuốc Nam không dễ chết. Ngược lại, có sức sống mãnh liệt riêng của nó. Đối diện với phố Thuốc Bắc chợ Cửa Đông là những hàng mẹt, thúng, mủng, chiếu bày la liệt những cây, lá, củ, quả… có tác dụng chữa bệnh, nhà nông thu hái từ rừng núi Hải Đông lên, Sơn Tây xuống. 


            Nhiều dược vị Trung Quốc không có hoặc không tốt bằng, giá cả lại rất rẻ. Tại đây thương trường cũng là chiến trường. Người Trung Quốc mua dược liệu Việt Nam là tiêu thụ hàng hóa cho Việt Nam. Nhưng họ đem về nước sơ chế rồi lại bán sang nước ta giá đắt gấp nhiều lần với cái tên thuốc Bắc. Chỉ có thể dẫn ra một ít ví dụ: binh lang (hạt cau già),trần bì (vỏ quýt rừng), sinh khương (gừng sống), can khương (gừng phơi râm mát), khiếm thực (củ súng), liên nhục (hạt sen), long nhãn (cùi nhãn) v.v… Đại hồi mọc ở một số tỉnh biên giới Trung Việt, nhưng đại hồi chỉ mọc nhiều ở Lạng Sơn và chất lượng tốt nhất. Củ mài Việt Nam - Trung Quốc đều có, riêng củ mài Bắc Ninh tốt nổi tiếng (Hoài sơn). Trung Quốc trồng nhiều ở Quảng Tây, Quảng Đông giáp giới Việt Nam, cho quế nhục, quế bì, quế chi làm thuốc nhưng không tốt bằng quế Việt Nam, đặc biệt là quế Thanh Hoa (Trịnh Vạn) rồi đến Nghệ An (Quỳ Châu). Cho đến lộc nhung, gạc nai,… cũng vậy.


               Năm 43, tướng xâm lược Mã Viện tiến vào Cửu Chân (Thanh Hóa) vơ vét trống đồng tiêu diệt linh khí phương Nam, linh hồn Lạc Việt. Mã Viện tiêu diệt nền văn hóa Việt Nam, không quên chất hàng xe đầy cây bo bo (hạt làm thuốc) Trung Quốc gọi là ý dĩ chở về nước. Những năm tháng Trung Quốc đô hộ Việt Nam, bắt dân ta phải tiến cống sừng tê, ngà voi, ngọc trai,… đều có tác dụng làm thuốc trị bệnh vô cùng quý hiếm…


              Đời vua Trần Hiến tông đêm trăng trung thu chơi thuyền Hồ Tây, Thái tử Vượng ngã xuống nước, chỉ còn thoi thóp thở. Vua triệu thầy thuốc giỏi Trâu Canh đến chữa. Trâu Canh là con Trâu Tôn, dòng dõi đại y sư Trâu Diễn. Trâu Tôn vào quân đội phục vụ quân xâm lược Nguyên Mông sang nước ta cướp phá. Quân Nguyên Mông đại bại, Trâu Tôn bị bắt, vua Trần tha tội vì y biết nghề thuốc. Trâu Canh nối nghiệp cha làm thuốc, rất được tín nhiệm. Đáng lẽ chỉ cần châm vào huyệt nhân trung và mệnh môn hỏa, thái tử Vượng tỉnh lại ngay và khỏe mạnh bình thường. Nhưng Trâu Canh châm vào hiểm huyệt khiến thái tử Vượng lớn lên bị liệt dương, không thể sinh con nối dõi. Vua Hiến tông chỉ có Vượng là con trai, tất anh em trong họ tranh giành ngôi báu, tạo cơ hội để nhà Nguyên phát binh mã kéo sang đánh lấy Đại Việt dễ như thò tay vào túi lấy đồ vật.

                 Chị ruột thái tử Vượng, công chúa Thiên Ninh rất thông minh và quyết đoán, bằng mọi cách muốn em trai chữa khỏi bệnh liệt dương. Vua Hiến tông sai Trâu Canh tìm phương thuốc cứu chữa. Trâu Canh ra chợ Cửa Đông mua mấy hàng thuốc Nam các thứ thông dụng: Diêm sinh (lưu hoàng), cây chân chim (ngũ gia bì), củ súng (khiếm thực), củ mài (hoài sơn)… cho vua Dụ tông (thái tử Vượng) trong uống, ngoài đắp. Dụ tông quả nhiên khỏi bệnh. Nhưng Trâu Canh chưa cho gặp các cung nữ vội, bắt phải thông dâm với chị ruột (công chúa Thiên Ninh) ba lần… Sau đó, những cung nữ được chọn dâng lên vua do Trâu Canh đã bí mật gian dâm trước. 

Thời gian sau, bệnh Dụ tông tái phát như cũ, nhưng một số cung nữ vẫn có chửa! Thượng hoàng Hiến tông sai tra hỏi, họ đều thú nhận. Hiến tông khép Trâu Canh án tử hình. Dụ tông xin tha tội chết, chỉ cách tuột chức tước, vì dù sao y cũng có công chữa bệnh cho vua. Đám cung nữ xấu số bị đuổi ra khỏi cung. Họ không thể mang giống nòi Trâu Canh. Họ ra chợ Cửa Đông tìm đến các mế nàng bán thuốc Nam, xin được thương tình “cho” ấm thuốc lá…


                Vua Dụ tông chết sớm, ngôi báu truyền sang Nhật Lễ. Vốn Lễ là con trai Kép hát Trung Quốc Dương Khuông do Cung Túc vương Nguyên Dục thích vợ anh ta đẹp, hát hay lấy về làm lẽ đã có mang 3 tháng, sau đẻ ra Nhật Lễ. Nhật Lễ được làm vua, ra lệnh tàn sát tôn thất, giết cả Thái hậu, đưa người họ Dương và phe cánh vào triều nắm giữ các chức vụ trọng yếu. Đất nước đứng bên bờ vực thẳm…


            Thiên Ninh công chúa (chị ruột Dụ tông) họp gia nô làm lính, hẹn Cung Định vương Trần Phủ hội quân tại bến sông Đại Lại Thanh Hóa rồi kéo ra Thăng Long bắt giết Dương Nhật Lễ, đưa Trần Phủ lên ngôi làm Nghệ tông. Đất nước lại đứng vững sau cơn nguy biến nhất thời.


            Thời Trần, Nho học nước ta bắt đầu phát triển. Những tài năng lỗi lạc, danh sĩ xuất chúng: Lê Văn Hưu, Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Trung Ngạn, Lê Quát, Trương Hán Siêu… đều xuất thân cửa Khổng sân Trình. Nhưng quan trường đất chật, nho sĩ người đông, không “tiến vi quan” thì “đạt vi sư”. Ai cũng làm nho sư (thầy đồ) kiếm đâu ra học trò? Đành “sư” nào là “sư”: Địa lý sư, y sư, bốc sư, pháp sư,… 


               Nhiều người chọn nghề thầy thuốc chữa bệnh cứu người, giúp đời. Họ nghĩ học thuốc Bắc dễ kiếm sống vì chỉ có thuốc Bắc mới có sẵn thầy để học, sách để đọc và thuốc Bắc để chữa bệnh. Họ xuất thân từ nông thôn, hành nghề ở nông thôn. Nhưng thuốc Bắc giá đắt, đa số nông dân nhà nghèo khó, vẫn dùng thuốc Nam là chính vì rẻ tiền, lắm khi không mất tiền. Ví dụ: Chị Cò có thằng Cu bị đi phân lỏng đến nhà thầy thuốc Nam hỏi “xin” tí thuốc. Thầy (chỉ là bà lang vườn) bảo: “Nhà chị về nhà hái mấy ngọn ngấn hương, mấy búp chè, mấy đọt ổi, thêm vài ba hạt muối, nhai nát trún cho cháu vài ba lần thì khỏi!” Chị Cò nghe lời thầy về làm theo, quả nhiên thằng Cu khỏi.


             Ở nông thôn, thực tế, từ vườn ngõ nhà mình đến đầu làng cuối xóm, ngoài đồng ruộng, bái hoang, chỗ nào cũng mọc đầy cây cỏ có tác dụng chữa bệnh. Người dân nào cũng ít nhất biết một vài bài thuốc Nam đơn giản chữa bệnh. Thành ngữ “Thầy nhà lá vườn” phản ánh khá chính xác tình hình thuốc thang và công việc chữa bệnh trước kia ở nông thôn nước ta.


             Thầy thuốc Bắc thường phải có dao cầu, bồ thuốc, nhưng ít khách, thị trấn xa, hay bị “què vị” (thiếu vị) không dễ “bổ vị” (mua bổ sung) đành phải tính bài “thay vị” Bắc bằng vị Nam. Thì nhà thầy có cả kho “bán không ai mua, cho không ai lấy”. Nhà thầy cũng như nhiều nhà khác, trên một mảnh vườn hẹp, có biết bao cây thuốc, vị thuốc quý: Cây núc nác đầu ngõ, vỏ tác dụng như vị hoàng bá, cây vối sau nhà vỏ là hậu phác, cỏ gấu mạnh như gấu, củ của nó là hương phụ, cây cứt lợn mọc đầy bờ vườn là vị hy thiêm, cây cau cao vút, hạt già là vị binh lang, dây trầu không leo cây cau có thể thay vị phòng phong, v.v…


              Nam dược thần hiệu là bộ sách lớn đặc biệt giá trị của Đại y sư kiêm đại thiền sư Tuệ Tĩnh. Ông chủ trương “Nam dược trị Nam nhân”, là người đầu tiên đặt nền móng cho việc tìm hiểu, nghiên cứu, xây dựng nền y học dân tộc nước nhà, trước hết vì:


Thiên thư đã định rõ Nam bang

Thổ sản cũng khác miền Bắc quốc.

              Tuệ Tĩnh trên tinh thần khoa học, không bài ngoại hay bài xích Trung y Bắc dược. Ngoài bộ Nam dược thần hiệu, ông biên soạn rất công phu bộ Hồng Nghĩa giác tư y thư”, trong đó ông sở đắc khá nhiều cái hay của y lý Trung Hoa. Trong bài phú “Thuốc Nam” bằng quốc âm, Tuệ Tĩnh viết:


Tôi Tiên sư kính đạo Tiên sư

Thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt.

              Do thời tiết, khí hậu, đất nước phương Nam khác miền Bắc quốc, hoạt chất, tinh chất cây cỏ Nam Bắc tất không hoàn toàn giống nhau. Khí chất, bản tính người Việt Nam với người Trung Quốc cũng vậy. Đó là một đề tài hết sức thú vị, nhưng ở đây, trong một bài viết ngắn, không thể đi sâu.



               Hàng thuốc Bắc tràn ngập thị trường dược liệu, thầy thuốc Bắc cũng chiếm lĩnh “thị trường” chữa bệnh dẫn đến thị hiếu quen dùng, ưa dùng thuốc Bắc. Dược liệu Nam bị coi rẻ, thầy thuốc Nam bị coi thường, gọi bằng các tên lang vườnlang khoailang bămlang gà!


               Nhưng thuốc Nam không thể mất, thầy lang không thể chết. Vì người Nam vẫn sinh tồn và phát triển, dù trải qua bao cuộc chiến tranh hủy diet.


               Một lý do rất đơn giản, thiết thực là thuốc Nam tiện và lợi. Những thầy thuốc trong Thái y viện thời Lê được đọc sách Bản thảo chữ Hán từ Thần nông bản thảo cổ xưa đếnBản thảo cương mụcBản thảo tòng tânBản thảo thập diBản thảo vấn đápNam phương thảo mộc trạng, v.v… Chắc chắn họ phát hiện quá nửa số dược vị trong Bản thảo cương mục nổi tiếng của Lý Thời Trân (đời Minh), ở Việt Nam cũng có và tác dụng chữa bệnh giống nhau.


               Tiêu biểu cho giới thầy thuốc thời Lê là danh y Trần Ngô Thiêm, sống nửa đầu XVIII, người làng Tây Mỗ, Từ Liêm (Hà Nội), một ngự y rất được các vua nhà Lê tín nhiệm. Những phương thuốc kinh nghiệm của ông truyền lại, ngoài phương dược cổ rút ra từ y thư Trung Hoa được các danh sư Trương Trọng Cảnh, Trần Tu Viên,… bàn luận nhiều và một số phương thang do ông tự cải tiến, có không ít bài thuốc theo kinh nghiệm chữa bệnh của nhân dân, ông sưu tầm được. Trong đó, nhiều phương thuốc mang tính Bắc - Nam kết hợp. Đặc biệt, Trần Ngô Thiêm sử dụng cả thuốc dân gian kinh nghiệm của người Việt. Ví dụ: Bệnh trẻ em bị kinh phong méo mồm, lấy máu mào gà bôi vào thóp và góc hàm em bé sẽ khỏi. Nếu trẻ em bị kinh phong phát sốt: Chích máu mào gà hòa với ít bột hùng hoàng cho uống, v.v…


               Đời Tây Sơn, ngọn cờ “Nam dược thần hiệu” do Tuệ Tĩnh dựng lên (thế kỷ XIV hay XVII?) được vua Quang Trung phất cao bằng việc thành lập Viện nghiên cứu chữa bệnh bằng thuốc Nam (Nam dược cục) do danh y Nguyễn Hoành làm Viện trưởng (Ngự y chính, chánh cục) là đòn chí mạng vào độc quyền thuốc Bắc của Trung Quốc. Theo lương y Nguyễn Minh Cầu (hậu duệ Nguyễn Hoành), Nguyễn Hoành có soạn sách Nam dược bản thảoY học nhập môn ca… Rất tiếc, sau khi vua Quang Trung mất (1792) Nam dược cục không được vua Quang Toản quan tâm, Nguyễn Hoành xin giải chức, về quê Thiên Linh, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, làm một lang vườn!


                 Thực tế, không phải mới từ Lê - Tây Sơn mà đời Trần thuốc Nam đã được chú trọng với việc Trần Hưng Đạo gây trồng vườn cây thuốc Nam trên núi Sơn Dược (Hải Dương), ẩn sĩ Trần Tu (Thời Trần - Hồ) cũng có một vườn “thuốc tiên” trên đỉnh Am Tiên, núi Nưa (Thanh Hóa)…


              Triều Nguyễn biên soạn bộ Đại Nam nhất thống chí, chú trọng mục sản vật, trong đó sưu tầm, ghi chép những vị thuốc quý ở từng địa phương như sâm báo, sâm Bố Chính, quế Thường Xuân, ý dĩ Thanh Hóa, nam tinh Vĩnh Lộc, sơn dược Kinh Bắc, v.v… Rất độc đáo và đặc sắc một số cây thuốc Nam được khắc hình lên đỉnh vạc lớn đặt ở sân nhà Thái miếu kinh thành Huế: Quế Thanh (Nghị đỉnh), Hương nhu (Thuần đỉnh), Sa nhân (Thuần đỉnh), Hột sen (Nhân đỉnh), Quả nhãn (Tuyên đỉnh), Tía tô (Dụ đỉnh), Kiệu(Chương đỉnh), Tỏi (Huyền đỉnh), Gừng (Tuyên đỉnh), Hành (Cao đỉnh), Hẹ (Nhân đỉnh), Đậu xanh (Chương đỉnh), Đậu trắng (Dụ đỉnh), Đậu ván (Nhị đỉnh)… Khắc ghi vào đỉnh vạc những cây thuốc, vị thuốc quý của Nam dược là cách khẳng định giá trị muôn đời của thuốc Nam trường tồn bất diệt cùng với người Việt Nam, giang sơn gấm vóc, đất nước yêu quý Việt Nam.


                Tỉnh Thanh Hóa, thời kỳ phong kiến chống bành trướng xâm lược phương Bắc, ra đời loại hình trò diễn dân gian. Rất nhiều trò Ngô, nội dung hài hước, chế diễu, đả kích quân Tàu thực dân “sang Nam Việt bán buôn làm giàu” bằng các thủ đoạn xảo quyệt, vô nhân tính. Ví dụ: Trò Khách xưa ở làng Thiết Đanh, Yên Định và Bằng Trình, Thiệu Hóa. Một chú khách Tàu bán thuốc Bắc (đi cùng thầy địa lý Tàu) quảy đôi bồ rao thuốc: “Cái nị (ông, bà)! Cái nị! Thôốc lớ! Thôốc lớ! Ngộ tựa (từ) Quảng Tông (Quảng Đông), ngộ sang Pắc kè (Bắc kỳ), cái nị muốn thôốc chi, ngộ cũng pán!” Một người Nam nói đế: “Thôốc thôốc, thôốc chi mà thôốc? Bải (phải) rồi! Củ chuối, củ nâu, nấu chín, nhuộm đen thành thôộc tịa (thục địa)!” Người khác đế thêm: “Thôốc thôốc! Thôốc tốt nhờ thang, cả làng nhờ thuốc thầy Tàu: Đau bụng thì uống nước đồng, đau mắt lấy mủ xương rồng mà tra, nhức đầu lấy đá mà va…!” Khán giả cùng cười vang. Thầy Tàu cũng nhe bộ răng trắng nhởn ám khói vàng khè cười hềnh hệch !... (1)


             Đó là bản chất, bản tính tàn ác, xảo quyệt, trơ tráo của người Trung Quốc. Cho nên ông cha ta từ xưa đã chỉ rõ chân tướng : “Thuốc Nam đánh giặc thuốc Bắc lấy tiền(2). Nay, thuốc Bắc vẫn xuất sang ta, dùng nhiều hóa chất độc hại khi gieo trồng, bào chế cùng hạng thầy Tàu rởm, khoe khoang chữa bách bệnh nan y đều chung mục đích như tổ tiên họ “Sang Nam Việt bán buôn làm giàu” không từ thủ đoạn lừa đảo, cướp của, giết người! 


             Xem ra cuộc chiến ngàn năm thuốc Nam - thuốc Bắc chỉ là một trong nhiều trận địa cam go, chưa có hồi kết...


HTP - 20/6/2014

............
(1) - Câu này có vẻ mâu thuẫn. Nhưng người Tàu để răng trắng (không nhuộm răng như người Việt) vì hút thuốc phiện nên răng ngả màu vàng khè.

(2) - “Đánh giặc”, nghĩa bóng ở đây là “chữa bệnh”. Ý nói, các vị thuốc Nam được đặt cái tên chữ thuốc Bắc, giả làm thuốc Bắc. Bệnh khỏi là do thuốc Nam của ta, nhưng tiền thu về lại bỏ vào túi thương nhân Tàu, thầy thuốc Tàu. Câu “Thuốc Nam đánh giặc, thuốc Bắc lấy tiền”“Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân giải thích: “ý nói: thuốc nam công hiệu, còn thuốc bắc thì đắt tiền”. Các giải thích này tối nghĩa, do tác giả không hiểu được nghĩa đen - bản chất sâu xa của vấn đề (chú giải của Hoàng Tuấn Công)

Thứ Ba, 22 tháng 7, 2014

QUÀ TẶNG TIN MỪNG




Sáng kiến Truyền Giáo của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.
Trọng kính Đức Hồng Y, Quí Đức Cha, Quí Cha, Quí Tu Sĩ Nam Nữ và Quí Vị,
Được Đức Giáo Hoàng Phanxicô chúc phúc, với sự khích lệ, hướng dẫn và giúp đỡ của Ban Thư Ký, Ủy Ban Kinh Thánh, Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng trực thuộc HĐGMVN, Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, Đan Viện Xitô Mỹ Ca Nha Trang, Quí Đức Cha, Quí Cha, Quí Tu Sĩ Nam Nữ, anh chị em Giáo dân khắp nơi. Ban Biên Tập CGVN và Đặc San GSVN đã thực hiện “Quà tặng TIN MỪNG”, sáng kiến Truyền Giáo của ĐGH Phanxicô.
Chúng con xin kính báo nội dung “Quà tặng Tin Mừng” gồm:

a. Sách Tin Mừng (Phúc âm bỏ túi):
Trong buổi tiếp kiến ngày Chúa nhật 06.04.2014 tại Rôma, hàng ngàn sách Phúc Âm dạng bỏ túi đã được Đức Thánh Cha ban tặng cho mọi người, có kèm theo chữ ký và đề tặng của chính Ngài. Chúng con thật may mắn và vinh dự cũng được tặng một cuốn. Ngay lập tức chúng con nhận thấy có trách nhiệm phải mau chóng chia sẻ món quà quí báu này với hết mọi người Việt Nam, trong nước cũng như Hải ngoại, không phân biệt tôn giáo, chính kiến... Một bản tiếng Việt được mô phỏng cả về hình thức lẫn nội dung theo đúng bản tiếng Ý mà Đức Thánh Cha đã trao tặng cũng sẽ được chia sẻ, tặng cho tất cả những ai muốn nhận.

b. Bản hướng dẫn "Đọc Kinh Thánh trong tâm tình cầu nguyện":
Để hưởng ứng sáng kiến Quà tặng này của Đức Thánh Cha, một bản hướng dẫn tóm tắt linh đạo cho tất cả anh chị em Giáo dân muốn sống đời hoàn thiện theo gương các Đan Sĩ, đặc biệt là qua phương cách rất đơn sơ là Đọc, Suy Niệm, Thực Hành và giúp Phổ Biến "Quà tặng Tin Mừng" nói trên. Bản văn được Đức Cha Phó Tổng Thư Ký HĐGMVN ký tặng.

c. Phép Lành Tòa Thánh:
Nhân dịp khởi đầu Sứ Vụ Truyền Giáo bằng việc chia sẻ "Quà tặng TIN MỪNG" tại Việt Nam, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ưu ái ban Phép Lành Tòa Thánh cho hết thảy những ai có tham gia dưới mọi hình thức vào công cuộc Loan Báo Tin Mừng bằng phương cách mới mẻ này. Đây là một quà tặng thiêng liêng được trao ban nhưng không cho mọi người, xin giới thiệu cho nhau để cùng được chia sẻ.

Muốn nhận “Quà tặng TIN MỪNG”: Xin gởi email ghi danh đến địa chỉ: quatangtinmung@gmail.com  (nên ghi danh cho cả nhóm, không giới hạn số người). Xin cho biết Họ tên, địa chỉ đầy đủ và điện thoại của người đại diện để nhận quà qua bưu điện. Xin kèm theo danh sách tất cả những người cùng muốn nhận quà tặng (xin ghi đầy đủ chức danh, tên thánh, họ và tên gọi, tên giáo xứ... để in lên Phép Lành - Có thể ghi tên cá nhân hoặc cả 2 vợ chồng + các con cháu).
Đây là một sự kiện chưa từng có trong Hội Thánh toàn cầu và Việt Nam. Xin chung tay góp sức theo cách “mỗi người giúp một đồng cho việc truyền bá Lời Chúa” để hỗ trợ chi phí in ấn và cước phí bưu điện, ước mong ngay cả những người nghèo ở nơi xa xôi nhất cũng có thể được chia sẻ món quà quí báu này. Đầu tư vào việc phổ biến Lời Chúa là một đầu tư khôn ngoan nhất. Cho nhau Lời Chúa cũng chính là cho nhau chiếc “Chìa Khóa Vạn Năng”, để từ đó mỗi người có thể giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách căn cơ và tốt đẹp nhất.
Mọi sự hỗ trợ cho chương trình phân phối “Quà tặng TIN MỪNG”, xin vui lòng liên hệ bằng một trong ba cách sau đây:

1. Trực tiếp: Cha PX. Hoàng Đình Mai,  Địa chỉ: 80/1 Bùi Văn Danh, TP. Long Xuyên, An Giang.
2. Qua bưu điện:  Lm. Hoàng Đình MaiHộp thư số 45 Bưu điện TP. Long Xuyên, An Giang.
3. Qua ngân hàng ACB (Ngân Hàng Á Châu) Chủ tài khoản: Hoàng Đình Mai, Số tài khoản: 182 232 169Chi nhánh Phan Đăng Lưu.

Ghi chú:
* Sau khi ghi danh, xin vui lòng nhẫn nại chờ đợi để công việc phục vụ được chu đáo.
Nếu không có email, xin gởi thư qua bưu điện để ghi danh: Lm. Hoàng Đình Mai, Hộp thư số 45 Bưu điện TP. Long Xuyên, An Giang.
* Quí vị ở Hải ngoại, có thể gửi email xin nhận Phép Lành bằng file hình (JPG) đã hoàn chỉnh và tự in ra cho mình và người thân.
Ra khơi với Mẹ La Vang, Mẹ Việt Nam để khởi đầu "Sứ Vụ Truyền Giáo bằng Quà tặng Tin Mừng". Thật khích lệ biết bao khi nghĩ rằng chúng ta không bao giờ bị cô độc: chúng ta có Giáo hội, có Gia đình và Cộng đoàn, có anh chị em thân hữu xa gần, và nhất là chúng ta có Mẹ Maria, Mẹ Việt Nam, Mẹ La Vang. Xin hãy cùng nhau dành một phút cầu nguyện bằng cách nhấp chuột vào link dưới đây để có thể nghe bài hát Cùng Mẹ Ra Khơi.


Xin chân thành cám ơn.
BBT CGVN và Đặc San GSVN
******
Kinh thưa Quý vị, đặc biệt các bạn trẻ,
Trong số những người thân của chúng ta
Không phải tất cả đều đã có máy điện toán (vi tính) hoặc có dùng email, hoặc đã có thể nhận được những thông tin này...
Vì vậy, xin hãy ủng hộ chúng tôi bằng cách phổ biến thông tin này bằng email hoặc in ra, photocopy và gởi cho người thân của Quý vị.
Đặc biệt xin gởi cho những ai chưa có sử dụng internet
Xin chân thành cám ơn

////////////

Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

VÀI HÌNH ẢNH LỄ GIỖ LẦN 41 CHA CỐ AN TÔN BÙI HỮU NGẠN


Cha Giuse Đinh Công Hạnh , nghĩa tử của cha cố Antôn , gặp mặt anh chị em Gia Đình An Hòa tại hội trường giáo xứ Ngọc Lâm , Đồng Nai trước giờ lễ .


Cha Giuse Nguyễn Trung Thành ,Cố vấn PT HTDC hiện nay,  người cộng tác đắc lực của Cha Cố Antôn trong những hoạt động của PT HTDC ở ĐN  trước đây , dù đang mệt do bệnh cao huyết áp , cũng về dự    và đang ôn lại những kỷ niệm xưa cho anh chị em Gđ An Hòa  .


Cha  Tuyên , cha xứ giáo xứ Lệ Sơn  , Giáo Phận Đà Nẵng chia sẻ với mọi người .


Cha  Học , Kiên Giang cũng về dự .

Cha Phong ,  Cha xứ Giáo xứ Vân Đõa ,Quảng Nam 

Anh chị em Gia Đình An Hòa quy tụ về Nhà Thờ Ngọc Lâm để dự lễ giố Cha Cố .

Trưởng Ban tổ chức lễ giỗ, Ô.  Phaolô Trần Xuân Tân , trước nhà thờ Ngọc Lâm 

Anh chị em Gia Đình An Hòa tham gia buổi  gặp mặt trước giờ lễ giỗ .


Ban phụng vụ Lễ Giỗ


Cha nghĩa tử Đinh Công Hạnh  cùng các Cha đồng tế chụp ảnh cùng Gia Đình An Hòa trước giờ lễ .


Cùng tưởng nhớ đến Cha Cố An Tôn .



Các Cha đồng tế hiệp dâng Thánh Lễ Tạ Ơn , tưởng nhớ đến Cha Anton , và những anh chị em trong Gia Đình An Hòa đã mất .




Sau lễ, anh chị em gđ An Hòa  tề tự tại hội trường gx NL để dự tiệc trưa thân mật và tham gia văn nghệ .


Các cha trong Gia Đình An Hòa và Cha Quản xứ Giáo Xứ Ngọc Lâm cùng anh chị em trong gia đình dùng cơm thân mật sau thánh lễ .


Anh chị em hát BÀI CA HÙNG TÂM DŨNG CHÍ , nhất trí  tiến lên .


Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

CO LUNG VA LUA


            Tuần trước, Dụ ngôn “Người Gieo Giống” trình bày Thiên Chúa như một nông gia tung gieo Lời Ngài vào các tâm hồn. Có tâm hồn như đường đi, hạt giống rơi xuống bị người ta dẫm đạp, không ngóc đầu lên được. Có tâm hồn như sỏi đá, khô khan cứng cỏi, hạt tuy có nảy mầm nhưng rồi bị nắng trời thiêu cháy vì thiếu nước. Có tâm hồn như bụi gai um tùm, bóp nghẹt cây lúa đang lên, nên cũng chẳng sinh được bông trái nào. Nhưng có tâm hồn như vùng đất phong phú, hạt giống mọc lên tươi tốt, hy vọng mang lại cho nhà nông một mùa gặt thành công rạng rỡ.
             Tuần này, Dụ ngôn “Cỏ Lùng” lại trình bày Thiên Chúa như người vãi gieo giống tốt vào mảnh đất hứa hẹn, nhưng sau đó Satan đã lén lút gieo hạt giống xấu là cỏ lùng vào ban đêm. Thành ra trên cùng một mảnh đất màu mỡ, lúa non và cỏ lùng mọc lên chen nhau, rễ cây này xoắn gốc cây kia.
            Người tôi tớ chân thành không khỏi nhức nhối lắng lo, muốn xin chủ ruộng giải quyết tức thời tình trạng vàng thau lẫn lộn. Nhưng chủ nhân e rằng khi nhổ cỏ người ta bứng luôn cả lúa nên quyết định đợi đến mùa gặt. Lúc đó cây lúa sinh hạt sẽ được bó lại đưa về sân phơi, còn cỏ lùng hoang dại sẽ bị cắt xuống ném vào lửa thiêu.
             Dụ ngôn “Cỏ Lùng” bộc lộ hình ảnn thế giới, giáo hội, gia đình, con người như những vùng đất mang tính hỗn hợp. Thiện và ác, tốt và xấu, ân sủng và tội lỗi như đan cài với nhau. Không thể có một xã hội toàn là người tốt hoặc người xấu, cũng chẳng thể có một cộng đoàn toàn là thánh nhân hay tội nhân. Sự kiên nhẫn đầy tình thương xót của chủ ruộng như một cơ may cho những biến đổi và hoàn thiện. Thiên Chúa luôn mở ngỏ cho hoán cải và trổ sinh hoa trái tốt lành.
             Dụ ngôn trên thúc đẩy tôi đi vào một hành trình tự vấn: tôi là một cây lúa xanh tươi đang nảy sinh bông hạt thơm ngát cho cuộc đời, hay tôi là cụm cỏ lùng đang ăn hại bao chất màu tươi tốt của cuộc sống?
Chắc hẳn tâm hồn tôi có mang nhiều loại giống tốt do Chúa gieo vào và cũng không ít giống xấu do Satan và tôi tớ của nó thảy vô, nhưng loại giống nào đang được chăm sóc và thứ nào đang bị vùi xuống? Tôi đang vun tưới cây lúa đời mình hay tôi đang gắng công nhổ cỏ và nhổ luôn cuộc đời người khác?
             Tôi đang cộng tác với Thiên Chúa để gieo giống tốt vào thế giới hôm nay hay tôi đang tiếp tay với ma quỉ để gieo giống xấu vào tâm hồn tha nhân?
             Có một chi tiết rất đáng chú ý trong bài Dụ ngôn: khi mọi người đang ngủ, một kẻ xấu lòng đến rải cỏ lùng vào ruộng rồi đi mất. Kẻ thù ra tay mà không ai hay biết. Mầm mống sự ác đột nhập thế giới trong cách thế bất ngờ. Người ta chỉ nhận ra khi nó mọc lên và bắt đầu phá hoại hoa màu.
             Như thế Lời Chúa mời gọi một thái độ tỉnh thức. Nếu quên mất rằng: sống là một cuộc tranh đấu không ngừng cho điều tốt vươn lên, tôi sẽ bị cái ác đè bẹp. Nếu chủ quan thiếu canh phòng trước những bóng đêm của cuộc sống, tôi sẽ bị ma quỉ khống chế cuộc đời.
            Khi người ta nói: “đâu có sao” trong việc xem phim ảnh sách báo không nết na để giải trí một chút; khi người ta nghĩ: “đâu có sao” nếu nghe bạn bè rủ rê hút một chút cocaine cho biết mùi đời; khi người ta tưởng: “đâu có sao” chuyện bỏ đọc kinh đi lễ Chúa Nhật một hôm…, đều là những mầm giống cỏ lùng Satan gieo vào cuộc đời, chờ ngày bùng phát và huỷ hoại.
             Không phải chỉ có ma quỉ mới gieo cấy cỏ lùng. Nếu không tỉnh thức, coi chừng chính ta là người tiếp tay tung rắc cỏ lùng vào đời kẻ khác. Có cha mẹ gieo gian dối, tham lam vào lòng con cái mà không biết. Chẳng hạn, có người đi chợ về khoe với cả nhà: “Cô bán hàng hôm nay mất trí hay sao mà thối tiền sai nên dư mấy đồng, mừng quá!” Đáng lẽ nên nói với nhau: “Ồ mẹ đã trả lại cho cô bán hàng số tiền dư vì phép công bằng” hay “vì sợ cô ấy phải bỏ tiền túi ra để bù vào chỗ mất”, hoặc “e cô ta sẽ gặp khó khăn với chủ tiệm”, đàng này người ta lại sung sướng thu cái lợi trước mắt mà không ngờ đã gieo vào lòng con cái mầm giống ích kỷ, gian tham; sau này lớn lên, chúng chỉ mong người ta dốt nát, lầm lẫn, mất trí để có lợi.
             Thế đấy, hành động, lời nói, thái độ cư xử của một người có tầm ảnh hưởng như những hạt giống. Nếu là hạt tốt, gia đình, xã hội được nhờ biết bao. Trái lại, nếu là loại xấu, thương đau tất đang chờ ngày phát tán.
          Trên một tờ báo nọ có câu chuyện tiếu lâm đáng suy nghĩ: Một bé trai được mẹ cho ghé chơi nhà ông nội trong dịp cuối tuần. Ông thấy cháu mình chơi với bạn rất hăng say, nhưng hễ mở miệng ra là có những lời không thanh lịch cho lắm. Nội mới gọi cháu cưng lại trách:
-         “Cháu học kiểu ăn nói du côn của đứa nào vậy? Từ nay trở đi ông cấm không được chơi với những thứ đó nữa nghe chưa”.
Đứa cháu vừa thở dài vừa nói:
-         “Nếu thế thì từ nay cháu phải nghỉ chơi với bố cháu hay sao?”
Ông nội: !!! (Thì ra nó học được từ bố nó).
              Hỡi bạn, Thiên Chúa đang cần chúng ta tiếp tay với Ngài để gieo vào gia đình, cộng đoàn, và lòng người những hạt giống tốt. Có thể là những hạt rất bé như hạt cải, nhưng hiệu năng vô cùng lớn lao. Có thể là những hạt đơn sơ âm thầm, nhưng lại như nắm men làm dậy biết bao đấu bột. Hãy gieo đi những hạt giống yêu thương, chân thật, trung tín, nhẫn nại, quảng đại, thứ tha… Chắc chắn hoa trái mai ngày sẽ là mùa gặt hân hoan và hạnh phúc tràn đầy.


Lm. Phêrô Bùi Quang Tuấn, CSsR

(Nguon : dccthaingoai.com)