Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2015

MÙA VỌNG GIÁNG SINH



MÙA VỌNG GIÁNG SINH

Ngọn đèn nến sáng lung linh
bốn Tuần Mùa Vọng ''Giáng Sinh Cứu Đời''!
Thánh Ca trầm bổng là lời
xin ''Mưa Cứu Chuộc'' cho đời lầm than
thoát xiềng xích của Satan
để Hồng Ân xuống chứa chan cõi lòng!
Như nai tìm đến suối trong,
đoàn con chờ Chúa nhủ lòng xót thương,
thứ tha cho kẻ lầm đường,
tìm về với Chúa Tình Thương vô bờ!
Ngài là Chúa Tể Thiên Cơ!
Con người hữu hạn biết chờ trông ai?
Đàn con sám hối, van nài
Chúa mau cho Đấng Thiên Sai  xuống trần!
Bốn Tuần Mùa Vọng qua dần...,
nôn nao chờ tiếng chuông ngân báo rằng:
''Đêm nay, Con Chúa Vĩnh Hằng
giáng sinh, người có biết chăng, hỡi người?''

Đaminh Phan văn Phước


Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

BẠN BIẾT GÌ VỀ LỄ GIÁNG SINH ?


Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi.

Khung cảnh Giáng Sinh được trang trí lộng lẫy khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, vô số những tấm thiệp được gởi để chúc mừng nhau. Hơn 2.000 năm qua, thế giới đánh dấu việc giáng sinh của Chúa Giêsu là lễ hội vui mừng nhất. Không có ngày nào trong năm vui mừng như vậy.

Chưa một Công đồng nào hoặc một Giáo hoàng nào công bố như vậy. Nhưng mỗi năm, Giáng Sinh đến như làn gió Đông bất ngờ thổi vào Tháng Mười Hai, như ánh nắng lấp lánh phản chiếu trên tuyết trắng xóa. Cảm giác rất lạ, đang từ mùa Đông cằn cỗi tới mùa ánh sáng vui mừng.

Giáng Sinh đầu tiên – ngày Chúa Giêsu giáng trần – là “cú sốc” đối với lịch sử nhận loại.

Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã sống và đã chết trong tội mà không biết, cảnh khốn khổ của thế gian này không thể tránh khỏi và niềm vui quá ít mà mau qua. Giáng Sinh tới, lịch sử được chia làm đôi: Trước ngày đó (trước Công nguyên), và sau ngày đó (sau Công nguyên). Thế giới hoàn toàn thay đổi. Vì Ơn Cứu Độ khởi đầu từ khi Thiên Chúa hóa thành nhục thể, khi Thiên Chúa hạ sinh tại Belem.

Thiên Chúa đến ở với chúng ta trên thế gian này. Thánh Gioan khởi đầu Phúc Âm bằng cách diễn tả một Thiên Chúa rất quyền năng, rất xa xôi, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả vì yêu thương nhân loại:

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:1-5).

Đó là Thiên Chúa mà chính các triết gia ngoại giáo cũng biết, họ gọi Ngài là Động Lực Đầu Tiên, Tạo Hóa, Thượng Đế. Kịch bản của Thánh Gioan lên tới đỉnh điểm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).

Đây là tin “giật gân”. Từ trời cao xa, từ thời điểm xa nhất, chính Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và “cắm lều” ở giữa Dân Ngài. Từ đời đời, Thiên Chúa là Ngôi Lời, nhưng không ai nắm bắt được Ngôi Lời. Bây giờ Ngài hóa thành Hài Nhi, và người ta có thể bồng bế hoặc ôm ấp Hài Nhi.

Theo sự thật lạ lùng của Kitô giáo, không gì táo bạo như điều này: Ngôi lời sinh ra tại một ngôi làng nhỏ, trong một hang đầy thú vật, vào một đêm vừa lạnh giá vừa tăm tối. Ngôi Lời đã làm người và đã thay đổi mọi thứ. Điều này làm cho lễ Giáng Sinh trở thành lễ gây sốc nhất trong lịch.

Ý nghĩa lễ Giáng Sinh được gom lại trong điều này. Thiên Chúa đã sống trong một gia đình như chúng ta. Ngài cũng run người vì lạnh như chúng ta. Ngôi-Lời-mặc-xác-phàm cũng đã bú sữa mẹ như các em bé khác, cũng khóc lóc khi cơ thể bất an. Hoàn toàn như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Truyền thống cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan viết đoạn mở đầu cho Phúc Âm của ngài khi được linh hứng cao độ. Bạn bè của ngài đã bảo ngài viết chuyện đời Chúa Giêsu, thế nên ngài bảo họ ủng hộ ngài bằng cách ăn chay và cầu nguyện. Khi ăn chay xong, Thần Khí ngự xuống trên Thánh Gioan, và ngài như không còn là chính mình. Ngôn từ cứ tuôn trào – có thể chính là những từ mà ngài cố gắng tìm mà chưa bao giờ tìm được.

Chúng ta có thể thấy lạ trong giọng điệu khi ngài nói với chúng ta rằng Ngôi Lời trở nên người phàm. Khi ngài viết, hẳn là ngài cũng cảm thấy rất hưng phấn, như lần đầu đến nhà của thợ mộc Giêsu ở làng Nadarét, Đấng Được Xức Dầu, Con Thiên Chúa.

Sự ngạc nhiên này cũng có trong thư thứ nhất của Thánh Gioan. Theo truyền thống, Thánh Gioan viết lá thư đó 66 năm sau khi Chúa Giêsu về trời, nhưng vẫn có sự ngạc nhiên trong lối hành văn của ngài. Ngài vẫn như thể không tin được rằng “điều đó là từ khởi đầu” cũng là “điều mà chúng ta nghe, thấy và sờ được”.

* * *

Trong thời Giáo hội sơ khai, lễ Giáng Sinh không là lễ quan trọng. Cuộc đời Chúa Giêsu vẫn là ký ức sống, và sự phục sinh của Ngài vẫn chiếm vị trí trung tâm trong lịch. Nhưng theo thời gian, các thầy dạy giả mạo bắt đầu không chịu nhận nhân tính nơi Chúa Giêsu. Họ cho rằng cơ thể Chúa Giêsu là cách cải trang tinh vi, chứ Thiên Chúa không bao giờ hạ giá chính Ngài bằng cách “mặc lấy xác phàm”. Sau đó, các tà thuyết từ chối việc Đức Mẹ sinh ra Ngôi Lời. Họ nói rằng Đức Mẹ sinh ra “thùng” chứa đựng Ngôi Lời. Các tà thuyết vẫn cho rằng Chúa Con là phần phụ, như thần thánh, chứ không đồng bản thể và vĩnh hằng với Chúa Cha.

Các tà thuyết này có một điểm chung: Không chấp nhận việc làm người của Con Thiên Chúa. Arius là người lập ra tà thuyết Arian, ông là người giỏi về luận lý. Ông từ chối tín điều Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi), ông cho rằng ba không thể là một, đó là số học sơ đẳng. Thiên Chúa vô hạn không thể làm người hữu hạn, đó là triết học sơ đẳng. Do đó không thể có việc Thiên Chúa làm người.

Những người lạc giáo như Arius muốn dành cho Thiên Chúa sự sỉ nhục không thể lý giải của sự lệch lạc vì kết hợp quá sát với bản tính nhân loại. Đó cũng là vấn đề tương tự mà nhóm Pharisêu không thể vượt qua: Nếu Ông Giêsu này quá tốt, tại sao Ngài thân thiết với người tội lỗi và người thu thuế? Thật vậy, mặc dù những người theo tà thuyết khăng khăng cho rằng họ bảo vệ sự hoàn hảo của Thần tính, họ vẫn thực sự từ khước sự hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, tình yêu có thể có vẻ bất khả lý luận. Bất kỳ ai đánh giá người khác như chính mình đều có vẻ hoàn toàn thái quá.

Hầu như không thể trùng khớp việc kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu theo lịch sử và theo nghĩa đen, Ngài là con bác thợ mộc bắt đầu đảm trách việc quan trọng hơn khi đức tin đích thực bị choán bởi các sai lầm rất nguy hiểm là tứ chối việc hóa thành nhục thể. Mừng Con Thiên Chúa giáng sinh là tách điều chính thống với tà thuyết. Mừng Chúa Giáng Sinh đưa Giáo hội tới nguyên tắc rõ ràng.

* * *

Từ đầu, không có sự thống nhất về ngày lễ Giáng Sinh. Giáo hội ở Ai Cập đặt ngày Đức Kitô giáng sinh vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Các Giáo hội khác đặt vào tháng Ba, hoặc bất kỳ tháng nào mà họ thích. Điều cũng phổ biến là kết hợp lễ Giáng Sinh với lễ Hiển Linh (Ba Vua), đặ cả hai lễ này vào ngày 6 tháng 1. Nhưng khoảng thập niên 400, lễ Giáng Sinh được ấn định ngày 25 tháng 12 cho tới ngày nay.

Có ít nhất ba giả thuyết về lễ Giáng Sinh được mừng vào ngày 25 tháng 12. Cả ba đều hợp lý.

Giả thuyết thứ nhất đơn giản nhất. Chuyện xưa kể rằng, khoảng năm 350, ĐGH Julius I tìm ngày Chúa Giêsu giáng sinh trong hồ sơ điều tra dân số. Không thấy trong hồ sơ có thông tin về 350 năm sau đó. Chúng ta biết qua Phúc Âm theo Thánh Luca rằng Chúa Giêsu sinh ra trong thời gian điều tra dân số. Người Rôma, với sự tôn trọng mệnh lệnh, có thể đã giữ hồ sơ quá kỹ ở nơi nào đó tại Rôma nên không thể phát hiện.

Giả thuyết thứ nhì cho rằng các Kitô hữu không thể bỏ lễ kỷ niệm giữa mùa Đông của người ngoại giáo, nên dùng ngày đó luôn. Xuyên suốt lịch sử, người ta đã bỏ qua những ngày ngắn trong năm như ngày Đông chí hoặc Hạ chí. Khi ngày bắt đầu dài trở lại, nghĩa là mùa Đông cũng qua, và thế giới sẽ tái sinh vào mùa Xuân.

Nguồn gốc ngoại giáo của ngày này không làm chúng ta thành xấu xa. Thật vậy, nhiều truyền thống Kitô giáo đã có nguồn gốc từ ngoại giáo. Chẳng hạn cây Giáng Sinh không liên quan gì tới ngày Chúa Giêsu giáng sinh, nhưng chắc chắn mang ý nghĩa là nghi lễ giữa mùa Đông của ngoại giáo: Nhờ sự thông cảm, chúng ta đem tinh thần này vào ngày lễ bằng một cây xanh – cây này vẫn sống khi các cây khác đã chết khô. Và đó cũng là biểu tượng xứng hợp đối với các Kitô hữu. Cây xanh là phép ẩn dụ minh nhiên về niềm hy vọng của cuộc sống mới mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta.

Còn nữa, đèn nến mà chúng ta thắp sáng khắp nơi trong lễ Giáng Sinh có thể là sự sống còn của nghi lễ ngoại giáo – một lần nữa lại là dạng thông cảm, lửa thắp sáng để làm mặt trời chết sống lại. Nhưng ánh sáng luôn là biểu tượng ưa thích của Kitô giáo.

Chúng ta biết rằng Giáo hội thời sơ khai thường lợi dụng niềm tin hoặc tục lệ của dân địa phương để loan truyền Phúc Âm. Chính Thánh Phaolô đã có một câu nổi tiếng được khắc trên bàn thờ dâng kính một vị thần ở A-thê-na (Athens): “Thưa quý vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết.23 Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17:23). Tinh thần của Thánh Phaolô có rất nhiều trong Giáo hội trong việc phát triển cách hiểu của Kitô giáo về các lễ hội được ưa thích của người ngoại giáo, giải thích cho những người chuyển đạo rằng họ thực sự tôn thờ không chỉ Thần ánh sáng mà là Chúa Nguồn Sáng.

Giả thuyết thứ ba giải thích về ngày 25 tháng 12 là nó thích hợp với khái niệm của Giáo hội sơ khai về sự sống hoàn hảo của Chúa Giêsu. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu chết ngày 25 tháng 3. Các thần học gia lý luận rằng, để sự sống của Ngài hoàn hảo, Ngài cũng phải được thụ thai vào ngày 25 tháng 3, rồi sinh ra 9 tháng sau đó.

Ý tưởng về sự sống của Chúa Giêsu có sự hoàn hảo về mỹ học phải làm thỏa mãn thời đại cho tới thời triết học tân Platon. Điều đó đã làm thỏa mãn các nhà thông thái cũng như lễ hội giữa mùa Đông làm thỏa mãn tình cảm của dân chúng.

Các giả thuyết này đều có thể là thật. Chẳng hạn, người ta tưởng tượng rằng Đức giáo hoàng đã khám phá ngày tháng trong cuộc điều tra dân số, và Giáo hội lợi dụng sự thích hợp đó với ngày tháng của lễ hội ưa thích của người ngoại giáo, cũng như các Kitô hữu lợi dụng tính cân xứng với ngày chết của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu đã tới các quốc gia theo cách mà các quốc gia đã được chuẩn bị để nghe biết. Nhờ đưa ra cách hiểu về Kitô giáo đối với phong tục địa phương hoặc ý tưởng triết học hợp lý, Giáo hội đã cho những người mới theo đạo cách hiểu lịch sử của việc Chúa giáng sinh theo cách mà họ có thể hiểu.

* * *

Khi lễ hội này lan tràn khắp các nước mới gia nhập Kitô giáo ở Âu châu và Đông phương, người ta gom các phong tục ngoại giáo cổ xưa hơn và tạo cách hiểu mới. Lễ Giáng Sinh lan truyền tới đâu thì đều có vẻ mới nhưng vẫn quen thuộc với những người mới theo đạo. Có thể chính sự quen thuộc đó đã làm cho lễ Giáng Sinh được người ta yêu thích.

Khoảng năm 1100, lễ Giáng Sinh đã trở nên lễ quan trọng nhất trong năm. Suốt thời Trung cổ, lễ Giáng Sinh được cử hành ở khắp nơi với những cảnh đẹp lộng lẫy và niềm vui mừng. Người ta hát những bài ca giáng sinh mà họ thích; những đám rước nhộn nhịp qua các con đường nhỏ ở các thành phố thời Trung cổ; và bất kỳ nơi nào cũng tỏa mùi thơm từ những món ăn mừng lễ Giáng Sinh.

Tuy nhiên, với cuộc Cải cách Tin Lành, có những thay đổi về văn hóa. Họ hăng hái chống lại mọi sự lạm dụng trong Giáo hội, nhiều nhà cải cách đã nhắm vào lễ Giáng Sinh chỉ là một trong các lễ hội ngoại giáo. Theo nghĩa nào đó, dĩ nhiên họ đúng: Nhiều truyền thống có nguồn gốc ngoại giáo. Nhưng các phe chống lễ Giáng Sinh đã chỉ phê phán bằng “cái gốc” đáng lẽ họ phải phê bình bằng “hoa trái”.

Khi những người theo Thanh giáo chiếm lĩnh ở Anh quốc, họ đã cấm lễ Giáng Sinh. Các cửa tiệm phải mở toang ra. Bất kỳ ai bị phát hiện một miếng bánh nào sẽ gặp rắc rối. Người Thanh giáo cho rằng các loại bánh khúc cây, bánh mận, và những bài hát giáng sinh tạo nên lễ Giáng Sinh truyền thống Anh quốc đều không là gì khác ngoài việc tôn sùng ngẫu tượng ngoại giáo, thế thì phải dẹp bỏ. Có một số người phản đối, thậm chí một số người còn sẵn sàng chết vì bảo vệ lễ Giáng Sinh, nên dân chúng vẫn theo truyền thống dùng lễ Giáng Sinh là ngày nghỉ – nhưng người Thanh giáo vẫn chiếm ưu thế, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Để phản kháng, người Thanh giáo ra lệnh rằng lễ Giáng Sinh phải là ngày ăn chay. Truyền thống này không bao giờ được tiếp nối. Dễ dàng nói rằng việc ăn chay không bao giờ được theo vì tính yếu đuối nhân loại – cuối cùng, người ta thích ăn mừng lễ hơn ăn chay vì tự nhiên như người ta thích vui hơn thích buồn. Nhưng Mùa Chay không bao giờ bị bỏ ra ngoài lịch. Các Kitô hữu tốt lành sẵn sàng chịu đựng sự từ bỏ mình khi thích hợp. Nhưng điều đó có vẻ không thích hợp với lễ Giáng Sinh.

Có điều người Thanh giáo không hiểu, và có điều nhiều người tốt vẫn không hiểu, đó là không có sự mâu thuẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và tận hưởng sự sáng tạo của Thiên Chúa. Không gì xấu để tận hưởng những điều tốt lành mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Phép lạ thứ nhất của Chúa Giêsu là hóa nước thành rượu – mà không chỉ là rược thường, thánh Gioan tỉ mỉ cho biết đó là loại rượu hảo hạng. Rõ ràng Con Người có vị giác rất tốt theo nhân tính.

Một số các Kitô hữu sai lầm như Thanh giáo đều xấu hổ vì hiểu đức tin với niềm vui trần tục. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh là mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Thánh Athanasiô nói rằng chữ “nhục thể” (xác thịt) là sự chính thống anh hùng vô địch khi những đám mây tà thuyết có vẻ đen tối nhất, “nhục thể không loại bỏ vinh quang của Ngôi Lời, tư tưởng còn xa hơn. Ngược lại, nhục thể được Thiên Chúa làm cho vinh quang”.

Một số các Giáo phụ gọi lễ Giáng Sinh là lễ Hóa Thân, theo nghĩa gốc tiếng Latin. Khi Thiên Chúa mặc xác phàm, chính nhục thể trở thành vật thánh, là điều được cử hành bằng hình ảnh, tượng và thiệp giáng sinh.

Thế kỷ VIII, một bè rối nổi lên trong Giáo hội và tự nhận là “Iconoclasts”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “những người đập nát hình ảnh” (tức là phá ngẫu tượng). Họ cố gắng “thanh lọc” và “tâm linh hóa” đời sống Kitô giáo bằng cách xóa bỏ mọi biểu tượng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các thánh. Họ phá hủy mọi hình ảnh tôn giáo trong thời Đế quốc La Mã Đông phương, và họ chặt tay các Kitô hữu nào không loại bỏ các ảnh tượng. Họ nói rằng Thiên Chúa không thể được thể hiện qua ảnh tượng; ai làm vậy là thờ ngẫu tượng. Nhưng đây là cách mà Thánh Gioan thành Damascô trả lời họ: “Thời xưa, Thiên Chúa không được thể hiện bằng bất kỳ cách nào. Nhưng ngày nay, vì Thiên Chúa đã mặc xác phàm và sống giữa chúng ta, tôi có thể biểu hiện điều nhìn thấy ở Thiên Chúa. Tôi không tôn thờ chất liệu, mà tôi tôn thờ Đấng tạo nên chất liệu và trở nên chất liệu vì tôi… Qua chất liệu, Ngài hoàn tất ơn cứu độ cho tôi”.

Nói cách khác, sự “hóa thân” làm thành nghệ thuật, và cũng là đồ thánh, cũng như điều đó làm co cơ thể thành vật thánh. Các họa sĩ đã vẽ tranh giáng sinh qua nhiều thế kỷ mà không tạo ra ngẫu tượng. Cách thể hiện của họ là những bài Thánh ca (hymns) ca tụng Thiên Chúa vô hình được làm thành hữu hình.

Nhìn vào bất kỳ tranh giáng sinh cổ điển nào đều có thể cảm nhận Thiên Chúa. Mỗi con vật trong hang đá là một thụ tạo; mỗi cọng rơm trong máng cỏ đều được rút ra bằng sự cẩn thận vô cùng. Trong các cảnh của Kinh thánh, các họa sĩ đã yêu quý vẽ ra từ nhiều thế kỷ qua, lễ Giáng Sinh gợi nhớ sự vui mừng nhất trong niềm vui vẽ tranh, và Thiên Chúa hiện hữu trong từng chi tiết đó.

* * *

Câu chuyện giáng sinh của mọi người là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh sử Luca. Điều làm cho câu chuyện đó được yêu mến là sự thân thiện. Thánh Luca có vẻ như viết cho dân ngoại, cố gắng tới đúng chỗ Chúa Giêsu sinh ra về phương diện lịch sử và địa lý. Chúa Giêsu giáng sinh không là một ẩn dụ hoặc ngụ ngôn như những câu chuyện thời Trung cổ, mà đó là sự kiện thật ở nơi thật mà lịch sử có thể chứng minh.

Thánh Luca tiếp tục cho chúng ta thấy kỹ năng viết của một sử gia, chính xác các chi tiết mà chúng ta cần biết về sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết Thánh Giuse và Mẹ Maria cảm thấy thế nào khi không có chỗ trọ, và các ngài vui thế nào khi tìm được cái hang chiên lừa, và khiến chúng ta cũng cảm thấy như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Rất chi tiết. Còn các tác giả Phúc Âm khác không cho chúng ta biết chi tiết như vậy, mà chỉ nói các điểm chính.

* * *

Ngôi Lời hóa thành nhục thể không chỉ là sự kiện một lần trên Thập giá hoặc Thăng thiên. Đức Giêsu Kitô không chỉ đến trong thế gian ở một nơi đặc biệt và vào thời điểm đặc biệt, mà Ngài còn thiết lập Giáo hội là Nhiệm Thể Ngài trên thế gian này. Các cộng đoàn tín hữu sinh sống ở mọi nơi trên hành tinh này – họ là các chi thể của Đức Kitô. Nếu bạn muốn biết Chúa Giêsu như thế nào, hãy vào nhà thờ và nhìn xung quanh bạn.

Hơn nữa, chúng ta còn gặp Đức Kitô hiện thân trong Bí tích Thánh Thể, vì Ngài nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). “Hóa thân” không là điều trừu tượng – đó là điều “cụ thể kỳ diệu” trong đời sống thường nhật của chúng ta. Điều đó không chỉ xảy ra hơn hai ngàn năm trước mà vẫn đang xảy ra từng ngày trong thời đại chúng ta ngày nay.

“Hóa thân” là “hiện thân” của tình yêu hiện hữu trong những điều thực tế mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta. Đó không chỉ vì sự hiểu biết của phàm nhân yếu đuối mà các bí tích đều được cử hành bằng các dấu bề ngoài. Chúa Con đã hóa điều đó nên sự thánh.

Chính trong Thánh Thể, chúng ta thấy sự nuôi dưỡng dành cho tinh thần được mô tả trong dạng sơ đẳng nhất của sự nuôi dưỡng dành cho thân xác. Thiên Chúa vĩnh hằng hiện ra với chúng ta trong dạng tạm thời của bánh và rượu: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:26-28). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta được gợi nhớ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã trở nên xác thịt thực sự để xẻ ra và máu thực sự để đổ ra.

Sự hóa thân đó cho chúng ta cảm thấy niềm vui thực sự thích hợp với lễ Giáng Sinh. Qua sứ vụ của Ngài, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chữa lành các bệnh nhân và làm no thỏa những người đói khát. Ngài yêu thương chúng ta không chỉ để đưa chúng ta về Thiên đàng với Ngài, mà Ngài còn muốn chúng ta tận hưởng hạnh phúc ngay khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta một điều duy nhất là yêu mến Ngài, đồng thời yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Người ta vẫn thấy dấu vết của tình yêu Kitô trong các phong tục cổ và thói quen tặng quà giáng sinh. Việc mua thiệp giáng sinh cũng là sự thôi thúc của Kitô giáo là “trao tặng”, như Chúa Giêsu đã dạy: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35).

Chúa Giêsu luôn thấy điều tốt nơi chúng ta và tha thứ lỗi lầm cho chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta phải làm cho người khác hạnh phúc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều đó hiện thực nơi mỗi chúng ta.

Đây là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta: Chúng ta có thể xác để dùng nó mà thờ lạy Thiên Chúa, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà đem lại sự thuận lợi, an ủi và chữa lành, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác vì mục đích làm vinh danh Thiên Chúa.

Lễ Giáng Sinh chan hòa niềm vui: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Chúa Giêsu sinh ra nơi hang bò lừa hôi tanh cho những gia đình lao động nghèo. Đó là điều vinh dự đích thực. Không gì lý tưởng bằng việc Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Con Thiên Chúa sinh ra theo cách rất ư bình thường, thậm chí còn tệ hơn bình thường. Những người đầu tiên biết Tin Vui này là những mục đồng chăn chiên nghèo khổ, chứ không phải những người cao sang quyền thế hoặc hoàng đế Augustô tại dinh thự ở Rôma, cũng chẳng phải bạo chúa Hêrôđê. Đó là sự kỳ diệu của Ngôi-Lời-Làm-Người: Ngôi Lời thực sự là người như chúng ta.

Câu chuyện giáng sinh là câu chuyện kể về cách mà xác thịt hóa thành thánh thiêng, thân xác được thánh hóa, và niềm vui trần tục trở nên thánh ca chúc tụng Thiên Chúa. Như vậy, lễ Giáng Sinh là lễ dành cho ngũ quan. Chúng ta thích nghe đi nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh mà không chán, và câu chuyện đó vẫn ở mãi trong chúng ta.


(Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com)
(Nguồn : conggiao.info)

Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

NGUỒN GỐC, TÊN GỌI VÀ Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

Đến hẹn lại lên, một mùa Giáng sinh ấm áp nữa lại về. Ngày lễ vào dịp cuối năm này là một trong những sự kiện thu hút nhiều người nhất trên thế giới. Cùng điểm qua nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa các biểu tượng của lễ Giáng sinh để hiểu thêm về mùa lễ đáng yêu này.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 1

Không khí Giáng sinh đang rộn ràng trên khắp thế giới

Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh hay Noel, là một ngày lễ quốc tế kỷ niệm ngày Chúa Jesus sinh ra đời của phần lớn người Kitô giáo.
Theo phần lớn các tín hữu Kitô giáo, Chúa Jesus được sinh tại Bethlehem (Bêlem) thuộc xứ Judea (Giuđêa) nước Do Thái (ngày nay là 1 thành phố của Palestine), lúc bấy giờ thuộc Đế quốc La Mã, khoảng giữa năm 7 TCN và năm 2.
Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12 nhưng thường được mừng từ tối ngày 24 tháng 12 bởi theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm. Lễ chính thức ngày 25 tháng 12 được gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng" và thường thu hút nhiều người tham dự hơn.
Nhiều giáo hội Chính Thống giáo Đông phương như ở Nga, Gruzia vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên lễ Giáng sinh của họ ứng với ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory (còn gọi là tây lịch hay Công lịch).
Theo lịch phụng vụ Công giáo, trước lễ Giáng sinh là 4 tuần Mùa Vọng, và sau lễ Giáng sinh là Mùa Giáng sinh (12 ngày mùa Giáng sinh).
Lễ Giáng sinh là của những người theo đạo Kitô giáo, nhằm kỷ niệm ngày sinh ra của người lãnh đạo tôn giáo mình, người mà họ cho là Thiên Chúa xuống thế làm người.


Nhưng dần dần, theo thời gian và qua các lễ hội của phương Tây, người ta tổ chức lễ Giáng sinh ngày càng linh đình. Kết quả là bây giờ, lễ Giáng sinh được xem là một ngày lễ quốc tế, với ông già Noel, cây Giáng sinh và cây thông Noel.

Lịch sử ra đời Lễ Giáng sinh


Thời kỳ Giáo hội cơ đốc sơ khai (2,3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với lễ Hiễn linh. Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội thánh La tinh thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 2

Trang trí hang đá trong đêm Noel

Theo một nguồn khác thì tín hữu cơ đốc sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Đức Jesus trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ IV, những người Cơ đốc mới bắt đầu muốn ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Jesus mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền La Mã phát hiện và bắt bớ bởi vì đến lúc đó, cơ đốc giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.
Những người La Mã, hàng năm ăn mưng “Thần Mặt trời” (Feast of The SolInvictus) đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Những người cơ đốc đã nhân cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Đức Giêsu giáng sinh vào đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại (Gioan 8:12) cùng một ngày với ngày lễ “Thần Mặt trời” của người La Mã. Nhờ vậy, chính quyền đã không phát hiện việc các tín hữu cơ đốc tổ chức ăn mừng lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine đã bỏ đa thần giáo và theo cơ đốc. Ông này đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng “Thần Mặt trời” và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Jesus. Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Đức Jesus.
Trong nhiều thề kỷ, những nhà ghi chép Ki-tô giáo chấp nhận Giáng sinh là ngày Jesus được sinh ra đời. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày Giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với đông chí ở Bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12.
Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày Giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước người Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ cuối tháng 12.

Tên gọi Christmas


Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 3

Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (bắt nguồn và được viết trong tiếng Hy Lạp là "Χριστός" (Khrīstos)) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos, Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ (Đấng được xức dầu).

Tên gọi Noel


Noel là từ (gọi là Nô-en) là từ tiếng Pháp Noël, dạng cổ hơn là Naël, có gốc từ tiếng Latinh nātālis (diēs) có nghĩa là "(ngày) sinh".
Cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Noel xuất phát từ tước hiệu Emmanuel, tiếng Hebrew nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta", như được chép trong sách Phúc âm Matthew.

Ý nghĩa lễ Giáng sinh


Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chuá, Noël là một ngày lễ gia đình, một ngày đặc quyền để tụ tập quây quần mọi người, mọi thế hệ trong gia đình. Lễ này dưới mọi hình thức được biểu lộ, tạo những kỷ niệm chung và duy trì tình cảm giữa mọi người trong gia đình.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 4

Gia đình quây quần đêm Giáng sinh

Mỗi người tìm được, bằng cách thức riêng của mình, để tạo dựng mối liên hệ: chia sẻ với nhau một bữa ăn chung, một đêm không ngủ, nghe thuật lại một câu chuyện, quây quần bên cạnh cây sa pin Noël… Với địa vị ngày càng lớn lao của trẻ con trong gia đình, ngày Noël trở thành một buổi lễ của trẻ em: một đêm thần diệu mà hầu như tất cả mọi ước nguyện trẻ con được thành sự thật trong sự sung sướng của những người lớn.
Ngày Noel cũng là một thông điệp của hoà bình: ” Vinh danh Thượng Đế trên cao – Bình an cho người dưới thế ”: đây là câu được hát bởi những thiên thần báo tin sự xuất hiện của vị cứu thế và Noël cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn, già yếu…

Ý nghĩa các biểu tượng Giáng sinh


Hang đá
Thường là vào mùa Giáng sinh, một máng cỏ được đặt trong hang đá (hay gỗ) được dựng lên trong nhà hay ngoài trời, với các hình tượng Chúa Giê-su, Mẹ Maria, thánh cả Thánh Giuse (Joseph), xung quanh là các thiên sứ, mục đồng cùng các gia súc như bò, lừa để kể lại sự tích Chúa ra đời trong máng cỏ.
Cây Giáng sinh
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 5

Cây thông Noel

Cây Giáng Sinh là cây xanh thường là cây thông được trang hoàng để trình bày trong dịp lễ Giáng sinh theo phong tục của người Kitô giáo.
Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole (1808 - 1882), một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ John Callcott Horsley (1817 - 1903), một họa sĩ ở Luân Đôn, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 6

Tấm thiệp Giáng sinh

Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
Vòng lá mùa Vọng
Vòng lá mùa Vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy, trong 4 tuần Mùa Vọng. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịpĐông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữuLutheran ở Đức vào năm 1839 với 24 cây nến gồm 20 nến đỏ và 4 nến trắng, cứ mỗi ngày gần Giáng sinh được đốt thêm một cây nến.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 7

Vòng lá mùa Vọng

Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách sự sống vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday). Hoặc 4 cây nến đỏ, cứ mỗi tuần mùa Vọng đốt 1 cây nến.[15]
Ngoài ra, tại phương Tây, thường có một lịch mùa Vọng là một lịch đặc biệt được sử dụng để đếm hoặc kỷ niệm những ngày chờ đợi đến lễ Giáng sinh.
Quà Giáng sinh
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 8

Quà Giáng sinh

Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba nhà thông thái (hay nhà chiêm tinh, theo truyền thống cũng là ba vị vua) từ phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó làvàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng có ý nói Chúa Giêsu là vua, nhũ hương để tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa và mộc dược tiên báo cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giêsu hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Theo truyền thuyết xưa, Ông già Noel thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông Giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc bít tất (vớ).
Ngoài ra, ngày nay ở Việt Nam thì Giáng sinh cũng là dịp để các bạn trẻ có cơ hội gửi cho nhau những món quà, những bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân và bạn bè.
Ngôi sao Giáng sinh
Ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 9

Ngôi sao Giáng sinh

Ngôi sao trong lễ Giáng sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm. Từ các vùng phía đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó, ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và vàng bạc châu báu.
Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng đế. Ngôi Sao Giáng Sinh sẽ là món quà bất ngờ và ý nghĩa trong dịp Giáng Sinh 2014.
Quà tặng trong những chiếc bít tất
Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái trẻ đến tuổi lập gia đình nhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của ba cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi. Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến thế nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Sẽ giúp bạn chọn quà bỏ vào Chiếc Bít Tất trong đêm Giáng Sinh đấy.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 10

Quà tặng trong những chiếc bít tất

Câu chuyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo tất bên lò sưởi để hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được quà nhiều nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất cạnh lò sưởi để nhận quà như mơ ước từ ông già Noel.
Chợ Giáng sinh
Chợ Giáng sinh là một chợ đường phố kiểu truyền thống được tổ chức vào dịp Giáng sinh (thường bắt đầu khoảng 1 tháng trước Lễ Giáng sinh) có nguồn gốc tại vùng đất ngày nay là nước Đức và Đông Bắc nước Pháp.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 11

Khu chợ Giáng sinh ở Jena Đức

Bắt đầu xuất hiện từ cuối thời Thời kỳ Trung Cổ (khoảng thế kỷ 14), cho đến nay chợ Giáng sinh vẫn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Đức, Áo và Đông bắc Pháp trong dịp Giáng sinh cũng như được phổ biến đến nhiều quốc gia khác trên thế giới.

(Nguồn :www.ngaynay.vn)

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

XIN MƯA CỨU CHUỘC



XIN MƯA CỨU CHUỘC

Trời, mây! Xin hãy đổ sương,
mưa Ơn Cứu Chuộc xuống dương thế này!
Trong đêm u tối, đọa đày,
đoàn con nao nức, mong ngày tới mau
như bầy nai khác theo nhau
đi tìm dòng suối ở sau bìa rừng!
Chúa ôi! Xin Chúa hãy dừng
bao cơn thịnh nộ! Xin đừng thẳng tay!
Đoàn con tội lỗi xưa nay,
thành tâm sám hối, chấp tay khẩn cầu!
Tội xô xuống đáy vực sâu!
Nếu Ngài chấp tội, ''Đường'' đâu tìm về?
Ngàn lần cúi lạy Giavê!!!
Mưa Ơn Tha Thứ trăm bề tội khiêng!
Tình Ngài vô lượng, vô biên!
Xin Ngài cởi hết xích xiềng tội nhân!
Giavê là Suối Hồng Ân!
Xin Ngài mau đến cứu Dân lầm đường!
Đất-Trời xe chữ ''Tình Thương''
bằng Lời của Chúa, Quỷ Vương đầu hàng!!!
Bốn Tuần Mùa Vọng ca vang:
Lời Ngài hứa ở Địa Đàng năm xưa...
Đoàn con đấm ngực, xin chừa!!!
Satan quỷ quyệt đang lừa giáo dân!
Xin cho Mục Tử chuyên cần
Sống Lời Chúa dạy: xả thân cứu đời!!!
Cúi xin Thánh Mẫu Chúa Trời
giữ gìn Giáo Hội ở nơi Thế Trần!
Mẹ là Trinh Nữ Hồng Ân
Xin thương Giáo Hội, đỡ đần đoàn con!

Đaminh Phan văn Phước



Kính mời quý Vị nghe ca khúc:
TROI CAO (Lời dưới nốt nhạc và tiếng đờn.)




Xin mời quý Vị nghe thêm Thánh Ca:
Venez divin messie - Bide et Musique (Có Ca Đoàn và lời Thánh Ca.)
VENEZ DIVIN MESSIE : St.Augustin (Theo bản mà tôi thuộc lòng: ''Vous êtes source de vie'', chứ không phải ''Vous êtes notre vie''.)


Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

PHÔ TRƯƠNG


Thỉnh thoảng trong các đám tiệc, người ta vẫn cố rườm rà mọi thứ để nghi lễ thêm phần long trọng. Ai chẳng biết hôm ấy là ngày tân hôn của đôi trai tài gái sắc. MC gân cả cổ để giới thiệu đôi tân lang, tân giai nhân ấy xong với tràng vỗ tay thật mãnh liệt. Rồi anh ta quay qua giới thiệu ông nọ bà kia là đại diện cho hai họ lên có đôi lời chia sẻ. Ông kia bà nọ ấy lại lên lê thê lập lại những lời ban nãy của chính MC nhưng có phần rườm rà và chậm chạp hơn, có thể vì run, cũng có thể vì muốn tỏ ra ta đây cũng biết nói trước công chúng. Người ta lại vì lòng mến mà rào rào vỗ tay. Bỗng lại có một vị mặc comlet giơ tay nói, tôi đây là đại diện cho họ đàng gái, vì lúc nãy là đại diện cho họ đàng trai thôi chứ không phải là đại diện chung như mọi người nãy giờ lầm tưởng đâu. Vị ấy lại đằng hắng dăm bảy lần rồi mới phát biểu rất linh tinh và rất chi tiết về mọi sự mà mọi người đã nghe chán cả tai suốt nãy giờ. Thỉnh thoảng có tiếng “dzô” của các thực khách chờ mãi chưa có miếng ăn, nên sốt ruột mà tợp vài ngụm bia cho đỡ…khát. Khi vị ấy xốc lại cái áo vest để kết thúc bài văn nói não nùng, thì mọi người vui mừng mà vỗ tay rần trời!
Có lẽ, các vị lắm điều ấy rất thích những tiếng vỗ tay chan chát ấy. Nhưng quả là, trong đám thực khách dưới kia, chẳng ít người nghiến ngẩm một mình, đủ để người bên cạnh nghe:
_Đã nói dở, lại nói dài nói dai…
Đừng tưởng việc ấy chỉ xảy ra ở các đám tiệc bình thường! Ngay trong buổi họp mặt, tiệc tùng nhân dịp lễ gì đó, người ta vẫn thấy ông A, bà B cứ lăng xăng với các phát biểu lập đi lập lại như chiếc máy hát cà lăm, nói về ý nghĩa của ngày lễ hôm ấy. Cái ý nghĩa ấy đã được Linh Mục quản xứ nhắc nhở trước Thánh Lễ để mọi người biết một cách súc tích và rõ ràng trên giàn loa trong trẻo. Rồi đến cuối lễ, người đại diện của cộng đoàn xin lễ hôm ấy có đôi lời phát biểu để tri ân và cảm tạ. Nếu ông, bà ấy cứ đơn sơ mà tỏ lòng biết ơn với Cha Chính Xứ cùng cộng đoàn thì chẳng có gì để phải đàm với tiếu! Nhưng để cho mọi sự có vẻ trịnh trọng, thì lại có ông bà nào hay nói dai nói dài và nói cho mọi người biết rằng ta đây ăn nói rất hay và nếu ta không nói thì làm sao biết ta hay cỡ nào. Ông, bà ấy lại nhắc lại ý nghĩa ngày lễ mà mọi người đã thuộc như hai với hai là bốn, rồi giới thiệu một quan chức, viên chức, hay vân vân chức gì đó có khi bé tí tì ti, lên có đôi lời cảm tạ và tri ân. Bà, ông ấy còn xin cộng đoàn một tràng vỗ tay. Ừ thì vỗ dù sốt cả ruột lên với cái lê thê phù phiếm! Đến lượt, vị đại diện ấy lại nói những lời chưa nghe đã biết, đến nỗi có tiếng thở dài đâu đó trong không gian…
Trong khi các hậu duệ cứ cố nổi đình nổi đám như thế, thì Ông Gio an lại khiêm tốn đến mức lạ lùng. Mặc cho mọi người tung hô, ca tụng Ông, Ông vẫn luôn khẳng định với mọi người đến với Ông vì lầm tưởng Ông là Đấng Thiên Sai rằng, tôi còn không xứng đáng cởi giây giày cho Ngài nữa kìa!
Ông chỉ muốn mình nhỏ đi hết sức, để hình ảnh Chúa là hình ảnh đích thực, được sáng rỡ trước mọi người, dù chính Chúa của Ông thốt ra: “…trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gio an Tẩy Giả…”
Tiền nhân cứ muốn bé đi, mà hậu duệ cứ cố phô bày mình ra, cứ như thế giới này không có ta thì mọi người đều…tăm tối!
 Ôi, một chiếc đèn đầy dầu thì luôn sáng rỡ, cần gì phải dán vào thân đèn dòng chữ thừa thãi: “Đây là cây đèn”!
Hay chiếc đèn ấy muốn ngầm tỏ cho mọi người thêm cái đuôi, ý là : “Ta là cây đèn thần A la đin!”
                                                                                                                 LAM TRẦN 12.12.2015 

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA MÙA VỌNG .


Bốn tuần ''trước Lễ Giáng Sinh'' được gọi bằng tiếng Latinh, Anh, Đức, Pháp là ''Adventus, Advent, Avent''.

I. Nguyên nghĩa của chữ ''Adventus''
Giáo Hội dịch danh từ Hylạp παρουσία (''parousia'' có nghĩa là ''ĐẾN'') sang chữ Latinh là ''Adventus'' do động từ ''advenire: đến'' (1) có quá khứ phân từ (past participle) là ''adventum'': ĐÃ ĐẾN! Người Đức và Anh bỏ âm /us/ của ''adventus'' để có danh từ ''Advent, advent''. Người Pháp cũng vậy, còn bỏ mẫu tự ''d'' để có chữ ''avent''. Tuy nhiên, họ vẫn giữ lại mẫu tự ấy trong câu tục ngữ ''Advienne que pourra'' và cách nói thông dụng ''quoiqu'il advienne'' (dù xảy ĐẾN thế nào chăng nữa) như trong bài ca ''Oui Devant Dieu'' (Ngày Thành Hôn). Sau này, trong tiếng Pháp, có chữ ''avenir'' là lược từ (ellipse) của thành ngữ ''temps à venir'' là tương lai: futur.
Bài Thánh Ca ''Il est né le divin Enfant'' có câu: ''Chantons tous son avènement!'', xin tạm dịch: ''Tất cả chúng ta hãy ca khen việc Ngài ĐẾNgiáng thếgiáng trầnlên ngôi vua!'' như lời Thiên Sứ báo cho Trinh Nữ: ''Ngài sẽ ngự trị trên nhà Giacob đến muôn đời và vương quyền của Ngài sẽ vô tận.'' (Luca 1,33) Danh từ ''avènement'' do động từ cổ ''avenir'' đồng nghĩa với ''venir'': ĐẾN.

II. Ý nghĩa chữ VỌNG trong tiếng Việt giúp hiểu thêm Mầu Nhiệm của Mùa Vọng
''Vọng'' là ''nhìn, hướng lòng về, tin tưởng, TRÔNG CHỜ''. Ví dụ: danh vọng (2) viễn vọng kính; vọng về quê cũ; bài ca vọng cổ; Hòn Vọng Phu; thờ vọng Đức Thánh Trần; Nhiều làng ''vọng tế'' vị thần...; đền thờ vọng Liễu Hạnh ở Hà Nội; đặt hy vọng vào tuổi trẻ là rường cột của Quốc Gia; hy vọng có ngày gặp lại nhau; hết hy vọng rồi!...Chữ ''vọng'' còn có nghĩa ''ĐẾN từ xa, từ nơi khác'', chẳng hạn: Tiếng chày giã gạo từ đầu thôn vọng lại; Đứng ngoài sân, nói vọng vào.

III. Ý nghĩa MÙA VỌNG của Giáo Hội
Là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu và là Hiền Mẫu noi gương MẸ của Chúa Cứu Thế, để luôn sống các Mầu Nhiệm của Ngài mà Đỉnh Cao là Phục Sinh, Giáo Hội gọi Mùa Vọng là ''khởi điểm'' của Năm Phụng Vụ. Mùa Vọng 2012 bắt đầu vào Chúa Nhật, 02.12. Đức Giáo Hoàng nêu lên ý nghĩa của Mùa Vọng là: sự HIỆN DIỆN, VIẾNG THĂM, TRÔNG ĐỢI. Mùa Vọng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa vẫn Ở ĐÓ, Ngài không rời bỏ thế gian, mà Ngài ĐẾN VIẾNG THĂM chúng ta bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta, dù đang bận rộn bởi bao sinh hoạt, được Mùa Vọng mời gọi tạm dừng lại trong thinh lặng để NHẬN BIẾT rõ ràng sự HIỆN DIỆN của Thiên Chúa.''

IV. Suy gẫm về lời dạy của Vị Cha Chung
A. Sự hiện diện
Thiên Chúa Ngôi Hai đã ĐẾN trong cung lòng Trinh Nữ Maria. Ngài lại Ở GIỮA CHÚNG TA (EMMANUEL) như lời xác tín của Thánh Gioan: ''Ngài đã ĐẾN nơi nhà của Ngài, nhưng (và) người nhà đã không tiếp nhận Ngài... Lời đã trở thành xác phàm và CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TÔI và chúng tôi được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang của Con Một từ nơi Cha...''
B. Sự hiện diện của Ngài hôm nay
Đức Thánh Cha xác tín: ''Thiên Chúa vẫn Ở ĐÓ!'' Thật vậy, như đã hứa trước khi về Trời, Ngài ''ở lại'' với chúng ta mọi ngày, trong Thánh Lễ, nơi Nhà Tạm, bằng Tình Yêu Quan Phòng, qua Vũ Trụ chứng minh có Ngài là Lời Vĩnh Hằng dựng nên mọi sự như lời chúc tụng trong Thánh Lễ: ''Trời và đất đầy vinh quang Chúa!'' (Pleni sunt caeli et terra gloria tua!)
C. Sự hiện diện của Ngài trong nhân loại
Con người được dựng nên theo Hình Ảnh của Thiên Chúa! (Sáng Thế Ký 1,26) Chính vì thế, Thánh Phaolô dạy: ''Adam thứ nhất được dựng nên bởi ADAM THỨ HAI, từ Ngài ông ta NHẬN được linh hồn mà sống.'' Là Kitô hữu, tôi MẶC LẤY Chúa Kitô như Thánh Phaolô cũng đã xác tín: ''Tôi sống VÌ Chúa sống TRONG tôi.'' Khi xứng đáng rước Mình Thánh Chúa, tôi có Ngài HIỆN DIỆN trong lòng là điều hết sức cảm động như Linh Mục Nguyễn Văn Thích viết nhạc: ''Chúa Thiên Đàng NGỰ GIỮA lòng tôi! Phước phận này sao đáng, Chúa ôi! Kìa chín trời còn đang chật hẹp, huống chi nữa chút phận bèo trôi!'' Ngoài ra, Chúa Giêsu còn HIỆN DIỆN sống động trong những ''NGƯỜI-KHỐN-KHỔ-NHƯ-NGÀI'' bởi Ngài đã phán: ''Vì xưa Ta đói, mà các con đã CHO Ta ăn, Ta khát, mà các con đã CHO Ta uống...'' (Matth. 25,35)
D. Sự viếng thăm
Trong Cựu Ước, ''Thiên Chúa vô hình'' VIẾNG THĂM dân Ngài để nhìn thấy cảnh khổ cực của họ ở Aicập... Còn trong Tân Ước, Thiên Chúa là ''Lời nhập Thể và nhập Thế'' ngõ hầu được GẦN GŨI nhân loại và diễn nghĩa sống động của TÌNH YÊU CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA như trong Tin Mừng theo Thánh Luca 7,16: ''Mọi người kinh hãi và tôn vinh Thiên Chúa: Một ngôn sứ vĩ đại đã XUẤT HIỆN giữa chúng ta vì Thiên Chúa đã VIẾNG THĂM dân Ngài." Chúa Giêsu cũng phán: ''Ta ở tù, mà các con đã VIẾNG THĂM Ta.'' Sau Thiên-Chúa-Tình-Yêu, Mẹ Maria là Gương Mẫu của Đức ''thương người''! Thật vậy, được Thiên Sứ VIẾNG THĂM theo lệnh Thiên Chúa, sau khi hiểu rõ lý do là CỨU DÂN, Trinh Nữ liền ''xin vâng'' để, nơi Nàng, thành sự Giao Ước Mới, qua đó, Thiên Chúa Ba Ngôi đã VIẾNG THĂM Nàng như trong Luca 1,35. Vừa được cưu mang Thai Nhi Giêsu, Trinh Nữ đã nhanh chân lặn lội lên miền sơn cước, ''đem'' CHÚA ĐẾN THĂM bà Êlidabet và Gioan Tiền Hô mới được sáu tháng trong bụng bà ấy. Mẹ tạo cơ hội cho CHÚA Ở ĐÓ chừng ba tháng! Trong hang chiên lừa, Mẹ và Dưỡng Phụ Giuse tiếp đón mục đồng và ba nhà chiêm tinh ĐẾN THỜ LẠY Chúa Hài Nhi. Cuộc đời Chúa Cứu Thế là ngày, tháng, năm dài của sự VIẾNG THĂM biết bao nhiêu người qua những lần Ngài TIẾP XÚC với họ. Như thế, Mẹ Maria là Đấng Cộng Tác vào Kế Hoạch Cứu Rỗi của Thiên Chúa bởi vì Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng Chúa Giêsu.
E. Sự trông đợi
Trinh Nữ là ''Gạch Nối'' giữa Tân Ước và Cựu Ước vì Mẹ là Gương Mẫu của sự TRÔNG ĐỢI CHÚA ĐẾN. Chẳng những TRÔNG ĐỢI, Mẹ còn là CUNG ĐIỆN HỒNG ÂN để Thiên Chúa NGỰ ĐẾN. ''Có Mẹ, nhờ Mẹ, cùng Mẹ'' trong đời như ở tiệc cưới Cana, bên Thánh Giá và trên ''Lầu TRÔNG ĐỢI Thánh Linh'', hôm nay, Giáo Hội dạy người tin: ''ĐẾN với Chúa Giêsu qua Mẹ Maria.'' (AD IESUM PER MARIAM)
Tân Ước không ghi lại ba mươi năm Chúa Giêsu sống với Mẹ, mà chỉ kể sơ lược, vỏn vẹn vài sự kiện, chẳng hạn việc Chúa sinh ra, Mẹ dâng Ngài vào Đền Thánh, hai Ông Bà lạc mất Ngài. Tuy nhiên, Tân Ước cũng nhắc tới sự TRÔNG ĐỢI của Tiên Tri Ximêon và của nữ Tiên Tri Anna. Hai Vị này là biểu tượng cho Dân Chúa trong Cựu Ước và Dân Mới của Ngài là Giáo Hội hôm nay. Hơn thế nữa, theo Lời Chúa trối: ''Này là Mẹ con! Này là con Bà!'', Mẹ được Thánh Gioan RƯỚC VỀ nhà của Ông, tức Bà là Mẹ của Giáo Hội. Cho nên, trong suốt bốn mươi ngày TRÔNG ĐỢI Thánh Linh, Mẹ đã cận kề bên CON CỦA MẸ là GIÁO HỘI TIÊN KHỞI để, ''qua Mẹ, với Mẹ, bên Mẹ'', họ thấy vững tâm ''trong lúc TRÔNG ĐỢI Chúa Thánh Thần ĐẾN''!

V. Kết luận
SỐNG Mùa Vọng là THỰC HÀNH các Đức: Tin, Cậy, Mến như câu đọc trong Thánh Lễ: ''Con tuyên xưng: Chúa đã chết đi. Con tuyên xưng: Ngài đã sống lại. Trong VINH QUANG, mai Ngài lại ĐẾN, đón chúng con lên Trời, về với Chúa Cha.'' Không chỉ là trông chờ Mùa Giáng Sinh, mà trong từng ''lúc, ngày, đêm'' và cả đời xin Chúa ''Ở LẠI trong tôi, ĐẾN với người khác'' trước khi Ngài ĐẾN LẠI để xét xử toàn thể nhân loại. Giờ chết sẽ ĐẾN nên tôi phải năng ĐẾN với Chúa vì Ngài cũng chờ tôi ĐẾN. Venite adoremus Dominum: Hãy ĐẾN thờ lạy Chúa.

Đaminh Phan văn Phước


1. Ad (tại, nơi, ở, đến) được dùng làm ''tiếp đầu ngữ'' (prefix). Nó còn biến âm sang tiếng Pháp là ''à'' và tiếng Anh là ''at''. Cả hai là giới từ (prepositions) dùng trước danh từ chỉ nơi chốn, chẳng hạn: arriver à l'aéroport; arrive at the airport: đến (tại) phi trường.
2. Kinh cầu trong Mùa Giáng Sinh có câu: ''Hài Đồng là Danh VỌNG Đức Mẹ.'' Chữ ''vọng'' có nghĩa: ''được người ta ngửa mặt trông lên'' vì danh giá của mình.