Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2014

NHÂN NGÀY VU LAN

Hai bao ti ca mt người m khiến c tri giam bt khóc

Mẹ mới hơn 50 tuổi mà tóc đã bạc trắng đầu, lưng mẹ còng như con tép nhỏ, người mẹ gầy gò quá, bộ quần áo mẹ mặc đã sờn rách. Mẹ đi chân trần hằn cáu bẩn và loang lổ vết máu. Bên cạnh mẹ là hai chiếc bao tải cũ.

              Lưu Cương phạm tội cướp giật, bị ngồi tù đã một năm. Từ ngày bị vào tù, Lưu Cương chưa có ai đến thăm.
           Nhìn những phạm nhân khác thỉnh thoảng lại có người tới thăm nom, còn được người nhà mang đến bao nhiêu đồ ăn ngon,  Lưu Cương nhìn thấy mà thèm, liền viết thư cho mẹ để mẹ đến thăm, nhưng không phải vì thèm những đồ ăn ấy mà vì Lưu Cương rất nhớ bố mẹ.
           Sau khi gửi biết bao nhiêu cánh thư nhưng không có bất cứ hồi âm nào, Lưu Cương hiểu, bố mẹ đã bỏ rơi mình. Đau khổ và tuyệt vọng, Lưu Cương lại viết thêm một bức thư nữa, nói là “ nếu bố mẹ không đến thăm con, bố mẹ sẽ mãi mãi mất thằng con này.”. Đây hoàn toàn  không chỉ là lời nói suông, những phạm nhân bị vào tù do tái phạm đã không ít lần lôi kéo anh vượt ngục. Nhưng Lưu Cương vẫn chưa hạ được quyết tâm, nay bố mẹ không còn thương xót, đoái hoài đến mình, thì còn gì để lo lắng, vấn vương nữa.
           Hôm ấy trời lạnh đến buốt da buốt thịt. Lưu Cương đang bàn bạc với mấy “đại ca đầu trọc” về chuyện vượt ngục thì có người gọi giật lại: “Lưu Cương, có người đến thăm!” Là ai được nhỉ? Bước vào phòng thăm tù nhân, Lưu Cương đứng sựng lại, là mẹ! Một năm không gặp, trông mẹ thay đổi nhiều đến mức con trai mẹ không nhận ra. Mẹ mới hơn 50 tuổi mà tóc đã bạc trắng đầu, lưng mẹ còng như con tép nhỏ, người mẹ gầy gò quá, bộ quần áo mẹ mặc đã sờn rách. Mẹ đi chân trần hằn cáu bẩn và loang lổ vết máu. Bên cạnh mẹ là hai chiếc bao tải cũ.
             Hai mẹ con cứ thế đứng nhìn nhau. Chưa kịp đợi Lưu Cương mở lời, nước mắt mẹ đã trực trào từ đôi mắt mờ đục. Mẹ vừa giơ tay lên quệt nước mắt, vừa nói: “Tiểu Cương à, mẹ nhận được thư con, con đừng trách bố mẹ nhẫn tâm. Thực sự là không có thời gian đi được con ạ. Bố con…lại ngã bệnh, mẹ phải chăm sóc bố con, đường lại xa xôi….” Đúng lúc ấy, có anh quản giáo bưng đến cho mẹ Lưu Cương  một bát mỳ trứng còn nóng hổi, nhiệt tình nói: “Bác ăn đi cho nóng rồi lại nói chuyện tiếp ạ.” Mẹ Lưu Cương vội đứng dậy, xoa xoa tay lên người, nói: “Thế này sao được”. Quản giáo đặt bát canh vào tay mẹ Lưu Cương, cười, nói: “Mẹ cháu cũng tầm tuổi bác, mẹ ăn một bát mỳ trứng của con trai không được sao?” Mẹ Lưu Cương không nói gì nữa, cúi đầu ăn “sụp soạp”. Bà ăn một cách ngon lành như mấy ngày chưa được miếng cơm nào vào bụng.
            Đợi mẹ ăn xong, Lưu Cương nhìn xuống đôi chân sưng đỏ, nứt bao vết máu của mẹ, xót xa hỏi: “Mẹ, chân mẹ sao thế? Giầy của mẹ đâu rồi ạ?” Chưa kịp đợi mẹ trả lời, quản giáo liền tiếp lời: “Vì bác đi bộ nên mới thế, giầy của bác đã bị rách từ trước rồi.”Đi bộ sao? Từ nhà đến đây phải mất ba bốn trăm dặm, hơn nữa đoạn đường núi rất dài! Lưu Cương từ từ cúi người xuống, khẽ xoa lên đôi chân của mẹ: “Mẹ ơi, sao mẹ không bắt xe tới? Sao mẹ không mua giầy mới?”
            Mẹ vội thu chân vào, nói: “Sao phải bắt xe chứ, đi bộ cũng tốt mà”, mẹ thở dài, “Năm nay lợn bị dịch, mấy con lợn ở nhà đều chết hết,  vụ mùa năm nay thu hoặch cũng kém, còn bố con…..đi khám bệnh…..cũng tốn bao nhiêu tiền…….Bố con mà khỏe thì bố mẹ đã đến thăm con lâu rồi, đừng trách bố mẹ con nhé.”
              Anh quản giáo lau nước mắt, lặng lẽ rời đi. Lưu Cương cúi đầu hỏi: “Thế bố con đỡ hơn chưa mẹ?”
            Lưu Cương đợi mãi không thấy mẹ trả lời, vừa ngẩng đầu lên đã thấy mẹ đang lau nước mắt, mẹ nói: “Cát bụi hết cả vào mắt i, con hỏi bố con à? Bố con sắp khỏi rồi…..Bố con bảo với mẹ là nói với con là đừng lo gì cho ông ấy, cố gắng mà cải tạo con ạ.”
              Thời gian thăm phạm nhân đã hết. Quản giáo đi đến, trong tay cầm một ít tiền, nói: “Bác à, đây là chút tấm lòng của quản giáo chúng con, bác không thể đi chân trần về được bác à, nếu không, Lưu Cương sẽ đau lòng lắm ạ!”
               Mẹ Tiểu Cương xua tay, nói: “Sao thế được, con bác vẫn còn ở đây, các cháu cũng đủ vất vả lắm rồi, bác còn cầm tiền của các cháu thì tổn thọ cho bác lắm!”
             Anh quản giáo run run giọng nói: “Phận làm con đã không những không cho bố mẹ được hưởng phúc, lại bắt bố mẹ già cả phải lo lắng suy nghĩ, để bác đi chân đất  mấy trăm dặm đến đây, nếu lại để bác đi chân trần về, thì thử hỏi người con này có còn là người nữa không bác?”
                Lưu Cương không thể nói lại được gì, hét như xé giọng: “Mẹ!” Sau đó không nói thêm gì nữa, bên ngoài cửa sổ là tiếng khóc thút thít, anh quản giáo phải lùa đám phạm nhân đang lao động cải tạo ra chỗ khác.
             Lúc này, có một người giám ngục bước vào phòng, cố tình lảng sang chủ đề khác: “Thôi đừng khóc nữa, mẹ đến thăm con trai là chuyện vui, đáng ra phải cười mới đúng, để tôi xem bác mang đồ gì ngon đến nào.” Vừa nói, người giám ngục vừa cầm ngược bao tải xuống. Mẹ Lưu Cương không kịp chặn lại. Mọi thứ ở trong bao rơi ra ngoài. Ngay lúc ấy, tất cả mọi người có mặt đều lặng người đi.
             Bao tải thứ nhất bị rơi ra, toàn là bánh bao, bánh nướng bị nứt toác thành bốn, năm mảnh, cứng như đá, không cái nào giống cái nào. Không cần nói cũng biết đây là đồ mẹ Lưu Cương đi ăn xin trên đường. Mẹ Lưu Cương lúng túng, hai tay túm lấy góc áo, nói: “Con ạ, đừng trách mẹ đã làm như vậy, quả thật là ở nhà không còn thứ gì có thể mang đi được nữa….”
              Lưu Cương hình như không nghe thấy gì, chỉ chăm chăm nhìn vào chiếc bao tải thứ hai, đó là một hộp tro cốt! Lưu Cương đứng ngẩn người, hỏi: “Mẹ, đây là cái gì thế mẹ?” Mẹ Lưu Cương thất thần, hốt hoảng, giơ tay ra ôm chặt lấy chiếc hộp: “Không….không có gì đâu con…..” Lưu Cương giành lấy như phát điên, toàn thân run lên bần bật: “Mẹ, đây là cái gì?!”
               Mẹ Lưu Cương ngồi phệt xuống như người mất hết sức lực, mái tóc bạc khẽ lay động. Một lúc sau, bà mới gắng gượng, nói: “Đấy là…bố con! Vì gom góp tiền đến thăm con, bố con đi làm quần quật không kể ngày đêm, bố con bị ngã gục vì suy nhược. Trước khi chết, ông ấy nói khi còn sống không đến thăm con được, ông ấy rất buồn, sau khi chết nhất định phải đưa ông ấy đến thăm con, ông ấy muốn nhìn con lần cuối…”
Hai bao tải của một người mẹ khiến cả trại giam bật khóc
Hai bao tải của một người mẹ khiến cả trại giam bật khóc
            Lưu Cương gào lên một tiếng như xé lòng xé ruột: “Bố, con sẽ thay đổi…” Nói rồi, anh quỳ sụp xuống, va mạnh đầu xuống đất. Bên ngoài phòng thăm phạm nhân, phạm nhân lần lượt quỳ rạp xuống đất, tiếng khóc thảm thiết vang đến tận đến trời xanh……
webcamdong.com sưu tầm

Thứ Năm, 7 tháng 8, 2014

CÁI NÚT ÁO


             Giật mình thức giấc, cảm thấy khát khô ở cổ, tôi lồm cồm ngồi dậy mở tủ lạnh nốc một hơi.
             Nước lạnh làm tôi tỉnh người. Nhìn đồng hồ đã hơn 4h sáng. Tôi đến bên máy vi tính bật máy lên. Mở chương trình Nhật Ký định nhập vào những việc mình đã làm hoặc những suy nghĩ về một ngày đã qua. Nhưng chương trình lại bật lên thông báo nhấp nháy màu đỏ chói: “Tuần sau là đến ngày đầu tiên quen M”. Tôi chỉnh chương trình để xem lại cái ngày đầu tiên đó và mỉm cười khi thấy lúc đó mình trẻ con hết sức.
             Tôi quyết định sẽ lục tung hết Internet để tìm ra một cái thiệp độc chiêu gửi nàng. Cuối cùng tôi cũng mãn nguyện với một cái thiệp nhiều ý nghĩa. Tôi kéo ngăn tủ ra để lấy cái đĩa CD hình mình để ghép vào thiệp, nhưng chợt nhìn thấy trong đó có một gói quà xinh xắn. Biết là của M tôi hồi hộp mở gói quà. Bên trên là một tấm thiệp to, còn bên dưới là một chiếc đồng hồ để bàn rất dễ thương và một cái nút áo. Hơi ngạc nhiên khi nhìn cái nút áo, tôi vội mở thiệp ra xem.

“Anh thân mến!
Thế là chúng mình quen nhau đã 3 năm rồi. Trong 3 năm qua em rất vui vì đã quen được anh. Em đã học được rất nhiều điều từ anh.
Anh là người rất giỏi, làm được rất nhiều việc lại sống rất tốt với mọi người. Anh sống hết sức chan hoà không câu nệ giàu nghèo, chức vị. Anh hết lòng với mọi người và được rất nhiều anh em bè bạn mến yêu, kính nể.
Tối nay, cũng như bao ngày em đến nhà anh, đã 9h tối anh vẫn chưa về nhà. Khi đến nhà anh, em nhìn thấy mẹ đang khâu lại chiếc áo bị bỏng thuốc lá của anh. Nhìn mẹ chợt em nhớ đến anh, rồi nhớ đến những gì em đã thấy ở nhà anh.
Em xin phép được tặng cho anh cái đồng hồ với lời nhắn: “Thời gian luôn trôi đi lạnh lùng. Có những thứ ngày mai làm được, nhưng có những thứ ngày mai không thể nào làm được”.
Và một cái nút áo với lời nhắn chân tình: “Đôi khi người ta biết được rất nhiều điều nhưng lại không biết một điều đơn giản là áo mình đang mặc có bao nhiêu cái nút!”. Anh đã sống vì mọi người nhưng trong mọi người lại thiếu một người quan trọng nhất. Anh hãy xem tờ giấy bên dưới. Chúc anh luôn vui vẻ và thành đạt”.

       Tôi cầm đồng hồ và cái nút lên, bên dưới có một tờ giấy xếp làm tư nằm ngay ngắn, tôi mở ra xem và thấy ngẩn ngơ với những dòng chữ dưới đây:

“Em thấy anh rủ bạn về nhà cùng vui vẻ, làm xả láng mấy thùng Ken, anh em bàn tán chuyện đời, chuyện cơ quan, chuyện nhà sếp, chuyện quan trường, đủ thứ chuyện nhậu hoài bàn hổng hết.
Em thấy mẹ cặm cụi dọn dẹp thức ăn dư, lom khom nhặt từng vỏ lon xếp lại, sáng mai ra chợ đổi lấy chục chanh pha nước, cho thằng con tỉnh rượu mỗi khi say.
Em thấy anh sáng ra sạp gom gần hết báo, đọc ngấu nghiến từng bài từng mục.
Em thấy mẹ cẩn thận sắp từng tờ báo, lựa riêng ra những phần quảng cáo rồi ngập ngừng hỏi cái này cân ký bán được hông con?
Em thấy anh chơi hết lòng với bạn, chẳng bỏ về dù tăng 4 hay tăng 3…
Em thấy mẹ cứ trằn trọc ra vô mãi, 2h rồi mà phòng nó vắng tanh.
Em thấy anh sau một ngày làm mệt mỏi, về nhà bật máy lạnh, bật quạt, ngã lưng nằm thẳng chân, chẳng muộn phiền.
Em thấy mẹ ra hiên nằm những ngày trời nóng, rồi lẩm bẩm xem điện tháng này có quá định mức chưa.
Em thấy anh ghiền chơi vi tính, cứ băn khoăn hoài chuyện nâng cấp CPU lên 2 hay 3 Gb.
Em thấy mẹ rất ghiền xem cải lương, cứ chặm nước mắt, cứ cười vui thoải mái khi xem hoài cái tivi cà giật, cái Tivi từ lúc anh tắm mưa.
Em thấy anh chuyên viên vi tính, viết phần mềm để quản lý công ty, xem công nợ, lãi lỗ, bấm một phát là có ngay. Thế mà chẳng thể nào tính đúng được tình thương của người mẹ.
Em thấy mẹ chẳng cần vi tính, vẫn âm thầm lập trình cá, cơm, rau. Biết chị Hai cái áo ủi không ngay, còn anh nữa đôi giày cả tuần chưa chịu đánh!
Em thấy anh chuyện làm chuyện lớn mà quên đi những chuyện nhỏ xung quanh.
Em thấy mẹ suốt đời vụn vặt mà dạy con mình những bài học lớn lao…”

        Có bao giờ các bạn nghĩ rằng mình đã thật sự quan tâm đến ai đó chưa? Có bao giờ các bạn đã quan tâm đến những chuyện dù chỉ là nhỏ nhặt? Có bao giờ các bạn tự đặt mình vào hoàn cảnh của người khác?
        Hi vọng qua câu chuyện này tôi và các bạn có thể tìm lại được những bài học về sự quan tâm mà các bạn đã lỡ đánh mất.
         Hãy dành những lời chúc tốt đẹp nhất cho những người người mẹ, người cha, những người luôn ở bên các bạn, luôn hướng sự quan tâm về phía các bạn mà không cần đòi hỏi điều đó từ các bạn!

(Nguồn : vuisongmoingay.blogspot.com)


Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

NGỤ NGÔN

       
             CHÚ CHIM NHỎ VÀ ĐỐNG PHÂN BÒ 

           Chú chim nhỏ đang bay về miền Nam tránh rét. Trời quá lạnh đến nỗi chú lạnh cóng và rơi xuống khu đất của một nông trại.
           Khi chú chim đang nằm thoi thóp, một con bò đi ngang qua và vô tình thải phân của mình lên chú chim. Khi nằm trong đống phân bò, chú bắt đầu nhận ra phân bò thiệt là ấm! Chú chim nằm đó, ấm áp đầy hạnh phúc trong đống phân bò, và chú bắt đầu cất tiếng ca vì vui mừng. Một con mèo đi ngang nghe tiếng chim hót liền chạy tới thám thính. Đi theo âm thanh của tiếng hót, nó phát hiện ra chú chim trong đống phân bò. Nó kéo chú chim ra khỏi đống phân và ăn thịt.

Bài học rút ra từ câu truyện:
1. Không phải tất cả những ai ném phân vào bạn đều là kẻ thù của bạn
2. Không phải tất cả những ai kéo bạn ra khỏi đống phân đều là bạn của bạn.
3. Và khi bạn đang ở sâu trong đống phân, điều hay nhất nên làm là khép miệng mình lại!


         HẤT NÓ XUỐNG VÀ BƯỚC LÊN TRÊN

       Một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: 

      Người nông dân nọ có một con lừa già. Một hôm, con lừa bị rơi xuống cái giếng khô cạn và đau đớn kêu la thảm thiết. Sau khi bình tĩnh đánh giá tính hình, vì thương cho con lừa, người nông dân đã quyết định nên nhanh chóng giúp nó kết thúc sự đau đớn. 

       Anh gọi thêm mấy người hàng xóm để cùng lấp đất chôn con lừa tội nghiệp. Lúc đầu, con lừa thêm phần kinh hoàng vì những gì người ta đang làm đối với nó. Nhưng khi từng tảng đất được hất xuống giếng liên tiếp theo nhau ập trên vai nó, một ý nghĩ chợt lóe lên: Cứ mỗi lần một tảng đất rơi đè lên vai, nó lại lắc mình cho đất rơi xuống và ngoi lên trên! Và nó đã làm như vậy, từng chút từng chút một, với một lời thần tự nhủ và tự cổ vũ: “ Nào mình hãy hất nó xuống và bước lên trên, hất nó xuống và bước lên trên...” Mặc cho sự đau đớn ê ẩm phải chịu sau mỗi tảng đất ập xuống, mặc cho sự bi đát cùng cực của tình huống đang gánh chịu, con lừa tiếp tục chiến đấu chống lại sự hoang mang, hoảng sợ, tiếp tục theo đúng phương châm “hất nó xuống và bước lên trên”. Và không bao lâu sau, cuối cùng dù bị bầm dập và kiệt sức, con lừa già đã vui mừng đắc thắng bước lên khỏi miệng giếng. 


Những gì như sẽ đè bẹp và chôn sống nó, trên thực tế đã cứu sống nó. Tất cả đều nhờ vào cái cách mà con lừa đã can đảm đối diện với nghịch cảnh của mình. 

Cuộc sống là như vậy đó. Nếu Ta đối mặt với các vấn đề của mình một cách tích cực và quả cảm, khước từ sự hoảng loạn, sự cay đắng và sự tự thương hại, thì những nghịch cảnh tưởng chừng có thể chôn vùi chúng ta, lại sẽ tiềm ẩn trong chính nó những phần thưởng không ngờ tới. Hất nó xuống và bước lên trên, hãy can đảm bước từng chút một ra khỏi cái giếng mà chúng ta đang gặp phải.


                                                                                                     sưu tầm trên internet


Thứ Ba, 5 tháng 8, 2014

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TIẾNG VIỆT



Ngược xuôi “những nẻo đường tiếng Việt” 

Lê Hữu

 Cái hoa hòe của chữ viết chỉ là văn chương, tư tưởng con người mới là văn học.” (“Những nẻo đường tiếng Việt”, BS Nguyễn Hy Vọng)


            Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng rồi
           Câu hát quen thuộc trong một bài nhạc cũ, “Gợi giấc mơ xưa”. Bài hát kể về một chuyện tình lỡ làng. Tác giả bài hát ấy, nhạc sĩ Lê Hoàng Long, có lần bộc lộ rằng cuộc tình duyên của ông đành “lỡ làng” vì ông bố người yêu của ông không bằng lòng gả con gái mình cho anh chàng tối ngày chỉ biết kéo đàn violon. Hẳn là chàng nhạc sĩ phải tiếc nuối nhiều lắm nên hai tiếng “lỡ làng” được chàng đưa vào trong bài hát đến hai lần, “Em ơi, tình duyên lỡ làng rồi, còn đâu nữa mà chờ…
           Tôi chắc ông nhạc sĩ (và nhiều người buồn vì duyên phận lỡ làng) không có ý định tìm hiểu chữ “làng” trong “lỡ làng” có nghĩa là gì, và cũng không hề biết rằng tiếng ấy có gốc gác là tiếng Nùng, với nghĩa là lỡ dịp, là không còn dịp nào để làm một việc gì. Khi bị lỡ chuyến tàu hay chuyến xe thì người Nùng gọi là “làng tàu”, “làng xe”.
          Cũng ít ai biết chữ “pha” trong tên bài hát “Phôi pha” phát âm rất gần với tiếng Chàm và Thái, và có cùng một nghĩa là mờ nhạt, là qua đi. Hoặc chữ “ngùi” trong tên bài hát “Ngậm ngùi” phát âm rất gần với tiếng Mon và Chàm, và có cùng một nghĩa là buồn tủi. Hoặc chữ “tác” trong tên bài hát “Tan tác” phát âm rất gần với những tiếng Thái, Mon, Chàm, Khmer, Malay, Indonesia, và có cùng một nghĩa là nứt rạn. Những tiếng ấy đều có chung một cái nôi ngôn ngữ với tiếng Việt, và có thể gọi là “anh em ta cùng mẹ cha”. (*)  
           Người tiết lộ cho chúng ta biết những điều thú vị này là Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, tác giả cuốn sách “Những nẻo đường tiếng Việt” và bộ “Từ điển nguồn gốc tiếng Việt”. Riêng bộ từ điển có khổ lớn (8”x10”), gồm 3 quyển, dày đến 2,200 trang và nặng đến 5 ký.
        Có thể gọi đây là bộ sách rất “nặng ký”, hiểu theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
         Tất nhiên giá trị một cuốn sách không đo ở bề dày, sức nặng hay kích cỡ, thế nhưng một bộ sách được giới thiệu là cân nặng đến 5 ký cũng là chuyện hiếm thấy trong những sinh hoạt giới thiệu sách. Chỉ cần hình dung những người yêu sách khệ nệ ôm bộ sách quý ra xe và những người khách lớn tuổi cần người phụ giúp để khuân sách về nhà là đủ thấy ấm lòng vì biết được rằng ở quanh đây vẫn còn những tấm lòng yêu chữ nghĩa tiếng Việt.  
           Không cần phải kể ra những tên tuổi như nhà biên soạn từ điển Đào Đăng Vỹ hay nhà văn Bình Nguyên Lộc từng bày tỏ lòng thán phục và gọi đấy là “một kỳ công”, bộ từ điển này tự nó đáng được xem là một công trình đồ sộ, hay nói theo ngôn ngữ kiếm hiệp Kim Dung thì quả là một “kỳ tích võ lâm”. Chỉ kể sơ qua một vài điểm đáng gọi là “kỳ tích”:

          Thứ nhất, tác giả đã tiêu pha đến gần nửa đời người để cho ra đời bộ từ điển độc đáo này. 33 năm nghiền ngẫm, trăn trở, lặn lội ngược xuôi để truy tầm đến tận ngọn ngành nguồn gốc đích thực của tiếng Việt. 33 năm “một mình một ngựa” miệt mài, rong ruổi trên những dặm đường dài hun hút, không ngưng nghỉ, không mệt mỏi. Không có một tấm lòng yêu tiếng Việt thiết tha, một niềm say mê ngôn ngữ học và một ý chí mạnh mẽ, không ai dành ra bao nhiêu năm tháng ấy với bao nhiêu công sức khó nhọc ấy để đeo đuổi một công trình lớn lao đến bạc trắng cả mái đầu.

            Thứ hai, tác giả trưng dẫn những khám phá mới mẻ đến bất ngờ và thú vị, chẳng hạn:  

(1) Không hề có cái gọi là “tiếng Hán-Việt” trong ngôn ngữ của người Việt mà chỉ có tiếng Tàu đọc theo âm và giọng Việt, được “Việt hóa” để thành tiếng Việt. Chuyện vay mượn tiếng nước ngoài là bình thường, có ngôn ngữ của nước nào, kể cả nước Tàu, lại chẳng ít nhiều đi vay đi mượn từ các ngôn ngữ khác.

 (2) Không có tiếng nào được người Việt sử dụng mà lại không có nghĩa, kể cả những tiếng vẫn bị cho là “tiếng đệm” cho xuôi tai chứ chẳng có nghĩa gì cả (như những tiếng kể ra ở trên). Những “tiếng đệm” này đều được giải nghĩa tường tận trong bộ “Từ điển nguồn gốc tiếng Việt”.
(3) Bác bỏ thẳng thừng những ngộ nhận hay luận điệu xuyên tạc cho rằng tiếng Việt là từ tiếng Tàu mà ra hoặc có chung nguồn gốc với tiếng Tàu, qua phương pháp đối chiếu ngôn ngữ có tính khoa học và đầy sức thuyết phục.

           Thứ ba, tác giả trình làng một “bộ sưu tập” quy mô và có hệ thống dựa trên ngôn ngữ học so sánh, có đến gần 28,000 từ ngữ đơn và kép tiếng Việt đi với khoảng 275,000 tiếng đồng nguyên (có chung một nguồn gốc ngôn ngữ) của 58 chủng tộc khác nhau ở vùng Đông Nam Á, trong đó có Thái, Lào, Khmer, Mòn, Chàm, Miến điện, Malay, Indonesia và cả tiếng nói của những sắc tộc thiểu số như Nùng, Mường, H’mong, Bahnar, Rhade... để tìm đến cái nôi đầu đời của tiếng Việt, cũng là cái nôi chung của “các ngôn ngữ anh em đồng nguyên với tiếng Việt”, trong đó có rất nhiều tiếng đồng âm, đồng nghĩa đến lạ lùng. Mỗi từ ngữ còn được dịch ra tiếng Anh, Pháp, và cả những tiếng “Hán-Việt” đều có dạng chữ Hoa đi kèm, rất là thuận tiện cho bất cứ ai muốn tra cứu cặn kẽ những từ ngữ tiếng Việt mà không rõ nghĩa và gốc gác, hay còn nghi hoặc.
Đây cũng là nét đặc sắc và lý thú nhất của công trình sưu khảo này.
             Đi tìm nguồn gốc đích thực của tiếng Việt còn là tìm về cội nguồn, tìm về những nét đẹp của di sản văn hóa truyền thống của người Việt, như bức ảnh “văn hóa trống đồng” được in trang trọng trên bìa hai bộ sách ấy.
“Gìn giữ tiếng Việt là gìn giữ cái linh hồn của người Việt chúng ta ở nước ngoài cũng như ở trong nước,” tác giả hai bộ sách nói. Phải có một tấm lòng rộng mở, một tâm tình yêu nguời Việt, yêu tiếng Việt biết chừng nào mới thốt lên được câu nói ấy.
             Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, có bao nhiêu sức lực, bao nhiêu công phu, bao nhiêu nhiệt tâm nhiệt huyết ông mang ra thi thố hết để mà gìn giữ cái linh hồn ấy, để cho những thế hệ người Việt hôm nay và mai sau không phải “mất gốc”, không phải đánh mất tiếng Việt như những kẻ đánh mất linh hồn.
             Được biết hai bộ sách này, sau ngày chính thức “ra mắt” tại Nam và Bắc California vừa qua, sắp sửa về đến Seattle (WA) và Portland (OR) vào đầu tháng Tám này, và nghe đâu sẽ đánh một vòng nước Mỹ, đến những nơi nào người Việt cùng chung một tiếng nói, tiếng lòng.
             Xin được gọi tác giả công trình mang tầm vóc lớn này, Bác sĩ Nguyễn Hy Vọng, danh hiệu “Người lữ hành miệt mài trên ‘những nẻo đường tiếng Việt’”, như là tên cuốn sách đi kèm với bộ từ điển thật dày, thật “nặng ký”, vì chứa đựng bao nhiêu là tâm huyết và tâm tình của ông.

Lê Hữu


Xin mời xem nội dung " NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TIẾNG VIỆT "
trong mục Văn Hóa của cuuhuynhtruonghungtamdungchi.blogspot.com

Thứ Hai, 4 tháng 8, 2014

Ý NGHĨA CHIẾC ÁO DÒNG



          Các bạn ạ, chúng ta quá quen thuộc với hình ảnh một linh mục, một chủng sinh, một tu sĩ mặc chiếc áo dòng màu đen dài, trông các ngài thật đẹp trong "thời trang độc nhất" ấy phải không ạ! Vậy các bạn có biết gì về chiếc áo đen ấy không?? Tôi xin chia sẻ với các bạn bằng một bài viết sưu tầm được:

           Qua một số tài liệu từ tự điển Kinh thánh đã đọc, thì màu đen biểu tượng cho sự đau buồn và tang tóc trong khi màu trắng lại tượng trưng cho sự vui mừng và thanh khiết. Vì thế điều này làm cho tôi thắc mắc không hiểu bởi đâu mà có tục lệ chiếc áo dòng mang màu đen? Tại sao các linh mục lại mặc áo dòng và tại sao lại là màu đen, màu không phải tựơng trưng cho sự vui mừng và hy vọng?



          Ngày mà tôi nhận được chiếc áo dòng là một ngày đặc biệt nhất trong đời tôi. Mặc dù lúc đó tôi chưa thật sự là một linh mục (thật ra chúng tôi được mặc áo dòng vào năm thứ ba tại đại chủng viện), trong mắt của thế giới và của mọi người thì chúng tôi là giới tu sĩ. Đó là một ngày thật tuyệt vời! Một số người đã chúc tụng Chúa Kitô khi họ nhìn thấy tôi và họ không ngại ngùng chia sẻ những sự khó khăn trong đời sống của họ. Chiếc áo dòng đã giúp cho địa vị của tôi được rõ rệt hơn là tôi đã thuộc về Chúa một cách đặc biệt. Vì thế, tôi rất ủng hộ cho những ai lên tiếng bảo vệ chiếc áo dòng của các giới tu sĩ, tôi cũng biết rằng “chiếc áo không làm nên thầy tu”, tôi luyến nhớ những thời gian khi mặc chiếc áo dòng là một thông lệ bình thường hằng ngày. Tôi rất yêu thích khi mặc chiếc áo dòng của tôi ---

           Vào thế kỷ thứ nhất của Kitô Giáo (trải qua hơn bốn thế kỷ) y phục của các vị linh mục cũng tương tự như những người giáo dân thường. Áo cổ cao là một y phục rất thông thường trong thời đại đó. Đến thời đại mà áo thụng ngắn hơn trở thành một thời trang cho nhiều người nhưng một số các vị linh muc vẫn giữ chiếc áo cổ cao cho riêng mình, và chính điều này đã khiến cho các vị đó nổi rõ hơn những người khác. Hội đồng Giám mục ở Braga vào năm 572 sau Công Nguyên, đã yêu cầu các vị linh mục nên thay đổi y phục khác biệt mỗi khi đi ra ngoài. Chiếc áo dòng đã được chính thức hóa và trở thành một phong tục trong một khoảng thời gian rất lâu. Bước sang thế kỷ thứ 15 và 16 thì tục lệ mặc áo thụng được gọi là “tu sĩ“ (chữ này phát nguồn từ tiếng La Mã). Vào khoảng thời gian này, phái nam giới thường mặc áo thụng dài, đặc biệt là giới quý tộc thường thích mặc áo thụng dài: áo Zupan (một loại y phục dài bằng vải màu vàng) và áo kontusz (loại áo choàng xẻ dọc theo tay áo) và mang dây thắt lưng. Áo dòng của các vị tu sĩ đã được chính thức hóa vào thế kỷ thứ 17 and 18. Màu sắc của áo dòng có liên quan đến phẩm trật của hàng giáo sĩ, điều này vẫn còn được tồn tại cho đến nay: Đức Thánh Cha mặc áo màu trắng, Đức Hồng Y mặc áo màu đỏ (đỏ tươi), Đức Giám Mục thì mặc áo màu đỏ sẫm và các linh mục thì mặc áo màu đen.

             Đúng như bạn nghĩ, màu đen chính là màu của sự đau buồn, nhưng đối với áo dòng thì màu này mang một ý nghĩa tượng trưng khác. Sở dĩ áo dòng mang màu đen vì muốn nhắc nhở các vị linh mục một điều là họ chết đi cho nhân gian mỗi ngày và thấm ngập trong sự viên mãn. Màu đen còn tượng trưng cho sự từ bỏ những màu sắc tươi sáng, cũng chính là từ bỏ những gì thế gian mang lại, sự lộng lẫy, danh giá và thú vui.

           Cổ áo của các vị tu sĩ cũng có ý nghĩa rất quan trọng. Các học sinh của tôi thường nêu câu hỏi: Tại sao vòng đai trắng trên cổ áo của thầy lại mang tên là cổ áo tu sĩ mặc mặc dù nó không có màu sặc sỡ (tiếng Ba Lan ‘koloratka’ có nghĩa là màu sặc sỡ)? Chữ này có nguồn gốc từ tiếng La Tinh collare có ý nghĩa là cổ áo (cũng có nghĩa là dây đeo cổ của loài vật). Vòng đai trên cổ áo có màu trắng nhắc nhở cho các tu sĩ nhớ đến ý nghĩa của chiếc nhẫn và cổ áo – sự kết hôn của họ với Chúa Giêsu và với Giáo Hội và tận hiến sự tự do của họ cho Chúa, như thế họ để Chúa hoàn toàn làm chủ cuộc đời của họ. Chúng tôi, những tu sĩ, mặc áo có vòng đai trên cổ bởi vì đó là biểu tượng cho sự đầu phục Chúa trong tất cả mọi phương diện. Hãy để ý thì sẽ thấy sự tương phản của màu trắng trên cổ áo với màu đen của áo dòng. Trên màu nền đen của chiếc áo dòng, cổ áo trắng là biểu tượng cho ánh sáng của Phục Sinh. Chúng tôi đi qua thế gian từ bỏ những sự màu mè và sặc sỡ, để thay vào đó bằng sự sống trong hy vọng mong được góp phần vào ánh sáng của Phục Sinh.

           Màu trắng của cổ áo trên nền đen của chiếc áo dòng thực sự là dấu chỉ cho những ước muốn và nguyện vọng của chúng tôi. Đó chính là ý nghĩa tuyệt vời của chiếc áo dòng và vì thế mà tôi rất buồn khi thấy ngày nay các tu sĩ ít mặc áo dòng hơn, và không thường xuyên mặc áo dòng vì chiếc áo dòng đã tự nó tuyên xưng những điều chân lý quan trọng của đức tin. Thêm vào đó, các tu sĩ đều mặc quần dài dưới chiếc áo dòng và áo dòng không bắt buộc phải có 33 nút khuy trên áo.

Sưu tầm từ Internet
http://giaolyphutrung.com/forum/arch...hp/t-1318.html


TẤM BÁNH CHIA SẺ

SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT 18 MÙA THƯỜNG NIÊN - NĂM A 
                                        Tgm Ngô Quang Kiệt


        Bài Tin Mừng hôm nay chứa đựng rất nhiều bài học.
 Như về Nước Trời, về Dân Thiên chúa, về bí tích Thánh Thể. Nhưng có lẽ bài học thiết thực nhất cho chúng ta hôm nay là bài học liên đới. Đó cũng chính là bài học Chúa muốn dạy cho các môn đệ của Người.

        Liên đới là biết cảm thương. Nhìn thấy đám đông, Chúa Giê su chạnh lòng thương. Đó là một đám đông nghèo khổ, đói khát, bệnh tật,  vơ không người chăn dắt. Đám đông tội nghiệp đi tìm Chúa không phải chỉ để được ăn no, nhưng còn để được chữa lành bệnh, nhất là được an ủi, được dạy dỗ, được chỉ bảo. Khi chạnh lòng thương, Chúa Giê su dạy ta hãy nhìn những người chung quanh bằng ánh mắt liên đới. Những người này đói vì tôi đã ăn quá nhiều. Những người kia rách vì tôi đã mê mải đuổi theo “mốt”. Những đứa trẻ này hư hỏng vì tôi đã thiếu quan tâm chỉ bảo.Những đứa trẻ kia rơi vào tội phạm vì tôi đã không làm gương tốt cho chúng. Thế giới này chưa tốt một phần có trách nhiệm của tôi. Thế giới này chưa công bằng trong đó có phần lỗi của tôi.

         Liên đới là nhận lấy trách nhiệm. Các môn đệ đã nhìn thấy đám đông đói khát. Các ngài muốn thoái thác, phủi tay: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thày giải tán đám đông, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn”. Đó là một giải pháp hợp lý. Lo cho năm ngàn người ăn là ngoài tầm tay của các môn đệ. Đó cũng là giải pháp nhẹ nhàng.Ai lo phần nấy. Thật dễ dàng. Nhưng đó là giải pháp không được Chúa chấp nhận, vì thiếu tình liên đới. Chúa muốn các môn đệ Chúa nhận lấy trách nhiệm: “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn”. Họ đói, các con phải lo cho họ ăn. Một trách nhiệm nặng nề vượt quá sức các môn đệ. Nhưng đã cảm thương thì phải có trách nhiệm.Trái tim cảm thương thật sự phải hướng dẫn bàn tay làm việc.

        Liên đới là đóng góp phần của mình. Chúa không cần những phép tính  mô. Năm ngàn người thì cần bao nhiêubánh ? Những tính toán lớn lao là không thực tế và làm ta lo sợ. Chúa dạy các môn đệ khởi đi từ thực tế: “Ơ đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm chiếc bánh và hai con cá”.Thật là ít ỏi, nghèo nàn. Nhưng Chúa không chê cái ít ỏi nghèo nàn đó: “Đem lại đây cho Thày”. Có ít hãy đóng góp ít. Nhưng quan trọng là phải bắt đầu, là phải góp phần của mình. Liên đới không đòi ta phải quán xuyến mọi sự, nhưng đòi ta thật sự có trách nhiệm, góp phần của mình vào việc chung.

         Liên đới là chia sẻ. Chúa chúc tụng để làm phép bánh và cá như cho ta thấy, những đóng góp dù ít ỏi của ta đã thành thiêng liêng cao quí. Chúa không làm phép lạ tức khắc biến ngay cá và bánh ra một núi lương thực cho mọi người tự do đến lấy. Chúa cũng không tự tay phân phát lương thực cho mọi người. Chúa trao bánh và cá cho các môn đệ. Các môn đệ trao cho mọi người. Và mọi người trao lại cho nhau. Đó là bài học lớn của phép lạ. Chính khi mọi người trao cho nhau, Chúa làm phép lạ. Bánh và cá cứ tiếp tục sinh sôi bao lâu những bàn tay còn trao cho nhau. Bánh và cá vẫn tiếp tục nhân lên bao lâu mắt con người vẫn còn nhìn nhau. Những tấm bánh của tình liên đới. Những đàn cá của sự chia sẻ. Chúng nhân lên theo nhịp của trái tim. Khi tráitim chan chứa yêu thương, quan tâm, liên đới, lương thực trở nên phong phú, dư thừa.

          Thế mà các môn đệ đã vội lo. Cũng như ta thường lo thế giới này quá chật hẹp không đủ chỗ cho mọi người. Cũng như ta vẫn thường lo lương thực trên thế giới không đủ nuôi mọi người. Hôm nay Chúa dạy ta mỗi người hãy chia sẻ những gì mình có thì thế giới sẽ dư thừa lương thực.Khi trái tim mở ra thế giới sẽ có đủ chỗ cho mọi người.

Lạy Chúa xin mở trái tim con để con biết cảm thương và chia sẻ. Amen.

Thứ Bảy, 2 tháng 8, 2014

MÀU SẮC TRONG PHỤNG VỤ




Màu xanh lá cây: màu của niềm hy vọng và của sự sống, được dùng trong các thánh lễ trong Mùa Thường Niên hoặc Quanh Năm. Khi thấy vị linh mục tiến lên bàn thờ trong phẩm phục màu xanh, điều đó cho chúng ta nghĩ rằng chúng ta là những người có niềm hy vọng lớn lao, là đoàn lữ hành đang được Chúa Kitô dẫn đến những cánh đồng xanh tươi của miền đất hứa.

Màu đỏ: màu máu và lửa, được dùng trong ngày Chúa Nhật Thương Khó (Lễ Lá), thứ Sáu Tuần Thánh, Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, trong các cử hành cuộc thương khó của Chúa, trong lễ kính Các Thánh Tông Đồ, các thánh sử Tin Mừng và trong các lễ kính các Thánh Tử Đạo.

Màu tím: màu của sự ăn năn, thống hối và của sự mong đợi, được dùng trong Mùa Chay và Mùa Vọng. Người ta cũng dùng màu tím trong thánh lễ và các nghi thức phụng vụ cầu cho những kẻ qua đời (trước Công Lồng Vaticanô II, dùng màu đen).

Màu trắng (có thể được thay thế bằng màu vàng): màu của sự trong sạch, tinh tuyền, nhất là vinh quang của Thiên Chúa, được dành cho các nghi thức phụng vụ và các thánh lễ mùa Phục Sinh và mùa Giáng Sinh.Màu trắng cũng được dùng trong các thánh lễ kính, lễ nhớ, các lễ kính Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh không phải là Thánh Tử Đạo. Màu trắng còn diễn đạt sự Phục Sinh của Chúa Kitô cũng như sự phục sinh của chúng ta sau này (nơi bàn tiệc thiên quốc những người được tuyển chọn đều mặt y phục trắng toát.

Màu hồng: được sử dụng hai lần trong năm (Chúa Nhật III Mùa Vọng và Chúa Nhật IV Mùa Chay) để mời gọi tín hữu hưởng niềm vui thầm kín và an lành trong niềm trông đợi Đấng Cứu Tinh hoặc trong sự chuẩn bị đón mừng Chúa Kitô phục sinh. Tại Việt Nam, màu hồng được thường dùng trong thánh lễ hôn phối, trong bầu khí vui tươi, để diễn đạt tình yêu nam nữ, là hình ảnh của tình yêu Chúa Kitô với Giáo Hội Người.




Trong Quy chế tổng quát Sách lễ Rôma (GIRM, bản Việt ngữ do linh mục P.X. Nguyễn Chí Cần, GP Nha Trang, dịch) và trong Huấn thị Bí tích Cứu độ (Redemptionis Sacramentum, bản Việt ngữ của Hội đồng Giám mục Việt Nam).
“Quy chế tổng quát Sách lễ Rôma” nói:
........


Số 346. Về màu sắc của phẩm phục thánh, nên giữ thói quen truyền thống sau đây:

a. Màu trắng được dùng trong Thần vụ và Thánh Lễ mùa Phục Sinh và mùa Giáng Sinh, trong các lễ kính Chúa, ngoại trừ cuộc Thương Khó của Người, các lễ kính Ðức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần, các Thánh không tử đạo, lễ trọng kính Các Thánh (1-11), kính Gioan Tẩy Giả (24-6), các lễ kính thánh Gioan Thánh sử (27-12), Ngai Toà Phêrô (22-2), thánh Phaolô trở lại (25-1).

b. Màu đỏ được dùng trong Chủ Nhật Thương Khó và thứ Sáu Tuần Thánh, Chủ Nhật Hiện Xuống, các cử hành cuộc Thương Khó của Chúa, lễ các Tông Ðồ và Thánh Sử, và lễ các Thánh Tử Ðạo.

c. Màu xanh dùng trong Thần vụ và Thánh Lễ mùa "Thường Niên".

d. Màu tím dùng trong mùa Vọng và mùa Chay. Có thể dùng trong các nghi thức phụng vụ và Thánh Lễ cầu cho người qua đời.

e. Màu đen có thể dùng trong lễ cầu cho người qua đời, ở đâu có thói quen này.

f. Màu hồng có thể dùng trong Chủ Nhật Gaudéte (Chủ nhật III Mùa Vọng) và Laetare (Chủ nhật IV Mùa Chay), ở đâu có thói quen này.

g.Vào các ngày lễ trọng hơn, nghĩa là quý báu hơn, áo lễ có thể được sử dụng theo màu không đúng màu của ngày hôm đó.

h. Áo lễ màu vàng quý hoặc màu bạc có thể được sử dụng vào các dịp lễ long trọng ở các giáo phận của Mỹ”.

“Số 347. Trong các lễ nghi thức, dùng màu riêng của lễ, hay màu trắng hay màu lễ hội; còn các lễ tùy nhu cầu thì dùng màu của ngày hôm đó hay màu của mùa hay màu tím, nếu có tính cách thống hối (x. các số 31, 33, 38); các lễ tùy ý thì dùng màu thích hợp với lễ cử hành, hay màu của ngày hôm đó hoặc màu của mùa”.

Huấn thị Redemptionis Sacramentum, số 127, cung cấp một giải thích chính thức cho số 346g trong Quy chế tổng quát Sách lễ Rôma:

“Số 127. Trong các sách phụng vụ, có một năng quyền đặc biệt được ban để, trong những ngày thật trọng thể, sử dụng các phục phụng vụ dành cho các ngày lễ và đặc biệt đẹp, dù chúng không đúng màu sắc của ngày lễ hôm đó. Tuy nhiên, quyền này, liên quan một cách đặc thù đến các lễ phục phụng vụ rất cổ xưa, nhằm bảo toàn di sản của Giáo Hội, lại bị nới rộng một cách quá đáng đến những đổi mới; do đó, bỏ qua cách làm truyền thống, người ta chấp nhận những hình dáng và màu sắc, căn cứ trên những tiêu chuẩn chủ quan, và như thế là làm yếu đi ý nghĩa của một quy tắc, hại cho truyền thống. Những ngày lễ, các phẩm phục thánh màu vàng hay bạc có thể thay thế, tuỳ lúc, các màu sắc phụng vụ khác nhau, trừ ra màu tím và màu đen”. (Zenit.org 3-7-2012)



Góp ý riêng của VietCatholic về Mầu Vàng áo lễ tại Việt Nam:

Hiện nay tại Việt Nam khi có thánh lễ đồng tế thấy có nhiều linh mục mặc áo vàng chói, (giống y như mầu vàng của các nhà sư sãi). Nếu đề ý quan sát thì Mầu vàng này chưa hế thấy linh mục nào thuộc các quốc gia trên thế giới sử dụng. Tại Roma cũng như nhiều quốc gia khác, khi sử dụng mầu vàng cho phẩm phục đồng tế thì thường mầu vàng có nét thanh tao, hầu như là mầu có chút vàng nhạt trắng chứ không phài mầu vàng lèo loẹt, trông rất lạ mắt và chóe!

Xin được góp ý và đề nghị Ban Phụng Vụ thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nghiên cứu kỹ và sâu rộng về việc sử dụng mầu vàng này trong lễ nghi Phụng Vụ.


Xin so sánh hình ảnh dưới đây:


                          Nguyễn Trọng Đa
                               (Nguồn : vietcatholic.net)