Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

PHÁO ĐẤT

                           

Pháo đất, còn gọi là pháo nổ, pháo nang theo câu nói hay được dùng khi chơi, là một trò chơi dân gian của trẻ em Việt nam sử dụng một loại pháo làm bằng đất.
Trò pháo đất đã có lịch sử lâu đời, các câu truyện lưu truyền ở đồng bằng Bắc Bộ cho biết pháo đất được hình thành trong quá trình đắp đê ngăn lũ. Hay truyền thuyết về lịch sử hội thi pháo đất ở xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình kể rằng năm 1288, trong khi đang đi đánh trận Bạch Đằng, con voi của Trần Hưng Đạo sa lầy ở khúc sông Hóa chảy qua đây. Nhân dân quanh vùng đã dùng đất ném xuống sông cho voi thoát lên. Từ đó, khi nông nhàn, nhân dân thường tụ tập diễn lại cảnh này và dần dần hình thành nên hội thi pháo đất. Cổ xưa hơn, truyền thuyết của người dân ở xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương nói rằng trò chơi này có ở đây từ thời Hai Bà Trưng khi nữ tướng Lê Chân dùng pháo đất với mục đích nghi binh và chơi trong những ngày hội hè nhằm xua tan âm khí, dịch bệnh.

Công cụ để chơi pháo đất được làm từ các loại đất có độ quánh cao như đất sét, đất thịt... Pháo thường có dạng như hình cái chảo không có tay cầm hoặc hình bầu dục có thành dày hơn đáy với kích thước linh hoạt và nhiều khi phụ thuộc vào lượng đất nguyên liệu mà trẻ em kiếm được. Ở các lễ hội thi, pháo đất được chế tác rất to, gọi là mâm pháo và có thể dùng từ 20kg đến 50kg đất. Sân chơi thường là một mặt bằng càng phẳng càng tốt để vành pháo có thể tiếp xúc khít nhằm gây tiếng nổ to. Đất được sử dụng để nặn pháo nhiều lần do đó mặt bằng được làm sạch bụi để bụi không làm khô đất.

  • Kỹ thuật làm pháo đất: đất được làm tăng độ dẻo và nhuyễn bằng cách nhào nặn nhiều lần để khi nặn thì độ bền của thành hoặc đáy ở những chỗ có độ dày giống nhau tương đối đồng đều. Trường hợp đất quá khô phải cho thêm nước khi nhào, nặn. Độ dày của đáy phải ở mức độ phù hợp với diện tích của nó thì khi nổ mới tạo thành tiếng kêu to và vết phá ở đáy vừa phải. Vành của pháo đất phải được làm sao cho nó tạo thành một mặt phẳng có thể úp khít xuống mặt sân chơi. Ở những hội thi, khi làm pháo lớn, người ta làm vành pháo giống như cạp của rổ, rá.
  • Kỹ thuật nổ pháo: người chơi cho pháo nổ bằng cách cầm pháo theo cách đáy pháo tiếp xúc với lòng bàn tay rồi ụp mạnh xuống để vành pháo tiếp xúc với bề mặt sân chơi. Kỹ thuật này đòi hỏi độ chính xác cao để mặt phẳng của vành pháo tiếp xúc đều với bề mặt sân chơi mới có thể tạo ra tiếng nổ to, nếu góc tiếp xúc không chuẩn, pháo sẽ vón thành một cục đất chứ không nổ. Khi pháo đập xuống mặt sân chơi, áp suất cao của không khí trong lòng pháo khi bị nén sẽ phá vỡ đáy của nó tạo thành tiếng nổ.
Luật chơi pháo đất rất đơn giản, những người chơi sẽ được chia những phần đất đều nhau để làm quả pháo đất của mình. Những người chơi sẽ lần lượt cho pháo nổ, pháo của ai nổ to được coi là thắng cuộc. Ở các cuộc thi, pháo đất ngoài nổ to phải kèm theo yêu cầu vết phá ở đáy pháo càng rộng càng tốt và/hoặc vành pháo sau khi nổ phải tách rời ra và nằm vắt ngang thân mà không bị đứt đoạn. Pháo đất cũng có thể chia nhiều người chơi thành hai phe và cử đại diện cho pháo nổ.

  • Để thử độ dẻo, nhuyễn của đất, trẻ em thường đứng thẳng và vo tròn đất vật liệu lại rồi thả cho rơi tự do xuống nền sân chơi. Nếu đất sau khi rơi xuống tạo thành một hình tròn có độ dày tương đối đồng đều thì được coi là đã đạt chất lượng.
  • Trước khi cho pháo đất của mình nổ, trẻ em thường hô to pháo nổ, pháo nang, cả làng chịu chưa? rồi hà hơi vào miệng pháo đất trước khi cho nổ. Động tác hà hơi nhằm cầu mong cho pháo đất của mình nổ to. Trong trường hợp cuộc chơi được chia làm hai phe, sau khi một bên đã hô như trên, khi đến lượt, bên kia sẽ hô "chưa chịu!" hàm ý pháo của mình sẽ nổ to hơn.
  • Trẻ em khi chơi với nhau thường quy định phần thưởng là người thua cuộc sau mỗi lần cho pháo nổ phải dùng một lượng đất vật liệu mà khi dàn mỏng ra có thể phủ kín diện tích đáy pháo đã bị phá vỡ của người thắng cuộc để "đền" cho người đó. Nếu nhiều hơn hai người chơi có thể thỏa thuận người xếp cuối cùng "đền" cho người thứ nhất, người xếp ngay trước người cuối cùng "đền" cho người thứ hai... Những người thua cuộc nhiều lần sẽ rơi vào tình trạng đất vật liệu ít dần dẫn đến pháo không thể nổ to được nữa và phải bỏ cuộc.
  • Đất làm pháo khi tàn cuộc chơi hay được trẻ em dùng để nặn các con giống, bi đất... để tiếp tục những trò chơi mới.

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, một số địa phương (Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương tổ chức lễ hội thi pháo đất. Đất làm pháo được lựa chọn và luyện công phu. Quả pháo đất rất to, thường nặng từ 30-50 kg, có vành và phải nhiều người khiêng khi cho pháo nổ. Ngoài tiếng nổ to, pháo đất thắng giải còn phải đáp ứng một số yêu cầu khác như lỗ thủng, vị trí của vành pháo sau khi nổ...Pháo đất Ninh Giang


Nếu bạn có dịp tới thăm Ninh Giang (Hải Dương) vào mùa xuân, ở bất kỳ một thôn xóm nào tại đây, bạn sẽ được xem hội pháo. Không phải hội pháo với những nét đặc trưng của Hội pháo Đồng Kỵ hay Hội pháo Bình Đà nổi tiếng một thời mà là hội pháo đất đã trở thành truyền thống ở Ninh Giang mỗi dịp xuân về. Pháo ở Ninh Giang không làm bằng giấy mầu xanh đỏ với những gam thuốc nổ ghê người mà chất liệu chính của nó là đất. Tuy nhiên, không phải thứ đất nào cũng có thể làm được pháo mà phải là thứ đất gan gà, được chọn lọc và làm kỹ cả tuần lễ trước khi hội pháo diễn ra. Đất này sẽ được người ta giã nhuyễn như bột làm bánh dầy và khi vào hội, những khối đất vuông vức dẻo quánh ấy sẽ được những cô gái xinh đẹp nhất của làng gánh đến sân chơi.

Ngày hội pháo diễn ra, cả làng nô nức kéo nhau tới sân chơi và không khí lúc này đã thật sự đúng nghĩa của một ngày hội làng. Mọi người tới đây, ngoài việc vui chơi còn để thi thố tài năng làm pháo. Những người tham gia hội pháo ở đủ mọi lứa tuổi khác nhau nhưng họ đều có một điểm chung là khéo tay, khỏe mạnh và bình tĩnh. Họ sẽ tham gia thi đấu theo từng loại pháo, tùy vào trọng lượng của đất. Cái nhỏ nhất bao giờ cũng nặng 10 kg và lớn nhất là 50 kg với hình thù đặc chưng kiểu lá riềng (hình thuyền). Pháo làm xong giống như một chiếc thuyền con, vành pháo to tròn bằng lốp xe đạp thồ, bản pháo là phần trong. Tuy nhiên, quyết định sự thắng thua là nghệ thuật gieo pháo. Người chơi sẽ nâng pháo lên bằng hai tay của mình, giữa tiếng reo hò, tiếng trống mõ cổ vũ dậy trời. Lúc này người chơi phải thật bình tĩnh, tính toán chính xác độ cao cũng như độ xoáy để khi gieo pháo, pháo phải rơi sao cho tất cả vành pháo cùng một lúc tiếp xúc với mặt sân. Bởi nếu không cẩn thận, pháo quá to, đất lại dẻo mềm, vành pháo sẽ bị rũ xuống. Nếu pháo ở cao quá, tiếng nổ thì to nhưng sức phá mạnh, vành pháo tung ra sẽ bị đứt đoạn. Và người thắng phải là người biết tìm điểm cao, thấp tùy theo độ dài của vành pháo để khi pháo rơi vành pháo tung dài, duỗi thẳng, không bị đứt đoạn mà lại nằm vắt lên bản pháo với tiếng nổ vừa vang, vừa ấm. Tuy nhiên, đoạt giải không chỉ nằm ở việc pháo nổ to mà còn tùy thuộc vào tổng cộng tất cả số đo chiều dài vành pháo. Chính vì thế, thắng lợi sẽ được quyết định hay không là ngay từ khâu làm đất. Chỉ cần sơ sót một chút, để một hạt sỏi nhỏ hoặc một sợi tóc lẫn trong đất pháo thì khi pháo nổ sẽ bị đứt đoạn, điểm sẽ không được tính. Bên cạnh đó, thành công còn quyết định ở cả nghệ thuật làm pháo và gieo pháo...

Khi kết thúc hội pháo, người đoạt chức vô địch - người được chơi chiếc pháo cuối cùng, còn gọi là chiếc pháo rút dây - sẽ quyết định độ dài cả dải pháo của đội mình và đội bạn. Người này thường là phải được chọn lựa rất kỹ ngay từ giải địa phương và khi ban tổ chức công bố người thắng cuộc, người vô địch sẽ được khoác lên người một chiếc áo đỏ, được mọi người công kênh, tung hô. Tiếp đó là tất cả tranh nhau xé chiếc áo đỏ thành từng mảnh, phát cho các cháu nhỏ để lấy phước, lấy lộc đầu năm mới.

Hội pháo của Ninh Giang trước đây thường được kéo dài trong suốt 3 tháng liền với phần thưởng là trâu, bò, gạo cuốn hút cả già, trẻ, gái, trai trong hàng tổng, hàng huyện. Tuy nhiên, đến bây giờ thì nghi lễ đã được rút ngắn lại, chỉ tổ chức vào các ngày chủ nhật sau Tết và phần thưởng cũng không lớn như trước nữa. Tuy nhiên, với người dân ở Ninh Giang thì mỗi khi mùa xuân đến là tất cả mọi người lại nô nức chuẩn bị cho hội pháo đất, không phải vì giải thưởng mà vì sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật truyền thống đã hình thành từ nghìn năm nay.

Hãy đến Ninh Giang một lần vào dịp đầu xuân để cùng tham gia hội pháo đất với người dân trong vùng, bạn sẽ thấy được ngay sức hấp dẫn của nó. Đứng trong tiếng reo hò, theo dõi cuộc chơi, bạn sẽ hiểu vì sao pháo đất - một trò chơi rất bình dân - lại được duy trì lâu đến như vậy và trở thành trò chơi cổ truyền của con người Ninh Giang.


(trochoidangianvietnam.blogspot.com)



phaodat1-5720-1392526598.jpg





 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo đất được nặn từ đất dẻo lấy ở đồng ruộng, làm sạch các tạp chất, nhào kỹ đánh thành từng quả đất có trọng lượng từ 30 – 80kg. Nặn pháo là khâu rất quan trọng, đòi hỏi người nặn phải có kinh nghiệm sao cho viền pháo, rãnh pháo đều nhau.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Quả pháo hoàn thiện chờ gieo.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo lớn nặng tới hơn 80kg cần nhiều người nâng để pháo thủ gieo.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Đối với loại pháo lớn, pháo thủ phải là người có thể lực tốt.  Khi gieo, pháo thủ phải chân mở bằng vai, dồn lực vào hai gối, hai nách khép, sau đó dùng lực của hai cánh tay để tán pháo, rồi mới gieo xuống. Để gieo pháo tốt, pháo thủ phải rèn luyện rất công phu cả về sức khỏe và kinh nghiệm.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Loại pháo cỡ nhỏ chừng 30 kg, chỉ cần một người nâng, pháo thủ gieo trong tư thế quỳ một chân.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo gieo xuống đất phát ra tiếng nổ lớn, có khi tưởng chừng to như tiếng sấm.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Vành pháo văng rộng ra hai bên trong tiếng reo hò của mọi người.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Quả pháo hay là quả sau khi gieo vừa tạo ra tiếng nổ lớn, vành dính liền và văng rộng sang bên.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Thông thường chấm thi pháo cho các đội dựa vào khoảng cách giữa hai đầu của vành pháo bung ra.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Hội pháo đất luôn náo nhiệt, hứng khởi từ đầu cho tới lúc kết thúc.
Theo Infonet


Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ DIỀU THẾ GIỚI

Ước mơ được bay lên bầu trời như chim đã ấp ủ trong lòng nhân loại kể từ khi con người biết ước mơ và được hình tượng hóa rõ nét trong văn học với các nhân vật có đôi cánh bằng lông chim hoặc như hình tượng Tôn Ngộ Không của Trung Quốc "cân đẩu vân" đi vạn dặm trong chớp mắt...

Sau bao nỗ lực không thành công suốt hàng nghìn năm nhưng con người vẫn không chịu an phận là không thể bay được như chim. Phải đợi mãi đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nghành cơ khí chế tạo máy đã cho ra đời động cơ đốt trong chạy xăng mạnh mẽ và gọn nhẹ hơn thì việc bay lên khỏi mặt đất mới trở nên khả thi hơn.

Năm 1903 anh em nhà Wright  đã thực hiện được ước mơ bay của con người qua thử nghiệm thành công chiếc máy bay có động cơ đầu tiên đánh dấu sự ra đời của nghành hàng không thế giới. (hình 2)Tuy nhiên trước đó đã có rất nhiều chuyến bay được thực hiện và vô số vật dụng bay được chế tạo. Một trong số đó chính là chiếc/con/cái Diều.

Diều ra đời khi nào? ở đâu? thì đến nay không ai biết chắc chắn nhưng người ta dễ dàng trông thấy chúng xuất hiện trong văn hóa và lịch sử của nhiều dân tộc quốc gia trên thế giới. Nhiều nơi Diều đã được tôn thờ như biểu tượng tôn giáo, được sử dụng làm công cụ chiến tranh, là vật chuyển tải tâm linh, hay đơn giản chỉ như là  món đồ chơi giải trí.

Lưu trữ bằng văn bản đầu tiên nói đến thả diều là:"Mặc Tử làm diều gỗ, ba năm mới làm xong, bay một ngày là hỏng." Chiếc diều gỗ do Mạnh Tử này có lẽ là cánh diều sớm nhất trên thế giới được ghi nhận. Trong một cuốn sách cổ Trung Quốc (sách Tiềm xác thư – thiên Nguyên vật) có ghi lại rằng khoảng 200 trước Công nguyên khi tướng quân Hàn Tín của nhà Hán đã thả bay một chiếc diều qua bức tường thành mà ông đang tấn công để đo chiều dày của nó trước khi đào một đường hầm xuyên qua bên dưới bức tường.


Người ta tin vào giả thuyết rằng từ Trung Hoa diều dần được xuất hiện ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Ấn Độ và toàn châu Á vào cuối của thiên niên kỷ đầu tiên, nó đóng vai trò quan trọng ở nhiều quốc gia và nền văn hóa khác nhau. Mỗi vùng phát triển một phong cách đặc trưng của diều và mục đích văn hóa cho thả diều.


Trong triều đại Silla của Hàn Quốc (vào khoảng thế kỷ VI), Tướng quân Gim Yu-sin được lệnh đánh dẹp một cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, quân đội của ông không chịu xung trận vì họ nhìn thấy một ngôi sao lớn từ trên trời lao xuống đất (thiên thạch) và cho đó là một điềm xấu. Để lấy lại kiểm soát, Tướng quân đã sai làm một chiếc diều lớn mang theo một quả cầu lửa thả lên trời vào buổi tối. Quân lính nhìn thấy và tin rằng ngôi sao đã quay trở lại bèn tập hợp lại và đánh bại các phiến quân.


Diều đến Nhật Bản qua những nhà sư Phật giáo từ thế kỷ thứ VII bằng việc thả diều nhằm mục đích xua đuổi tà ma và cầu vụ mùa tươi tốt. Tại Nhật Bản, khi một cậu bé ra đời sẽ được tổ chức một buổi lễ quan trọng trong đó người ta sẽ thả những con diều khổng lồ bay qua nhà cậu bé cho rằng may mắn sẽ đến với cậu trong cả cuộc đời. Cho đến tận ngày nay vào dịp Lễ Hội Bé Trai – Koinobori hay còn gọi là Tango No Sekku(vào ngày 5/5 ÂL) người Nhật Bản vẫn giữ phong tục thả diều để cầu may. Dưới thời kỳ Edo (Thế kỷ XVII-XIX) diều được phổ biến đến độ chính quyền Tokugawa chỉ cho phép tầng lớp Samurai được thả diều còn lại cấm đối với người dân vì lo ngại rằng họ sẽ bỏ bê công việc làm ăn. Diều còn được người Nhật sử dụng như một công cụ trong chiến tranh khi người ta dùng nó như cờ lệnh hay thậm chí làm những chiếc khổng lồ có thể mang theo các chiến binh để vượt lên tường thành. (hình 3)
Tại Thái Lan diều được thả bay vào thời điểm gió mùa để cầu mong những cơn gió thổi đi những đám mây mưa và bảo vệ mùa màng khỏi lũ lụt. Diều được sử dụng để chữa cháy và đánh cá ở nhiều nơi tại Mã Lai. Các hình thức của diều đánh cá đầu tiên đơn giản là một chiếc diều lớn buộc với dây tre tốt đầu kia có một cái móc câu thả xuống nước - một hình thức vẫn được sử dụng hiện nay.

Bằng chứng sớm nhất về diều ở Ấn Độ là các bức tranh nhỏ từ thời Mogul (khoảng thế kỷ XV). Nội dung chính tả cảnh một chàng trai khéo léo điều khỉển diều của mình thả tin nhắn cho người yêu bị cấm cung trong nhà.


Ở Việt Nam diều cũng được xuất hiện rất sớm qua câu chuyện xưa giải thích về tục thi thả diều ở làng Bá Dương Nội ( Hoài Đức – Hà Nội) gắn với Thành hoàng của làng là Nguyễn Cả - tướng quân của Đinh Bộ Lĩnh ( thế kỷ X). Bức tranh chăn trâu thả diều trong tranh đông hồ cũng đã được ông cha ta thể hiện trên bản in khắc gỗ từ cách nay không dưới 400 năm. (Hình 4)
Người châu Âu được cho là biết đến diều muộn hơn khi nhà nhà thám hiểm người Ý Marco Polo mang nó về từ sau chuyến đi của mình tới châu Á khoảng thế kỷ XIII. Cho đến thế kỷ thứ XVIII ở châu Âu, diều hầu như chỉ là một đồ chơi của trẻ em. Cuối cùng các nhà khoa học và phát minh bắt đầu nhận ra tiềm năng của nó. Năm 1749 nó được sử dụng đầu tiên trong một thí nghiệm khí tượng bằng cách sử dụng một chiếc diều để đo nhiệt độ ở các độ cao khác nhau. Một vài năm sau đó, Benjamin Franklin (Mỹ) đã thành công trong việc chứng minh tính chất điện của sét bằng cách thả bay một chiếc diều được thiết kế đặc biệt buộc bằng dây thép vào trong một cơn giông . (Hình 5)

Diều cũng  đã được sử dụng như là một công cụ để kéo. Một trong những ứng dụng kỳ lạ nhất là năm 1826, giáo viên tiểu học George Pocock (Anh) được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống mà theo đó hai cánh diều lớn đã bay song song để kéo theo một chiếc xe đi với vận tốc 20 dặm/giờ. Bởi thời điểm đó người ta đánh thuế đường theo số ngựa kéo nên việc này giúp ông được miễn thuế. (hình 6)

Năm 1898, Marconi (1874 – 1937) người Italia (nhận giải Nobel vật lý năm 1909) đã thực hiện việc truyền tín hiệu không dây (vô tuyến) đầu tiên thành công bằng cách sử dụng một chiếc diều để nâng dây anten lên độ cao hơn 100m. Tiềm năng về sức nâng của diều được áp dụng ngày càng nhiều đã thu hút các nhà khoa học phát minh thêm những hình thức mới. Một trong những phát minh quan  trọng là của Samuel Franklin Cody (Mỹ) khi ông thiết kế chiếc diều hộp cải tiến có thể nâng một chiếc giỏ mây lớn chở người lên độ cao 2000ft một cách dễ dàng. Sau đó phát minh này được ứng dụng cho quân đội như là một phương pháp quan sát đối phương.(hình 7)
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều phi công bắn rơi trên biển nên người ta đã trang bị cho họ loại diều hộp có thể gấp xếp lại để sử dụng như là phương tiện để báo hiệu cứu nạn. (hình 8)
Sự phát triển của diều công nghệ cao (hi- tech) ngày nay phần lớn là nhờ vào hai nhà khoa học Mỹ: Kỹ sư hàng không Francis Rogallo (1912 – 2009) được cấp bằng sáng chế thiết kế của "cánh mềm " (flexible wing) là tiền thân của các thiết kế được ứng dụng trong tàu lượn và diều thể thao hiện đại.  Ý tưởng của ông đã được  NASA ứng dụng và phát triển trong hàng không vũ trụ và tên lửa hành trình suốt những năm 60 của thế kỷ trước. (hình 9)

          Parafoil đầu tiên được phát minh bởi Domina Jalbert, trong đó kết hợp các tính năng của một chiếc dù, quả bóng bơm hơi, cánh lượng khí động học gồm nhiều khoang chứa không khí (aerofoil) và diều. Khung cánh chắc chắn này được tạo ra hoàn toàn từ không khí được nén đầy trong khoang vải giữ cho hình dạng aerofoil cố định trong suốt quá trình bay. Parafoil là tiền thân dù hiện đại, dù lượn và diều kéo. (Hình 10)

Nhiều năm trở lại đây người ta đã ngày càng quan tâm hơn đến việc thả diều. Các loại vật liệu mới như ripstop nylon, sợi thủy tinh, và graphite carbon giúp diều mạnh mẽ hơn, nhẹ hơn, nhiều màu sắc hơn, và bền hơn. Năm 1972, Peter Powell (Mỹ) đã giới thiệu một loại diều 2 dây có thể điều khiển theo ý muốn của người chơi và công chúng bắt đầu thả diều không chỉ để cho vui, mà còn như một môn thể thao. Những người đam mê cảm giác trải nghiệm có thể bay biểu diễn chính xác, nhanh hơn, hoặc thực hiện các thủ thuật lượn vòng phức tạp. Thi đấu giữa các cánh diều với nhau hoặc biểu diễn theo điệu nhạc đã trở thành phổ biến.

L.T.B
(Nguồn : dieuvietnam.com)



"LẲNG LƠ NHƯ TIẾNG SÁO DIỀU LÀNG TA"






“ Lẳng lơ như tiếng sáo Diều làng ta “

(Kính Tặng tất cả các nghệ nhân diều sáoViệt Nam)

Không thể chọn từ nào đắt giá hơn để nói về tiếng sáo diều các vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, nên xin phép cố nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy cho trích lời trong bản tình ca bất hủ của ông để làm đầu đề cho bài viết này.


Lẳng lơ từ trong truyền thuyết.


Thuở thanh bình ấy, mặt đất và bầu trời gần nhau lắm, gần đến mức tiếng sáo thổi nơi trần gian có thể vang vọng đến chị Hằng. Cứ mỗi chiều hè, khi nghe tiếng sáo được vút lên từ các cánh diều là các tiên nữ ,từng bầy ,từng bầy ,bay từ thượng giới xuống trần gian hưởng thú vui nơi hạ thế , mà có nàng đã quên đường về. Sau này Ngọc Hoàng tức giận, muốn Trời là trời, Đất là Đất, thế là Đất và Trời cứ cách xa nhau, khiến tiếng sáo không thể mời các tiên xuống vui hội mà dần chỉ mang tiếng tơ long của ai đó, gửi tới những người đẹp, mà nay chỉ còn được gặp trong mộng.

Lẳng lơ đến dân gian.


Chúng ta đều biết, diều sáo là nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ ,cái nôi của nền văn hóa lúa nướcViệt Nam . Những cư dân nông nghiệp thuở trước quan niệm rằng diều bay là biểu tượng của mối quan hệ giữa trời và đất ,cao và thấp, khô ráo và ẩm ướt, có điều hòa âm dương và đó cũng là những dự cảm về thời tiết của người nông dân. Tiếng sáo phát ra trên không trung , vi vu, trong lành lại xua đuổi tà khí và bệnh dịch . Hơn nữa đây còn là thú chơi thanh tao, cao thượng thể hiện tư chất của người nông dân, tuy quanh năm lam lũ nhưng tâm hồn trong sáng, giản dị , luôn mơ ước chiếm lĩnh tầm cao phúc thượng có yếu tố tâm linh giao cảm giữa thiên nhiên và con người .  Sau những giờ lao động nhọc nhằn trên đồng ruộng, có lẽ thú vui thả diều thực sự là những giâyphút thoải mái của người nông dân. Họ không chỉ   gắn bó với với vùng đất quê hương ,mà còn biết hướng lên bầu trời xanh thẳm gửi gắm ước mơ vào một không gian khoáng đạt của thiên nhiên.

Từ bao đời nay ,hình ảnh chú bé ngồi trên lưng trâu, thổi sáo thả diều trong tranh dân gian Đông Hồ đã được coi như biểu tượng của sự thanh bình trên đất nước Việt Nam . trong tâm thức của người Việt , thả diều còn hàm chứa khát vọng về tự do, xua đi những gì xui xẻo , cầu mong thuận buồm xuôi gió trong làm ăn  cũng     như trong cuộc sống .
Thả diều không chỉ là một trò chơi ,mà còn là một phong tục có nhiều  ý nghĩa sâu xa . Tục thả diều chủ yếu được thực hiện sau ngày mùa ,cầu mong tạnh ráo , để thu hái , đồng thời tự thưởng cho mình những giây phút thảnh thơi , mắc võng bên rặng tre nghe tiếng sáo diều vi vu.


Thật lãng mạn ,khi dưới đêm trăng hạ , trên trời là bản hợp xướng của các tiếng sáo, sáo ồm , sáo trung, sáo mẹ, sáo con của đủ kích cỡ các loại diều . Phải thật khuya ,lúc gió ổn định , diều được kéo xuống chỉ để lại vài cái có tiếng sáo hay , hát qua đêm cho mọi người cùng thưởng thức.


Bởi thế , ở câu lạc bộ diều Song Vân ( TânYên – Bắc Giang ) mới có câu thơ hay , xin mượn các bác thay lời kết :
 
Làm diều đeo sáo hai bên cánh
Nối đất với trời một sợi dây
Tiếng sáo vi vu như bản nhạc
Vang vọng gần xa, thật đắm say

 
                                                                                      Cao Quan
                                                                                                 (Nguồn : dieuvietnam.com)


Mời nghe nhạc phẩm : 
Tình Ca Tiếng Nước Tôi  - Phạm Duy 





Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

ĐỒ CHƠI DÂN GIAN


Tôi sinh ra và lớn lên trên một vùng quê yên bình thuộc Bắc Bộ. Với lũ trẻ cùng trang lứa như tôi, những món đồ chơi xa xỉ đắt tiền như ngày nay là điều không mơ tưởng. Những món đồ chơi dân gian dường như đã đi vào kí ức, nhưng vẫn theo chân tôi đến suốt cuộc đời.
Tôi nhớ những ngày hè oi ả, cả lũ trẻ trong làng dắt nhau lên triền đê thả diều. Cánh diều no gió cứ thế bay cao, vi vu tiếng sáo diều như cuốn hút, mê hoặc con mắt của lũ trẻ quê.

[​IMG]

Những ngày hội làng hay dịp lễ tết, lũ trẻ quê tôi thường xúm đông xúm đỏ quanh những nghệ nhân nặn tò he. Qua bàn tay tài hoa của họ, từ những viên bột nếp tưởng chừng đơn giản đã hóa nên muôn dạng hình thù. Từ những nhân vật trong chuyện cổ tích như Cô Tấm, Thạch Sanh, Tôn Ngộ Không... hay những con giống thân quen với cuộc sống hằng ngày...đều được sống dậy với nhiều màu sắc xanh đỏ bắt mắt. Cái thứ đồ chơi này rất hay vừa có thể để chơi, đến khi chơi chán nó cứng lại cho vào nồi cơm hấp lên lại ăn ngon lành. Tò he không chỉ là món ăn tinh thần của trẻ thơ mà nó là biểu tượng của văn hóa làng quê Việt Nam trên khắp các vùng miền của Tổ quốc.

[​IMG]
[​IMG]


Rồi những chú cào cào lá tre, những con rối bằng rơm, những viên bi đất nung, cù gỗ, đèn lồng giấy, mặt nạ...cũng là những thứ đồ chơi đơn giản, dân giã mà lũ trẻ quê chúng tôi có.

[​IMG]

[​IMG]

[​IMG]

[​IMG]

Xã hội ngày nay càng văn minh hiện đại, những món đồ chơi dân gian ngày càng ít xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày. Thay thế vào đó là những món đồ chơi bằng nhựa của Trung Quốc vừa độc hại lại tốn kém. Các bậc phụ huynh nên hướng con em mình tự làm và chơi những món đồ chơi dân giã hoặc những món đồ chơi tự chế từ những vật liệu đơn giản quanh cuộc sống chúng ta. Vừa làm tăng tính sáng tạo, khả năng học hỏi của bé vừa giúp bảo vệ môi trường tránh những sản phẩm độc hại từ nhựa tái chế. Con tôi đã được 7 tuổi nhưng cháu đã làm được rất nhiều món đồ chơi mà chỉ qua học hỏi ở các chương trình tivi. Tôi nghĩ các bậc phụ huynh nên hạn chế cho các cháu chơi những món đồ chơi Trung Quốc, rất độc hại vì làm bằng nhựa tái chế hơn nữa nhiều món đồ chơi mang tính chất kích động, không tốt cho sự phát triển tư duy của trẻ. Chắc chắn với những món đồ chơi tự làm các bé sẽ thấy thích thú hơn, tư duy phát triển tốt hơn mà lại góp phần bảo vệ môi trường tránh độc hại cho sức khỏe của bé.
hoanang1102
(Nguồn :gsm.vn)

                        



Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

TÂN PHÚC ÂM HÓA GIÁO XỨ VÀ CỘNG ĐOÀN


1Mùa Vọng là khoảng mong chờ Con Thiên Chúa giáng thế làm người cứu độ nhân loại. Mùa Vọng là khởi đầu Năm Phụng Vụ. Năm 2014 – năm Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình, khép lại để khởi đầu năm 2015 – năm Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và cộng đoàn. Đó là định hướng phụng vụ mà Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra cho Giáo hội tại Việt Nam. Ngày 19-10-2014, Giáo hội cũng vừa kết thúc Công nghị về Gia đình. Điều đó cho thấy vai trò quan trọng của gia đình, giống như tế bào gốc trong cơ thể vậy. Theo chu kỳ phụng vụ, năm 2015 là năm B và năm lẻ.
Phúc Âm hóa là gì? Về cơ bản, đó là chia sẻ Tin Mừng với bất cứ ai mình gặp, chia sẻ bằng lời hoặc các động thái. Chia sẻ Tin Mừng là chia sẻ Đức Kitô – Đấng là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống (Ga 14:6). Chia sẻ Tin Mừng là kể chuyện về cuộc đời của Chúa Giêsu, Đấng đã mặc xác phàm, chịu chết vì tội lỗi chúng ta để cứu độ chúng ta, nhưng Ngài đã phục sinh vinh quang và lên trời hiển trị đời đời, ứng nghiệm đúng như lời Kinh Thánh.
Công nghị về Tân Phúc Âm hóa cho biết: “Để đem Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô đến cho mọi người, theo yêu cầu của cuộc Tân Phúc Âm hóa, mọi giáo xứ và cộng đoàn phải là các tế bào sống động, là những nơi thúc đẩy sự gặp gỡ chung và riêng với Đức Kitô, cảm nghiệm sự phong phú của Phụng vụ, để đào tạo về Kitô giáo, giáo dục mọi người về tình huynh đệ và đặc biệt là thể hiện đức ái đối với người nghèo”.
Như đã nói, năm 2015 là năm Phúc Âm hóa đời sống giáo xứ và cộng đoàn. Tân Phúc Âm hoá giáo xứ là đổi mới giáo xứ. Giáo xứ không ưu tiên là một cơ sở, một cơ chế, một địa hạt có ranh giới, nhưng ưu tiên là một cộng đồng các tín hữu (Giáo Luật 515, 1), là gia đình của Chúa, là huynh đoàn chỉ có một linh hồn (Hiến chế Lumen Gentium 28, 1964), là ngôi nhà của gia đình đầy ắp tình huynh đệ sẵn sàng đón tiếp (ĐGH Gioan Phaolô II, Catechesi Tradendoe, 1979).
Mục đích của việc Tân Phúc Âm hóa là giúp đỡ mọi người cùng loan báo Tin Mừng. Điều đó không chỉ được chỉ định chung trong mỗi giáo xứ và cộng đoàn, mà còn được “chỉ định” riêng cho mỗi người:“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (Mc 16:15).
Việc loan báo đó vẫn liên tục kéo dài suốt hơn hai ngàn năm qua và kéo dài mãi cho tới tận thế, chứ không phải chỉ trong một thời gian nào. Loan báo Tin Mừng là truyền giáo, là sứ vụ chung của toàn Giáo hội, của mọi người, không phân biệt ai. Loan báo Tin Mừng trước tiên là cầu nguyện và kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Thánh Teresa Hài Đồng Giêsu đã nêu cao vai trò truyền giáo bằng cách này.
Dù loan báo Tin Mừng bằng cách nào, điều cần thiết là phải để Chúa Thánh Thần tác động. Thánh Phaolô nói:“Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3:6). Chúng ta cứ tích cực hành động, kết quả là việc của Thiên Chúa. Mọi người trong giáo xứ và cộng đoàn phải đồng tâm nhất trí mà hành động để cho “Danh Cha cả sáng” và “Nước Cha trị đến”, chứ không làm nổi bật mình. Người ta rất dễ làm nổi bật mình bằng nhiều cách, thích dùng quyền để thể hiện chính mình. Động thái này đối lập với việc Phúc Âm hóa.
Cần phải tìm hiểu, nhận thức, thảo luận để thống nhất cách thực hiện sao cho phù hợp với từng giáo xứ và cộng đoàn, nhờ đó mà có thể đạt hiệu qua tốt nhất. Tuy nhiên, kết hiệp với Chúa Giêsu phải là tâm điểm của đời sống mỗi người: Cầu nguyện liên lỉ và thể hiện Đức Tin trong mọi hoàn cảnh.
Khi gặp gỡ nhau, thay vì “tám chuyện” bình thường, hãy tận dụng thời gian để cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm sống đạo, kinh nghiệm việc tìm hiểu Kinh Thánh, và học hỏi gương sống tốt của những người mà mình biết – kể cả gương sống tốt của những người không có cùng niềm tin tôn giáo như mình. Các tấm gương này luôn ở bên chúng ta hàng ngày. Đừng câu nệ hoặc tự ái về bất cứ điều gì, cũng đừng thành kiến với bất cứ ai. Ngay cả các thánh nhân cũng là những người đến với Chúa qua con đường tội lỗi và được Thiên Chúa thứ tha!
Trong năm nay, năm Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và cộng đoàn, ngoài những dịp đặc biệt, hãy cùng nhau tích cực học hỏi Kinh Thánh để biết rõ Thiên Chúa hơn, vì “không biết Kinh Thánh là không biết Thiên Chúa” (Thánh Bênađô). Vả lại, Chúa Giêsu cũng đã xác định: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra” (Mt 4:4; Lc 4:4). Còn tác giả Thánh Vịnh tâm niệm: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119:105).
Song song với việc học hỏi Kinh Thánh, suy niệm Lời Chúa, hãy cùng nhau tham dự Thánh Lễ và viếng Thánh Thể nhiều hơn. Ngày nay, nhiều giáo xứ có Nhà Chầu Thánh Thể để mọi người có thể đến với Chúa Giêsu bất cứ lúc nào. Đây là việc đạo đức đáng khích lệ, chắc chắn rất đẹp lòng Chúa, vì Ngài luôn mời gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11:28). Thời gian ở bên Chúa Giêsu Thánh Thể là thời gian tịnh tâm, là lúc cấm phòng riêng. Nhờ đó chúng ta có thể sống dồi dào nhờ nguồn sống của chính Đức Kitô.
Sách Công Vụ cho biết hoạt động của các cộng đoàn tín hữu đầu tiên: “Các tín hữu chuyên cần nghe các Tông Đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng” (Cv 2:42-45). Đây là “mô hình” hoạt động nên duy trì ở các giáo xứ và các cộng đoàn để tạo mối liên kết với Thiên Chúa và với mọi người.
Các cộng đoàn tín hữu đầu tiên là giáo xứ kiểu mẫu để chúng ta noi theo. Nếu muốn theo kiểu mẫu đó, chúng ta cần thực hiện các yếu tố chính để đạt được đời sống cộng đoàn như Chúa mong muốn. Các yếu tố đó cũng thể hiện sứ vụ và chức năng của mỗi giáo xứ.
Tuân giữ các giáo huấn của Phúc Âm là điều rất quan trọng đối với việc sống đức tin. Các bài giảng nên được chuẩn bị chu đáo và có cách áp dụng cụ thể, đừng nói chung chung, mơ hồ, lan man. Mọi thành viên trong giáo xứ đều được mời gọi tham dự các bí tích và các hoạt động chính của giáo xứ. Điều này đem lại lợi ích tâm linh cho cả cộng đồng giáo xứ.
Giáo xứ là “nhịp cầu giao tiếp” giữa Giáo hội và xã hội. Nên mở rộng “nhịp cầu” này như một trung tâm về tâm linh và luân lý để mọi người cùng tham gia cộng các tích cực.
Thánh Gioan Phaolô II cho biết: “Tân Phúc Âm hóa không là rao giảng một Phúc Âm mới vì ‘Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời’ (Dt 13:8), nhưng mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả” (Diễn văn tại Đại hội XIX của CELAM, Port-au-Prince).
Phúc Âm hóa là tạo một môi trường tốt trong cộng đồng giáo xứ. Có thể là các hoạt động như: Đánh giá “sức khỏe tâm linh” của giáo xứ để biết điều gì nên khuyến khích và điều gì nên chấn chỉnh, tiếp cận với các thành viên mới trong giáo xứ và những người Công giáo thụ động, khuyến khích đối thoại cởi mở với những người thuộc các tôn giáo khác và những người chưa có niềm tin tôn giáo, quan tâm cụ thể hơn đối với những người nghèo, đưa ra các mục đích cần đạt được về đời sống vật chất và tinh thần (giáo lý, văn hóa, xã hội, nghệ thuật,…). Quan trọng nhất là cách sống, vì chính cách sống của chúng ta sẽ “nói” nhiều hơn các hành động khác.
Ước gì các thành viên trong mỗi giáo xứ và mỗi cộng đoàn đều “hiệp nhất nên một” như Thầy Chí Thánh Giêsu mong muốn, để mỗi nhịp thở của chúng ta là  nhịp thở của Tin Mừng. Nhờ đó, mỗi người khả dĩ nói được như tác giả Thánh Vịnh: “Thánh chỉ Ngài là khúc nhạc của con, giữa cảnh đời tha hương lữ thứ” (Tv 119:54).
                                                                                                                            
                                                                                                                                  TRẦM THIÊN THU
                                                                                                                              (Nguồn : mtgthuduc.net)

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

ĐÓN CHỜ CHÚA ĐẾN


“Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra  ông chủ đến bất thần, bắt gặp anh em đang ngủ. Điều Thầy nói với anh em Thầy cũng với với hết thảy mọi người là: phải canh thức.” (Mc 13,36-37)


CHÚA NHẬT THỨ I MÙA VỌNG - NĂM B - 30/11/2014


Khi màn đêm buông xuống, có những người vẫn thức. Thức vì không ngủ được. Thức để xem nốt một cuốn truyện hay một bộ phim vidéo nhiều tập… Nhưng cũng có người thức để làm việc. Họ trực ở phòng cấp cứu, ở trạm cứu hoả, ở cơ quan an ninh, ở bưu điện. Họ là những công nhân làm ca ba, những tài xế tàu hoả chạy suốt đêm đến sáng, những chuyến bay ban đêm.
Và còn có những người khác cũng thức. Thức không phải vì mất ngủ, không phải để đọc truyện hay xem phim, mà thức để cầu nguyện. Trong các đan viện, các đan sĩ nam nữ là những người không ngủ, với cái nghĩa là họ ca tụng Chúa 24 giờ một ngày luân phiên nhau. Nhiều cộng đoàn tu sĩ nam nữ chầu Mình Thánh Chúa ngày đêm, từ năm này qua năm khác. Họ tỉnh thức và cầu nguyện thay cho chúng ta, trong khi chúng ta ngủ.
Trên trái đất này, không lúc nào mà không có người thức: Đang khi chúng ta lên giường ngủ thì ở bán cầu bên kia, một nửa nhân loại đang vươn vai thức dậy, ăn uống, làm việc, vui chơi, để rồi lại ngủ khi chúng ta ở đây thức dậy.
Như thế, trên thế giới, Thánh lễ được hiến dâng liên tục ngày đêm. Nếu chỉ 2/3 trong số linh mục trên thế giới cử hành Thánh lễ mỗi ngày, thì mỗi giờ ít nhất có hai ngàn linh mục cử hành Thánh lễ, và mỗi phút, ngày cũng như đêm, đều có một số linh mục đang dâng lễ cầu nguyện cho chúng ta.

Tuy nhiên, thức đêm không phải là điều tự nhiên và dễ dàng. Ba môn đệ thân tín của Chúa Giêsu đã từng có kinh nghiệm về điều đó: Trong Vườn Cây Dầu, mặc cho Chúa Giêsu hai lần gọi: Hãy tỉnh thức! Họ vẫn ngủ li bì. Có lẽ lúc đầu, Chúa Giêsu tưởng họ sẽ thức cả đêm với mình để chia sẻ nỗi khổ đau, nhưng cuối cùng, Ngài đau lòng khi thấy họ không thức nổi được một giờ với Ngài (Mc 14,34-37).
Một trong những căn bệnh của thời đại là căn bệnh mất ngủ. Người ta phải dùng thuốc an thần để tìm một giấc ngủ không tự nhiên. Hoặc chán đời, người ta dùng thuốc ngủ quá liều lượng để tìm giấc ngủ ngàn thu!
Thế nhưng, hôm nay, Chúa Giêsu lại kêu gọi: Anh em phải canh thức, kẻo bất thần ông chủ về bắt gặp anh em đang ngủ. Phải chăng Chúa Giêsu muốn các Kitô hữu phải thức suốt đêm để chờ Ngài? Chắc là không! Vậy thì thế nào là thái độ tỉnh thức mà Chúa đòi hỏi nơi chúng ta?

Tỉnh thức không phải là không ngủ: 
Năm cô trinh nữ khôn ngoan cũng ngủ như năm cô khờ dại (Mt 25,1-13). Điểm khác biệt là vào lúc nửa đêm, khi chàng rể đến, các cô khôn ngoan có thể ra đón với đèn sáng trong tay, vì các cô có mang theo dầu dự trữ. Còn đèn của các cô khờ dại thì đã tắt ngúm mà lại không đem dầu theo. Lúc đó mới chạy đi mua, nên không kịp. Vậy tỉnh thức là ở trong tư thế sẵn sàng đón Chúa bất cứ lúc nào, sẵn sàng cả trong khi ngủ.

Tỉnh thức là chu toàn bổn phận: 
Người quản gia được giao trách nhiệm phân phát lương thực cho các gia nhân (Mt 24,45-51). Nếu chủ về mà gặp thấy anh đang làm công việc được giao, thì đúng là anh đã có thái độ tỉnh thức. Mê ngủ là bỏ bê trách nhiệm, lạm dụng quyền hành và say sưa chè chén (Mt 24,49).

Tỉnh thức là làm cho những nén vàng, nén bạc Chúa trao được sinh lợi (Mt 25,31-46). Số nén vàng có thể nhiều hay ít tùy người, và mỗi người cũng chỉ phải sinh lợi tùy theo số vốn đã nhận. Mê ngủ là đào lỗ chôn giấu nén bạc của mình, không dám đầu tư vì sợ mất vốn, nhưng cũng có thể vì lười biếng, thụ động. Người tỉnh thức là người được chủ khen là đã trung tín trong việc nhỏ, nghĩa là trung tín với ơn Chúa ban trong hiện tại.

Tỉnh thức là tỉnh táo để nhận ra Chúa bất ngờ đến với mình và nài xin mình trợ giúp. 
Ngài xuất hiện dưới dáng dấp của một người đói khát, rách rưới, một người yếu đau, lỡ đường, thậm chí một phạm nhân trong nhà giam (Mt 25,31-46). Mê ngủ là để cho Chúa Giêsu ngửa tay đi qua đời mình mà không nhận được chút gì làm quà tặng.

Cuối cùng, tỉnh thức là để cầu nguyện. 
Tỉnh thức luôn đi đôi với cầu nguyện: Hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa cơn cám dỗ (Mc 14,38). Chúng ta đã làm nhiều việc cho Chúa, nhưng có thể vẫn chưa phải là con người tỉnh thức và cầu nguyện. Lúc nào chúng ta cũng có nguy cơ ngủ quên trong thành công tông đồ, trong tiện nghi dễ dãi.

Tin Mừng hôm nay đưa chúng ta vào bầu khí Mùa Vọng, mùa tỉnh thức để chờ đợi Chúa đến. Trong cuộc sống hằng ngày, nhiều khi chúng ta phải chờ đợi. Có sự chờ đợi làm ta sốt ruột, khó chịu, nhưng cũng có sự chờ đợi làm cho cuộc sống hiện tại trở nên đầy ý nghĩa. Dân Do Thái từ hơn 2000 năm trước đây cho đến nay vẫn sống nhờ vẫn còn chờ đợi Đấng Mêsia, Đấng Thiên Sai Cứu Thế. Sự chờ đợi như tăng thêm sức mạnh để con người can đảm sống cái hiện tại hơn. Biết sống là biết chờ đợi. Chờ đợi làm nên cuộc sống. Sống mà không còn gì để chờ đợi, kể như đã chết!
Mùa Vọng là thời gian chờ Chúa đến. Cả lịch sử của nhân loại được đánh dấu bằng những lần Chúa đến. Lần nào Ngài cũng đến bất ngờ. Ngài đã đến bất ngờ ở Bêlem, mang hình hài trẻ thơ yếu đuối. Cả cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài cũng là bất ngờ, khiến cho các môn đệ phải ngỡ ngàng. Kitô hữu là người đang chờ, chờ ngày Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang. Đây cũng là một bất ngờ, vì không ai biết được ngày giờ Ngài trở lại. Anh em phải canh thức, kẻo lỡ ra Ngài đến bất thần, bắt gặp anh em đang mê ngủ(Mc 13,33-37).
Chúa đã đến, sẽ đến, nhưng Ngài vẫn đang đến trong thế giới, trong đời từng người, trong đời từng tập thể. Nếu chúng ta tập lắng nghe, chúng ta sẽ nhận ra được tiếng bước chân của Ngài. Chúa đến với ta qua mọi biến cố của cuộc sống, kể cả những biến cố đau buồn.
 Bước vào Mùa Vọng, cùng với Giáo hội sống một Mùa Vọng mới, chúng ta hãy mở tâm hồn ra tiếp đón Chúa:Maranatha, Lạy Chúa, xin hãy đến! (Kh 22,20).
                               
                                            (Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)
                                                   (Nguồn : giaophancantho.com)


Thứ Bảy, 29 tháng 11, 2014

HỌC CÁCH XIN LỖI

"Cho mình xin lỗi" - thật là dễ dàng để viết câu này xuống giấy. Nhưng khi phải thốt ra với một ai đấy, ta thường cảm thấy "nghẹn nghẹn" trong cổ họng, như danh ca Elton John đã từng nói: "Xin lỗi dường như là từ khó nói nhất".
Xin lỗi là sự công nhận chúng ta đã làm một điều sai trái - dù đấy là một lời bình phẩm vô tình, một hành động nông nổi hay một cử chỉ không đẹp. Bằng lời xin lỗi, chúng ta muốn đưa ra thông điệp như sau: "Mình cảm thấy vô cùng ân hận và giày vò vì việc mình đã làm. Mong bạn hãy tha thứ cho mình!". Cũng chính vì điều này mà khi xin lỗi, chúng ta thường cảm thấy bản thân quá... "nhỏ nhoi", thấp bé", rằng xin lỗi là dấu hiệu của sự yếu đuối, của sự mất quyền lực và để cho nguời khác "nắm đầu"

Tuy nhiên, một thực tế cho thấy là "nhân vô thập toàn", không có ai trên cuộc đời này dám vỗ ngực tự hào là mình hoàn hảo cả. Cho nên, việc bạn sẵn lòng nhận lỗi lầm, đối diện thẳng thắn với nó và hành động để đưa mọi việc vào trật tự tốt đẹp như cũ, cho thấy nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao và cá tính tuyệt vời của bạn. Bạn bè (người thân, đồng nghiệp, cha mẹ v.v...) sẽ không đánh giá thấp những nỗ lực của bạn. Ngược lại, họ sẽ đánh giá bạn cao hơn, mở rộng lòng hơn cho sự tha thứ và bỏ lại đàng sau quá khứ những niềm đau, nỗi buồn.

Nên xin lỗi vào lúc nào?

Trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, câu xin lỗi cần phải được thực hiện càng sớm càng tốt, để chứng tỏ sự thiện chí của bạn. Nếu cứ chần chừ biện hộ cho rằng bạn không cần xin lỗi vì chẳng có lỗi chi cả, hoặc bạn sẽ xin lỗi với một số điều kiện từ đối tượng, thì e rằng bạn đang làm vấn đề rắc rối thêm. Hãy nhớ lại những chi tiết sau đây để bạn hiểu rõ sự cần thiết và khẩn cấp của một lời xin lỗi:

• Bạn đã phát biểu một câu nói gì đấy không được duyên dáng, êm tai cho lắm và bạn đã nhìn thấy nét đau đớn ngạc nhiên trên khuôn mặt người ấy? Như vậy là bạn đã làm tổn thương bạn mình không ít!

• Ðã có ai la hét, gằn giọng, hạ bệ bạn bằng những ngôn từ không trau chuốt chưa? Hẳn bạn sẽ không ưa thích gì, thậm chí bực bội nữa là khác. Vậy mà bạn đã làm điều ấy cho người thân yêu của mình, thật đáng trách biết bao!

Một số người có tâm hồn nhạy cảm hơn những người khác. Ðiều mà bạn cho là nhỏ nhoi lại có sự tác động rất lớn đến cuộc sống của họ. Hoặc khi đôi bên tranh cãi nhau, ai cũng cố đưa ra những lời nói "nặng ký" nhất để giành chiến thắng, và bạn nghĩ rằng "kẻ kia" phải hạ mình xin lỗi bạn mới đúng. Vấn đề cần bàn ở đây không phải là việc bạn có chủ ý làm người khác tổn thuơng, thất vọng, đau đớn hay không, mà là việc bạn đã gây ra "tội ác" ấy, dù bạn thật sự "vô tội". Bằng bất cứ gịá nào, bạn hãy xin lỗi và nói cho người ấy hiểu, rằng bạn không cố ý làm một việc xấu như vậy. Xin lỗi sớm trong trường hợp này chứng tỏ bạn rất dũng cảm và nhanh nhạy, còn hơn là khi bị "dồn đến mức đường cùng" rồi mới tỏ thái độ ân hận muộn màng, thì lời xin lỗi sẽ không còn giá trị lớn nữa.

Phải tự hoàn thiện bản thân

Biết xin lỗi là nét sống lành mạnh của một con nguời có lòng tự trọng và biết chia sẻ với cảm xúc của những người khác. Tuy nhiên, việc lạm dụng từ "xin lỗi" quá thường xuyên sẽ bớt đi nét đẹp vốn có của nó. Nếu bạn xin lỗi mà cứ tiếp tục phạm sai lầm tuơng tự, người khác sẽ nghi ngờ mức độ thành thật của bạn. Hãy cho từ "xin lỗi" một tác động lớn hơn và kỳ diệu hơn, khi sự tự hoàn thiện bản thân chứng tỏ bạn đã để tâm và trí để cải thiện mối quan hệ theo chiều hướng tốt đẹp.

Nói câu xin lỗi như thế nào?


Nói câu xin lỗi là một bước quan trọng để sửa chữa lại những lỗi lầm, thiệt hại mà bạn đã gây ra thông qua hành động "trêu ngươi" vừa rồi. Thế nhưng, phụ thuộc vào mức độ thiện chí của bạn, bạn vẫn có cách hay nhất để xây dựng lại niềm tin và những cảm xúc tốt đẹp giữa đôi bên.

• Không nên xin lỗi qua email, điện thoại, nếu như bạn có điều kiện gặp trực tiếp

• Hãy nói câu xin lỗi bằng ánh mắt chân thành, cử chỉ thân ái, từ tốn.

• Không nên biện luận dài dòng để "chạy tội", mà hãy nhìn thẳng vào vấn đề và nhận lãnh trách nhiệm về phía mình.

• Thể hiện một cử chỉ đặc biệt của lòng tốt khác hẳn ngày thường, để tạo ra sự khác lạ đáng lưu ý trong cung cách ứng xử.

• Nếu có thể thì nên tặng hoa kèm với lời xin lỗi, bạn sẽ thấy cực kỳ "ép-phê".

• Sau khi đã xin lỗi xong, bạn cần phải biết tha thứ cho bản thân mình trước, bởi vì bạn đã công nhận sai lầm và cố gắng để sống tốt hơn. Hãy rút kinh nghiệm để trở thành một con người mới mẻ hơn, tích cực hơn, khôn ngoan hơn. Nếu không, bạn sẽ phải hối tiếc và lại phải xin lỗi 1001 lần nữa!
Sưu tầm: 
(Nguồn : www.kynang.edu.vn)