Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO CHƯA ĐƯỢC PHONG THÁNH

Giáo hội Công giáo Việt Nam đã diễm phúc khi có 117 vị tử đạo được phong thánh và một vị được tôn phong chân phước. Tuy nhiên, theo nhiều sử liệu những chứng nhân tử vì đạo ở Việt Nam có thể hơn 130.000 vị và cũng có thể là ngoài 300.000 người đã ngã xuống để làm chứng cho đức tin từ ngày Tin Mừng hiện diện trên mảnh đất hình chữ S…
Cuối tháng 9, chúng tôi có dịp ghé thăm một vài giáo xứ thuộc giáo phận Thái Bình – địa phận có 19 thánh nhân trong hàng ngũ 117 vị Hiển thánh (5 linh mục, 4 thầy giảng, 5 nông dân, 4 ngư dân và 1 thợ may) và hơn 500 vị tử đạo. Tại nhiều nhà thờ chúng tôi đến, nhiều ngôi mộ tập thể đã được cải táng hoặc còn nguyên vẹn từ ngày đầu chôn những chứng nhân đức tin sẵn sàng chọn cái chết để không bước qua Thánh Giá hay vì “ngoan cố không chịu bỏ đạo”.
Hài cốt các tử đạo họ Kính Danh 
Ở họ lẻ Kính Danh thuộc giáo xứ Đông Thành, hạt Tiền Hải, một họ lẻ có khoảng 500 nhân danh, nhưng Kính Danh tự hào là quê hương của các Thánh tử đạo với hai hiền phúc là Thánh Đaminh Vi và Phêrô Khang. Dưới tầng hầm cung thánh nhà thờ còn có 38 hài cốt được cho là của các vị tử đạo trong họ, có bộ còn nguyên vẹn, có bộ đã bị hư hại đôi chỗ nhưng được xếp đặt trang trọng bên thánh tích của hai Thánh. Ông Bùi Xuân Giản, người có ba đời là chánh tổng, chánh trương họ Kính Danh, cho biết: “Theo các tài liệu của các cụ để lại, đặc biệt là công hàm cổ của GP Bùi Chu (trước họ Kính Danh thuộc Gp Bùi Chu), dưới cung thánh có 41 vị tử đạo được chôn chung nhưng khi chúng tôi xây mới nhà thờ vào năm 2010, đào lên chỉ tìm được 38 bộ hài cốt. Ở mỗi vị đều có thẻ bài trùng tên với tài liệu của giáo họ, tuy có một số thẻ đã bị hư hại không thể đọc được nhưng đa phần chúng tôi vẫn phân biệt được các vị với nhau”.
Nhắc đến Thái Bình sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến giáo xứ Kẻ Bái (Bồ Ngọc ngày nay), hạt Đông Hưng, giáo xứ đầu tiên của giáo phận. Với hơn 375 năm đón nhận Tin Mừng (1639), giáo dân Kẻ Bái đã không ít lần đối mặt với nguy nan trước cuộc bách hại đạo. Nhưng lòng đạo của giáo xứ nằm bên dòng sông Luộc vẫn vững vàng và minh chứng cụ thể nhất chính là ba giáo dân được Giáo hội tôn phong Thánh Tử đạo và hai mươi hiền phúc tử đạo sinh trưởng tại Kẻ Bái. Trên đất Kẻ Bái còn có Đống Năm Mươi, nơi giam cầm và thiêu sinh năm mươi vị tử đạo năm 1862. Đống Năm Mươi ấy ngày nay đã được các cha xứ dựng làm nhà nguyện nhỏ trong nghĩa trang giáo xứ và một lăng chôn cất 13 tử đạo của xứ như để lưu giữ một chứng tích kiên trung của giáo dân Việt nói chung và Thái Bình nói riêng.
Đống Năm Mươi ngày nay
Cách Tòa Giám mục Thái Bình khoảng 70km, chúng tôi ghé thăm giáo họ Trần Xá thuộc giáo xứ Cao Xá, hạt Hưng Yên, một giáo họ lâu đời của giáo phận Thái Bình. Phía trước ngôi nhà thờ cổ được dựng bằng gỗ có niên đại hơn trăm tuổi là một lăng nhỏ chôn chung 18 vị trong số  42 tử đạo của giáo họ cạnh lăng của cha Thánh Giuse Tuân. “Họ chúng tôi may mắn có một vị thánh và 42 vị tử đạo. Chính những tiền nhân anh dũng này đã giúp nhiều thế hệ trong họ vượt qua được nghịch cảnh cũng như khó khăn để giữ đạo”, ông Nguyễn Đức Đắc, trùm họ Trần Xá khẳng định. Riêng Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Giám mục GP Thái Bình cho hay, trong giáo phận còn rất nhiều lăng chôn tập thể các vị tử vì đạo, nhiều giáo xứ, giáo họ còn ghi lại địa danh là pháp trường xử các thánh Tử Đạo hoặc các vị tử đạo.
Cuộc bách hại đạo không chỉ diễn ra ở giáo phận Thái Bình mà ở khắp mọi miền đất nước. Nơi nào có dấu chân những tín hữu nơi đó đều ít nhiều thắm đẫm giọt hồng đức tin. Như  giáo xứ Kẻ Bền – GP Thánh Hóa, có một ngôi mộ tập thể chôn xác 72 giáo dân bị thiêu chết vào năm 1883. Tấm bia của mộ mang tên “Bia Cam Phần” đã được lập ngày 29.6.1910, ghi tên tuổi của 72 người bằng chữ Nôm và chữ Hán, từ trẻ em thai nhi cho đến người lớn 80 tuổi. Từ người mới theo đạo đến các cặp vợ chồng, hay những đứa trẻ mới được sinh ra cùng những bà mẹ mang thai, và có những người là anh em, họ hàng với nhau cùng những người là binh sĩ... Đã chết trong cuộc bách đạo.
Lăng tử đạo họ Trần Xá 
Ngược vào giáo phận Huế  có thể kể đến giáo xứ Cây Da nơi gần như toàn tòng và có bề dày lịch sử về sự phát triển của hạt giống Tin Mừng. Lăng tử đạo của giáo xứ chứa đựng 120 hài cốt các vị đã được phước tử đạo năm 1885, thời kỳ Văn Thân. Hay ở nhà thờ Mồ Vũng Tàu, cách nhà thờ Chánh tòa Vũng Tàu khoảng 300m, dù chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn, không có dáng vẻ gì đặc biệt, nhưng đây chính là nơi cất giữ 300 hài cốt của các tín hữu Bà Rịa tử đạo vào năm 1862 tại nhà ngục Phước Lễ.
Trải dài 3 thế kỷ, từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, từ thời chúa Trịnh, chúa Nguyễn, sang đến thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, không biết bao nhiêu vị tử đạo đã gục ngã trong lao tù, hoặc bị tử hình dưới nhiều hình thức như xử trảm, thắt cổ, phân thây, voi dày, trầm hà, thiêu sinh, chôn sống, bắt nhịn đói đến chết… trên quê hương Việt Nam. Hàng ngàn họ đạo, giáo xứ bị tiêu hủy và hàng vạn vạn người có đạo đã phải âm thầm dìu dắt nhau trốn vào rừng hoang núi hiểm để mong duy trì đức tin và bảo toàn mạng sống của mình. Không biết bao nhiêu người đã làm mồi cho dã thú hoặc chết vì đói khát bệnh tật. Với những cuộc bách hại đạo có biết bao gia đình phải tan cửa nát nhà, vợ chồng chia lìa nhau, con cái phải xa cha mẹ phiêu bạt khắp nơi, ngay cả vượt biên sang Lào, Camuchia và Thái Lan. Nhưng không vì thế mà hạt giống Tin Mừng biến mất trên đất Việt mà ngược lại còn vươn lên mạnh mẽ.
Mộ tử đạo vùng Bà Rịa 
Đi qua những ngôi thánh đường, nơi còn lưu giữ những ngôi mộ hay hài cốt các Thánh Tử Ðạo và những chứng nhân tử đạo; hay các địa danh như Bẩy Mẫu, Cầu Giấy, Hải Dương, Đồng Hới, Thợ Đúc, Trí Bưu, An Hòa, Bà Rịa..., xưa kia là những pháp trường diễn ra những vụ hành quyết rùng rợn... Để thấy rằng đức tin của giáo dân Việt Nam vẫn luôn tồn tại dẫu lịch sử có đầy bất trắc. Ở thời điểm nào công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn tiếp diễn bằng cách này hay cách khác và những chứng nhân anh dũng vẫn xuất hiện trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử. Những chứng nhân ngã xuống đã làm mảnh đất Việt thêm màu mỡ, phong phú cho đức tin triển nở. Và, những tín hữu sống sót như những vết dầu loang, đi đến đâu rao giảng Tin Mừng đến đó như chính lời nhận xét của giáo phụ Tertuliano “Máu các vị Tử Đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu”.


Trung Nhân
(Nguồn :cgvdt.vn)



Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

MỘT VÀI TẤM GƯƠNG ANH DŨNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


- Thánh Linh mục Du bị trói vào một cây cọc. Có 3 lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một người lo đếm cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng ngài và cột chặt, để không có thể kêu la hay bỏ chạy được. Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán Cha Du lệt xuống che mắt, rồi cắt từng mảng hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn Cha Du giãy giụa quàn quại, ngước mắt lên trời cao, rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa trần. Tiếp theo quân lính cắt đầu của vị tử đạo, bổ thân mình làm 4 và ném xuống biển. Còn thủ cấp Cha được đem đi bêu tại nhiều nơi, rồi đưa trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.
- Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.
- Hai Cha Điểm và Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.
Sáng ngày 5-6-1862, trước sự chứng kiến của rất đông người, hai giáo dân: Thánh Toại và Thánh Huyên bước vào cũi tre để bị thiêu sống. Những người hiện diện đều xúc động khi nghe rõ các ông cất tiếng nguyện cầu thật lớn, trong khi ngọn lửa hồng phừng phực bốc cao, thiêu đốt hai ông.
- Sau ba tháng tù tại Bình Định ông An-rê Nguyễn Kim Thông nhận được án phát lưu vào Vĩnh Long. Đường từ Bình Định vào Nam xa xôi, ông Thông cùng với bốn chứng nhân khác. Vì tuổi già sức yếu, lại phải mang gông siềng, ông bước đi một cách rất khó khăn, mệt nhọc. Mỗi ngày chỉ đi được bảy tám dặm, dưới ánh nắng gay gắt. Tối đến, đoàn tù nhân được tạm giam trong các đòn quan, hay nhà tù địa phương. Được vài ba ngày, lính thấy ông Thông đuối sức quá, sợ không thể đi tới nơi, thì thương tình tháo gông xiềng cho ông. Đến Chợ Quán, thấy tình trạng sức khỏe của ông quá tàn tạ, Cha Được đã đến ban phép xức dầu cho ông. Sau đó ông lại phải mang gông xiềng tiếp. Khi ông đặt chân lên đất lưu đày, ông chỉ kịp đọc kinh an năn tội, vài kinh kính mừng, rồi tắt thở. Hôm đó là ngày 15 tháng 5 năm 1855.
- Bà Thánh I-nê Đê (Lê Thị Thành), sau khi đã bị tra tấn và chịu đòn, coi trong người không có chỗ nào không bị thương tích, áo quần đầy máu me, bà đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục. Lời sau cùng của bà là: "Giê-su Ma-ri-a Giu-se, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa." Hôm đó là ngày 12-7-1841, sau 3 tháng bị giam cầm về đức Tin.
- Riêng những vị xử trảm, cũng có những gương sáng lạng về việc các ngài coi thường sự đau đớn lúc bị chém đầu. Coi như các ngài ước ao được chém nhiều lần để biểu lộ lòng yêu mến Chúa. Trước khi bị chém Thánh Giám mục An nói với viên quan chỉ huy: "Tôi gửi quan 30 quan tiền để xin một ân huệ: Đừng chém tôi một nhát nhưng 3 nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng nên tôi, và dẫn tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi. Nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết vì đức Tin, theo gương vị chủ chăn. Và như thế họ đáng hưởng hạnh phúc cùng các Thánh trên trời.”
- Năm ông Đaminh Nhi, ông Đa-minh Mạo, ông Đa-minh Nguyên, ông An-rê Tường, ông Vinh sơn Tưởng, bị xử chém đầu, thì trừ ông Đa-minh Nhi, bốn vị ông Đa-minh Mạo cùng các ông Đa-minh Nguyên, An-rê Tường, Vinh-sơn Tưởng, đều yêu cầu lý hình, thay vì chém một nhát, thì xin được chém 3 nhát để tỏ lòng tôn kính Chúa Ba Ngôi.
- Riêng Thánh Hồ Đình Hy bị chém đầu, nhưng trước khi đem đi xử, giữa kinh thành Huế, trong ba ngày 15,18 và 21 tháng 5 năm 1857, thân mình ngài đầy thương tích, quần áo tả tơi, dính đầy máu, đi đứng lảo đảo như muốn té nhào, bị điệu qua các đường phố, những khu chợ và quanh thành nội. Lính mở đường đi trước rao tên tử tội, mỗi khi tới ngã ba đường, phố, chợ và công trường, người tử tội bị đánh 30 trượng, lính vác loa rêu rao: "Thằng theo tà đạo, đức ngỗ nghịch, bất hiếu với cha mẹ, cưỡng lại luật pháp triều đình. Vì thế bị kết án tử hình. Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ lên Thiên đàng. Điều đó có đúng hay sai, không cần biết. Gia Tô của nó ở đâu? tại sao thấy nó khổ mà không đến cứu?"
- Sau một năm tù giam, An-rê Trọng vẫn cương quyết tuyên xưng đức Tin, các quan quyết định ngày xử là thứ bảy ngày 28-11-1835. Sáng hôm đó, anh gặp lại người anh họ. Người anh họ hỏi Thánh nhân có muốn ăn gì không? An-rê Trọng trả lời: "Em muốn giữ chay để dọn mình tử đạo", rồi nói tiếp: "Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì cho em, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa, cho đến chết."
Nhưng người anh họ chưa kịp về nhắn tin, bà mẹ An-rê Trọng đã đến đón con và theo con đến tận đầu chợ An Hòa, nơi An-rê sẽ phải xử. Gặp con, bà chỉ nói một câu: "Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần gì ai không? Nếu có thì cho mẹ biết, mẹ sẽ trả thay con."
Khi được con cho biết không vướng mắc gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh nói với con những lời đầy khích lệ. Đến nơi xử, khi quân lính tháo gông xiềng, Thánh Trọng đón lấy, đưa cho anh lính cạnh bên và căn dặn: "Xin nhờ anh đưa giùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm."
Mẹ anh đứng gần bên nghe rõ, nhưng bà cho rằng chỉ nhận lấy kỷ vật đó mà thôi là chưa đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa. Bà can đảm, bước ra xin viên quan chỉ huy trao cho bà thủ cấp của con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghìm chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lập đi lập lại: "Ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ.” Rồi bà đem về an táng trong nhà.
LM.Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.    
(Nguồn: menchuayeunguoi.com)

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM




Trong suốt 300 năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách, trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các cơn bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh...

Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp bốn trăm ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức...

Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người công giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo...

Như thế, con số Cha Ông Tử Đạo chúng ta, trong ba trăm năm bị bắt Đạo, phải tính lên đến ba trăm ngàn người trong vòng ba trăm năm. Nếu tính theo tỷ lệ, trong ba trăm năm bắt Đạo, cứ một trăm năm thì có một trăm ngàn Vị Tử đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo! (x.tonggiaophanhue.net).

1. Vài tư liệu.

a. Thời gian và con số:

+ Thời gian bắt đầu vào năm 1580 và chỉ kết thúc hoàn toàn vào năm 1888, kéo dài gần 3 thế kỷ.
+ Có khoảng 400.000 người bị lưu đầy, phát lưu và phân sáp. Hơn 100.000 người đã chết vì đạo trong số này đã có 117 vị được Giáo Hội chính thức tôn phong lên hàng hiển thánh vào ngày 19.6.1988.

b. Về các hình khổ: Các ngài đã phải chịu mọi thứ cực hình mà người ta có thể nghĩ ra được như:

- Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói.
- Bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng.
- Quyết liệt hơn thì bị trảm quyết tức là bị chặt đầu, bị xử giảo tức là bị thắt cổ, hay bị thiêu sống.
- Vô cùng man rợ và hiểm độc như bị xử lăng trì, phân thây ra từng mảnh hay là xứ bá đao.

c. Quá trình Giáo Hội phong thánh

* Ngày 27-5-1900 Đức Thánh Cha Lêo XIII phong 64 vị lên hàng chân phước.
* Ngày 20-5-1906 Đức Thánh Cha Pio X phong thêm 8 vị.
* Ngày 02-5-1909 cũng Đức Thánh Cha Piô X phong thêm 20 vị nữa.
* Ngày 29-4-1951 Đức Thánh Cha Pio XII phong 25 vị.

Trong 117 vị được phong chân phước có :

- 8 Giám mục ( Giám mục thuộc dòng Đaminh và 2 Giám mục thuộc Hội thừa sai 
Paris)
- 50 Linh mục (Gồm 37 là người Việt 
Nam, 8 thuộc Hội thừa sai Paris và 5 thuộc dòng Đaminh)
- 15 Thầy giảng
-44 Giáo dân thuộc đủ mọi thành phần xã hội: công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ...

d. Theo loại hình phạt

* 79 vị bị trảm quyết tức là bị chặt đầu. Như vậy là con số bị trảm quyết nhiều nhất.
* 18 vị bị xử giảo tức là bị thắt cổ.
* 8 vị chết rũ tù
* 6 vị bị thiêu sinh
* 4 vị bị lăng trì tức là phân thây ra từng mảnh
* 1 vị bị tử thương
* 1 vị bị bá đao

e. Về thời gian

* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Doanh
* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Sâm
* 2 vị chịu tử đạo thời Cảnh Thịnh.
* 57 vị chịu tử đạo thời Minh Mạng
* 3 vị chịu tử đạo thời Thiệu Trị
* 51 vị chịu tử đạo thời Tự Đức

2. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVII(1625-1692)

Cũng như Giáo Hội Rôma ngày xưa, Giáo Hội Việt 
Nam từ giây phút đầu tiên được nghe rao giảng Tin Mừng, đã phải đối phó với những cơn giông tố dữ dội cấm Đạo nổi lên ác liệt.

Trong thế kỷ XVII (1625-1692)

- Dưới thờ Vua Sãi Vương bắt Đạo: cấm người công giáo làm bàn thờ trong nhà, không được mang chuỗi tượng công khai, chịu những hình khổ của tù nhân, không được làm những chức phận gì trong triều đình. Các nhà thờ bị triệt hạ, các linh mục ngoại quốc bị tập trung về Hội An và bị trục xuất ra khỏi nước.

- Dưới thời Vua Thượng Vương bắt Đạo: người công giáo bị bắt bỏ tù, rồi lập hồ sơ đưa ra toà án: nếu là thầy giảng hay linh mục không chịu bỏ đạo thì chém đầu; nếu là giáo dân không chịu bỏ Đạo thì bị đánh bách trượng, bị cạo trọc đầu, bị chặt các đầu mút ngón tay, bị thả về tàn phế như vậy, không được cấp dưỡng gì hết.

- Dưới thời Vua Hiền Vương bắt Đạo: các nhà thờ và các nhà nguyện công, tư bị triệt hạ; các tượng ảnh bị thiêu đốt, các thầy giảng và các chức việc bị bỏ tù; các linh mục ngoại quốc bị trục xuất ra khỏi nước; nhiều hình khổ rùng rợn được áp dụng như giam đói, giam khát, bị chặt đầu, phân thây, treo ngược vào cột để xé xác ra làm sáu phần; cho voi chà nát; đâm gươm vào hông; chặt đứt hai tay, hai chân, chỉ còn đầu và thân mình.

- Dưới thời Vua Vua Ngãi Vương bắt Đạo: cấm ba tội, là tội đánh bạc, tội đá gà và tội theo đạo Công Giáo; các nhà thờ bị triệt hạ; thường dân theo Đạo Công Giáo thì bị bắt bỏ tù, sĩ quan có đạo thì bị truất chức; ai tố cáo người công giáo đi dự lễ thì được thưởng, ai biết mà không chịu đi tố cáo thì bị tội; ai không chịu chối Đạo thì phải mang gông phơi nắng chín ngày, bị thắt cổ, bị treo chân vào cột đánh đòn.

3. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVIII (1698-1801)

- Dưới thời Vua Minh Vương: người công giáo chịu thuế nặng gấp ba lần người không công giáo; ai cũng được tự do làm hại người công giáo bất cứ bằng cách nào; áp dụng nhiều hình khổ lạ hơn như xẻo hai tai, vấn dẻ vào các ngón tay rồi đổ dầu mà đốt; lấy dao khắc hình Thánh Giá vào trán người công giáo rồi xiềng hai chân với cổ lại, bắt đi bứt cỏ nuôi voi của Nhà Vua suốt đời, hình phạt nầy được gọi là Thảo tượng chung thân; lập chuồng giam người công giáo như giam súc vật: chuồng lợp lá, chật chội, người công giáo bị giam trong đó, có lính canh đêm ngày không cho họ ra khỏi, nhưng bên ngoài, lại có dọn đồ ăn rất ngon, lính canh đứng ngoài cứ hô to: “Nước đó, cơm cá đó. Cứ bỏ đạo rồi ra mà ăn, mà uống”...

- Dưới thời Vua Võ Vương và Nhà Trịnh: hình khổ được áp dụng thêm, là kẹp các đầu ngón tay cho ra máu; lập nhà giam Sinh Tử, có hai cửa, một cửa gọi là Cửa Sinh, một cửa gọi là Cửa Tử, cửa Sinh có Dấu Thánh Giá, ai bước qua để đi ra thì được sống, cửa Tử có để thanh gươm, ai bước qua là tỏ dấu không muốn bỏ Đạo, thì bị xử tử.

- Trong thời kỳ Nhà Tây Sơn bắt Đạo, đặc biệt tại Thừa Thiên và Quảng Trị, giáo dân phải bị tàn sát dữ dội. Riêng tại Quảng Trị, trong thời kỳ này, nhiều giáo dân phải bỏ nhà cửa, bồng bế con cái chạy trốn vào rừng núi La Vang, và được Đức Mẹ Maria hiện ra an ủi năm 1798.

4. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XIX (1830-1885)

- Dưới thời Vua Minh Mạng bắt Đạo: các nhà lao xá như Trấn Phủ, Khám Đường được thành lập để giam người công giáo; đày người công giáo đến những nơi rừng thiêng nước độc; áp dụng hình khổ Bá Đao; xử giảo thắt cổ; bắt tám người công giáo phải mang một cái gông dài như cái thang để khỏi phải chạy trốn. 

- Dưới thờ Vua Tự Đức bắt Đạo: lệnh ban ra giết các linh mục Việt Nam và các linh mục ngoại quốc; tróc nã các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá; quân sĩ nào theo đạo Công Giáo, trước khi ra trận, phải Phạm Ảnh, nghĩa là phải bước qua Thánh Giá; thi hành kế hoạch Phân Sáp để tiêu diệt tận gốc người Công Giáo.

- Cuối thế kỷ XIX, xảy ra nhiều cuộc tàn sát người Công Giáo bởi Phong trào Văn Thân. Thời kỳ Văn Thân này tương đối ngắn, nhưng có đến sáu vạn giáo dân bị thảm sát. Riêng tại một tỉnh Bình Định, có 24.000 giáo dân bị giết. Tại Quảng Trị, chỉ trong vòng một tháng, hơn 8.000 giáo dân bị giết. 

5. Kế hoạch Phân Sáp để tận diệt người Công Giáo

Kế hoạch Phân Sáp được thi hành trong năm 1851 và 1856. Do sự thi hành kế hoạch này mà 400.000 giáo dân phải bị đi phân sáp, từ 50.000 đến 60.000 giáo dân phải chết nơi phân sáp, 3.500 giáo dân bị xử tử, 100 làng công giáo bị đốt phá bình địa, 2.000 Họ đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, 115 linh mục Việt Nam và 10 giáo sĩ ngoại quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, 2.000 nữ tu Mến Thánh Giá phải tan tác, 100 nữ tu Mến Thánh Giá chết vì Đạo.

Kế hoạch Phân Sáp gồm 4 mặt:

a. Không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương;
b. Mỗi người công giáo phải bị 5 người lương canh gác cẩn mật;
c. Các làng công giáo bị bị phá huỷ, của cải ruộng đất người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người này xử dụng và nộp thuế lại cho Nhà Nước;
d. Không cho đàn ông công giáo ở với đàn bà công giáo; không cho vợ chồng công giáo ở một nơi với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau; con cái phải để cho người lương nuôi. (x.tonggiaophanhue.net).

Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolô đã từng nói: “Giáo hội Việt nam đã phát sinh những nhân chứng, đặc biệt là Các Vị Tử Đạo, lời tiền nhân nói không sai: Máu đào là hạt giống phát sinh Kitô hữu, vì do máu Các Đấng Tử Đạo của dân tộc và Giáo hội Việt nam mà đức tin trong thế hệ trước đã mọc lên, đức tin của thế hệ hiện tại được bảo toàn, và hy vọng đức tin của thế hệ mai sau được gìn giữ”.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An(Nguồn : baoconggiao.com)

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

THẬT KỲ LẠ !!!


1- Thật kỳ lạ: Tờ giấy bạc năm chục nghìn đồng sao có vẻ quá lớn khi dâng tặng nó cho Nhà Thờ hay dùng nó để làm việc từ thiện, nhưng sao lại quá nhỏ khi mình đi mua sắm?
2- Thật kỳ lạ: Hai giờ trong Nhà Thờ sao có vẻ quá dài, nhưng hằng bao nhiêu giờ sao lại ngắn khi xem phim nhiều tập?
3- Thật kỳ lạ: Mình khó tìm ra lời để tôn vinh Chúa và cầu nguyện với Ngài cho người khác! Nhưng, khi tán gẫu với bạn bè, mình nói nhiều, mà không bao giờ hết chuyện!!!
4- Thật kỳ lạ: Đọc một đoạn Kinh Thánh sao mà quá khó khăn, nhưng xem cả trăm trang tiểu thuyết tình cảm hay kiếm hiệp thì sao lại dễ dàng đến thế?
5- Thật kỳ lạ: Sao ai cũng muốn ngồi hàng đầu khi nghe ca nhạc, lại còn tranh thủ mua vé sớm trước nhiều ngày, có khi cả tháng trời? Nhưng, khi đến nhà thờ thì lại tìm đủ mọi lý do để ngồi hàng cuối, có khi còn đi trễ nữa?
6- Thật kỳ lạ: Sao mình cần phải biết ''lịch Nhà Thờ'' trước một hay hai tuần lễ thì mới có thể giúp Giáo Xứ việc nào đó? Còn những chuyện riêng tư thì chỉ cần vài phút là mình sắp xếp thật ổn thoả?
7- Thật kỳ lạ: Những hiểu biết về Chúa, về Đạo mà chia sẻ với anh-chị-em thì sao mình thấy quá ngại ngùng? Nhưng tại sao những chuyện tầm phào, có khi bậy bạ thì truyền miệng cho nhau lại dễ dàng và quá nhanh?
8- Thật kỳ lạ: Sao mình tin ngay mọi thứ mà báo chí nêu ra, kể cả việc nói xấu về Đạo, về Giáo Hội, nhưng lại thường hay hồ nghi Lời Chúa trong Kinh Thánh và những điều Hội Thánh dạy?
9- Thật kỳ lạ: Sao mình cũng muốn có một chỗ trên Thiên Đàng, mà lại yếu Lòng Tin, Lòng Cậy, Lòng Mến và không hăng say rao giảng Tin Mừng cho người khác bằng việc tốt lành để mở mang Nước Chúa?
10- Thật kỳ lạ: Sao mình gởi chuyện vui bằng Email và tin rằng nó sẽ được chuyển ngay đến người khác, nhưng gởi một bài viết về Chúa, về Đạo thì mình lại đắn đo?
Xin Bà Con vui lòng chuyển nội dung ''thật kỳ lạ'' đến người khác để ''họ'' cũng có cơ hội được Chúa chúc lành.
(Thụy Sửu chuyển)

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

VE CHAI



Chị hớt hải về đến nơi thì cũng vừa lúc thợ thuyền ra về. Mấy đứa em chế giễu:
_Gớm! Giờ này bà chị mới tới!
_Thông cảm mà, chị mới đi làm về là ghé liền đó…
Mà thật vậy! Chị Minh rất vất vả, nhất là từ ngày chồng chị mất, mọi gánh nặng đều dồn lên vai chị. Mà khó nhất vẫn là việc kiếm miếng ăn cho 4 mẹ con. Cũng may là chị không phải thuê nhà, nên ít ra, chị không băn khoăn lắm về việc đi sớm về khuya. Hàng ngày chị phải đến quán cơm phụ việc, mãi đến 5 giờ chiều chị mới bắt đầu ra về để lo cho mấy đưa con còn thơ dại. Chỉ chẳng hề ca thán với ai bao giờ, vì chị đã quá quen với khổ cực từ tấm bé. Đến nỗi, lấy chồng lúc ấy là một giải pháp để mẹ chị bớt phải lo cho một miệng ăn.
Nay thì mấy đứa em chung tay làm nhà. Tuy chúng đều khá giả nhưng lại muốn ở chung nhà với mẹ già, dù vì như thế mà anh em hay hục hặc với nhau. Chị khá là bối rối khi mấy đứa cháu ruột mách chị:
_Bác ơi, ba cháu kỳ ghê đi…
_Sao?
_Ba cháu nhận việc lo giấy tờ, bản vẽ gì đó hết 5 triệu, mà về nói với bà là 8 triệu…
_Làm gì có chuyện đó!
_Con nghe ba con nói với mẹ con vậy đó…
_Rồi mẹ con nói gì?
_Mẹ con còn nói, sao không “kê” lên 10 triệu cho chẵn…
Hay, hôm khác, với đứa cháu khác:
_Bác ơi! Má cháu kỳ quá…
_...
Má cháu xui ba cháu mua gạch chỗ nào đó mà người ta đồng ý sẽ chừa phần cho nếu mua của họ…
_Vậy cháu nghĩ sao?
_Cháu thấy vậy là không đúng nhưng cháu không dám nói. Hay bác nói đi! Nhưng đừng để cho ba má cháu biết cháu đã nói với bác nhé. Bị đòn chết bác ơi!
Chị nào dám hé môi với ai, dù họ đều là em chị. Vì chị biết mình chẳng đỡ đần được gì cho mẹ già. Thôi thì, hàng ngày về đây quét dọn đỡ cho đám thợ, rồi quay qua săn sóc mẹ một chút cũng là việc vừa sức. Thấy mấy đứa em cứ moi tiền của mẹ mà chị xót xa, dù thật ra cũng chẳng nhiều nhặn gì. Nhưng chúng lại còn xét nét chị vì chị chẳng đóng góp được gì cho gia đình, dù họ biết chị thực sự rất khó khăn. Các em đều đã có gia đình, chúng thừa hiểu công việc chúng làm là đáng trách, nhưng có lẽ chúng chỉ cố minh chứng với những người còn lại là chúng đã hết lòng đóng góp cho công việc! Lời được mớ gạch men chừng mươi triệu thì thật ra vợ chồng cậu Hùng đã thủ thỉ với mẹ:
_Mẹ, con có bằng này thôi, mẹ cầm đỡ!
Dĩ nhiên, cậu Hùng cũng như dì Nga, luôn chừa lại chừng một nửa để tiêu xài gì đó, vì tiền với các cậu, dì có bao giờ là đủ đâu! Chị dư biết, thỉnh thoảng trong nhà có việc, là y như mẹ chị thế nào cũng bị thụt két! Gì chứ chợ búa là chị quá rành, vì ngày nào mà chị không đi chợ cho chủ quán! Từ trái ớt, quả dưa..đến miếng thịt heo, quả trứng… chị đều biết rõ giá.Mẹ chị cũng lờ mờ biết vậy, nhưng bà cũng kệ, có lẽ bà nghĩ dù sao thì chúng cũng là con cái!
Cái mớ đồ cũ, nào đám trần nhựa ngả màu, nào những món lạc xoong vất lền khên kia, nom thật ngứa mắt. Chị vừa gom cả vào một nơi, thì cậu út đã ré lên:
_Chị vất bố nó đi cho rộng nhà!
Mợ em dâu tiếp lời:
_Ba cái đồ quỷ tha ma bắt ấy…hay chị bán đi!
Đứa em kế đã cướp lời:
_Bán được nhiêu,cho chị hết đó!
Nghe thật buồn khi chúng cho chị những thứ vất đi như thế. Chị giấu những giọt nước mắt trong nụ cười không ra tiếng.
Mà chị bán thật. Vì chị nghĩ, thế nào cũng có được ít tiền. Chị chỉ kịp dắt đứa con út ra ăn tô phở rõ to, vì lâu rồi nó chưa từng được ăn thế, rồi chị gặp mẹ, đưa hết cho mẹ số tiền chị bán đám ve chai ấy. Chị thấy vui sướng trong lòng, vì chị đã làm điều tốt nhất có thể…
Chị nhớ tới câu chuyện thánh kinh thuật lại bà góa nghèo nàn bỏ đồng xu vào đền thờ. Với Đức Giê su, thì đồng xu ấy lớn hơn hết mọi khoản tiền của người khác dâng cúng. Chị lẩm bẩm:
_Lạy Chúa! Ấy là tiền của chính bà góa ấy! Còn con, con nào có gì đâu! Ngay cả tiền ve chai, cũng chẳng phải là tiền của con, Chúa ạ…


                                                                                                          LAM TRẦN 7.11.2015

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

CHO BẰNG TẤM LÒNG

SUY NIỆM

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN B - 8/11/2015

     
Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình ảnh bà ôm cả tấm lòng dành cho cha. Rất đáng quý, rất đáng trân trọng. Nói là ôm cả tấm lòng vì khi gia đình có cây chuối ra hoa, ra buồng, họ đã nghĩ đến để dành cho ai. Khi ra bẹ chuối họ cũng nghĩ phải chọn bẹ chuối nào dành cho cha. Và rồi nâng niu nải chuối ngon nhất để mang biếu cha, đó là ôm trọn một tấm lòng chân thành thật quý giá!
Hình ảnh ấy khiến tôi cũng nhớ tới một bà cụ rất đơn sơ. Ngày tết bà ra chúc tuổi tôi. Bà nói: Nhà con có cây xoài ra trái. Con để dành trái xoài to nhất để mang tết cha. Thế mà đến ngày 28 tết trộm nó hái mất rồi! Con chẳng còn gì để biếu cha. Nghe cũng vui nên tôi nói với bà cụ: Bà đã dành cho cha cả tấm lòng rồi. Xin cám ơn bà.


Quả thực, người ta nói “của cho không bằng cách cho”. Giá trị của món quà không nằm ở giá trị đồng tiền mà quan yếu là ở tấm lòng dành cho nhau. Những người cần công việc họ biếu quà cho cấp trên hàng triệu nhưng không có tấm lòng. Quà họ biếu có toan tính lợi nhuận. Quà của họ không có tình yêu.
Quà tặng chỉ có giá trị khi nó mang cả tấm lòng yêu mến tri ân. Đó mới là món quà vô giá. Món quà nồng thắm tình yêu. Món quà không dựa trên giá trị đồng tiền mà hệ tại ở tấm lòng. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ mình có thật nhiều tiền mới giúp cha giúp mẹ, mới mua quà bánh cho ông bà.  . . Đừng cầu mong trúng số mới làm việc bác ái, mới đóng góp xây dựng giáo xứ . . .
Nếu như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó có cơ hội giúp đỡ tha nhân. Hãy thi ân trong khả năng của mình. Hãy làm việc thiện khi có cơ hội, đừng đợi chờ những chuyện ngoài tầm tay. Chúng ta không nên hứa hẹn hay chờ đợi ngày mai, mà ngay hôm nay hãy làm những việc tầm thường như: giúp một người già qua đường, lượm một cây đinh sét vương vãi trên đường, thăm viếng kẻ yếu đau . . .


Thiên Chúa sẽ nhìn tấm lòng chúng ta như Chúa đã nhìn thấy tấm lòng thành của Abel. Ngài đã vui nhận lễ vật của Abel, vì Ngài thấy ở đó có lòng thành tri ân. Thiên Chúa đã khinh dể lễ vật của Cain vì lễ dâng của ông không có lòng thành. Vì Ngài là Đấng thấu suốt tâm can. Ngài sẽ chúc phúc cho những lễ vật đơn hèn nhưng gói trọn tình yêu.


Hôm nay trong đền thờ khi mà nhiều người bỏ tiền dâng cúng, Chúa Giê-su chỉ nhìn thấy nơi bà góa tấm lòng thành. Bà bỏ tiền ít nhưng nồng ép vào đó cả tấm lòng thành. Bà không giầu của cải nhưng bà giầu tấm lòng. Bà biết tất cả là của Chúa ban, thế nên phải dâng lại cho Chúa là lẽ thường tình. Lễ vật của bà không giầu tiền bạc nhưng lại rộng lượng tấm lòng.

Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả là của Chúa. Cuộc sống của chúng ta là do Chúa ban. Hãy dâng tặng cho Chúa trong những công việc chung của Giáo hội, nhất là chia sẻ cho những người bất hạnh cơ hàn. Xin đừng đóng cửa lòng mình trong ích kỷ tham lam. Amen


Lm.Jos Tạ Duy Tuyền


    HAI BÀI GIẢNG HUẤN
           (Suy niệm từ Mc 12, 38-44)

     Trong giờ giảng huấn hôm nay,
Chúa lên tiếng dậy: Điều này cảm thông,
     Các ngươi luôn phải coi chừng
Những nhà Luật Sỹ, áo chùng phô trương
     Những nơi công cộng, công trường
Được người chào bái, khinh thường bình dân.
     Tiệc tùng, đình đám, nhanh chân
Chiếm ngồi ghế nhất, nhận phần cao sang.
     Họ nêu gương xấu mọi đàng…
Chức năng cao quí lạc đường tu thân.
                        ***
     Đây, bài giáo huấn thứ hai:
Giầu nghèo ai cũng như ai đó mà.
     Việc chung, bác ái của ta,
Thành tâm đóng góp,Ý Cha kêu mời.
     Bà kia goá bụa, nghèo thôi,
Bà dâng hết cả của nuôi thường ngày.
     Vì tin cậy vững. Quí thay!
Quyền năng Thiên Chúa đời này, đời sau…
(Thế Kiên Dominic)