Thứ Ba, 22 tháng 12, 2015

VÀO "MÙA GIÁNG SINH", NGHĨ TỚI "VIỆC SÁT SINH"...

                                                  gioitre_ngocho (11)
I- Lời giới thiệu:
Hồi còn nhỏ, vào Mùa Giáng Sinh, ở trong gia đình, tôi cùng đọc mỗi ngày ''Kinh cầu Đức Chúa Giêsu Hài Đồng'' có câu thế này: ''Hài Đồng là phần rỗi các Thánh Anh Hài.'' khiến tôi nghĩ tới việc vua Hêrôđê tàn ác, cho lính tráng đi giết các em bé (sinh tại Bêlem và vùng phụ cận) từ hai tuổi trở xuống vì ông ta biết rằng ''Vua Dothái'' (Đấng Cứu Thế) vừa mới sinh ra!
Vì thế, đến bây giờ, mỗi lần ''nghe, đọc, viết'' hàng chữ ''Chúc mừng Giáng Sinh. Merry Christmas. Joyeux Noël...'', tôi cũng nghĩ đến SỰ SỐNG là Thiên Ân được ban cho loài người và Thánh Ca bằng tiếng Latinh ''Puer natus est nobis, et Filius datus est nobis.'' (Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta, và một Con Trai được TẶNG cho chúng ta.)
Với ''tâm tình biết Ơn'' Thiên Chúa là TÁC GIẢ của sự sống, tôi kính mời Bà Con đọc bài viết sau đây:
Cảm nghiệm (của người lấy bút hiệu ''Tom'' ở Úc) về công trình tạo dựng của Thiên Chúa tuyệt vời biết bao, về hạnh phúc được làm ÔNG NGOẠI và về nỗi kinh hoàng khi nhìn tủ đông lạnh đầy ắp những thai nhi bị giết, những nghĩa trang hài nhi vô tội.
Người giới thiệu: Phan văn Phước


II- Bài viết:
ÔNG NGOẠI
Tôi muốn chia sẻ tới các Anh Chị một NIỀM VUI thật lớn: tôi mới được làm Ông Ngoại. Trước đây, nhìn bạn bè có cháu nội, cháu ngoại đem khoe, mà thèm thuồng lẫn ghen tị! Hình ảnh ông dắt cháu đi chơi trong buổi chiều tà cũng ĐẸP và NÊN THƠ quá đi chứ.
Cuộc đời tôi có nhiều thiệt thòi vì thiếu vắng một số loại tình cảm: tình cha-con và tình ông-cháu.
Bố chết lúc tôi còn bé tí teo, mà cũng chỉ gần bố được thời gian quá ngắn. Lúc đó, tuy chẳng biết gì, nhưng chắc chắn tôi vẫn cảm nhận được tình cảm sâu đậm của bố. Tiếc rằng cái cảm nhận đó chỉ mang tính thiêng liêng, không dấu ấn cụ thể để góp phần xây dựng tình cảm cho cuộc đời mình.
Riêng về phần ông bà thì các cụ cả nội, lẫn ngoại đã lìa trần khi tôi chưa chào đời, thậm chí đến giờ vẫn chưa được một lần viếng mộ phần của các ngài. Đã đôi lần tôi được trở về thăm quê cha đất tổ, nhưng, vì thời gian quá lâu, không người chăm sóc, bây giờ, không sao tìm ra các mộ được. Đành viếng chung trong khu nghĩa trang vậy. Không được chung sống, không gần gũi thăm viếng mộ phần và khoảng cách không gian thời gian quá xa khiến tôi gần như không nghĩ gì đến các ông bà. Có chăng chỉ là CẦU NGUYỆN chung cho ông bà, tổ tiên.
Thiếu vắng tình cha-con và tình ông-cháu, tôi cố tự BÙ ĐẮP cho mình trong vai trò là người bố và người ông. Gần ba mươi bốn năm qua, đã có được tâm tình của người bố và cảm nhận phần nào tâm tình của con với bố. Từ cảm nghiệm đó, tôi mong đợi có cháu ĐỂ ĐƯỢC làm ông và CÓ ĐƯỢC tình cảm ông-cháu. Hơn nữa, thú thật tôi rất thích trẻ thơ nên, khi cháu chào đời, tôi vui biết là chừng nào.
Đến bệnh viện thăm cháu, tôi được ƯU TIÊN ẵm bồng cháu ngay. Ôm cháu trong lòng, tôi vui mừng và đầy cảm xúc.
Ngắm nhìn cháu ngủ, tôi CẢM NGHIỆM công trình tạo dựng của Thiên Chúa tuyệt vời biết bao. Cháu nằm ngủ bình an như một thiên thần nhỏ bé. Cháu ĐÚNG LÀ một tác phẩm cao đẹp được tạo dựng theo Hình Ảnh của Thiên Chúa, được Thiên Chúa yêu thương và quan phòng. Tôi tạ ơn Chúa đã thương giúp con và cháu của tôi trải qua được những khó khăn để rồi, giờ đây, được coi như ''mẹ tròn con vuông'', mọi sự ổn định.
Khi bước vào khu sản khoa của bệnh viện và nhất là lúc này, tôi nhớ đến lời Thiên Chúa chúc phúc: ''Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất, làm bá chủ và thống trị mọi loài.'' (St 1, 28). Lời chúc lành của Thiên Chúa là DẤU CHỈ của tình yêu và sự quảng đại của Ngài. Đó là ÂN HUỆ hứa ban khả năng truyền sinh, ước nguyện và lời hứa của Thiên Chúa được triển nở dồi dào nơi các đôi vợ chồng. Thiên Chúa đã CHIA SẺ quyền năng của Ngài cho con người trong công việc đồng sáng tạo. Ngoài dáng dấp của tạo vật, con người CÒN MANG dáng dấp của Thần Linh, ĐƯỢC thổi luồng SINH KHÍ của Thiên Chúa, ĐƯỢC chia sẻ sự sống và quyền năng của Thiên Chúa.

Tôi tạ ơn Chúa đã ban cho con người những tình cảm, NHẤT LÀ những tình cảm trong gia đình để đời sống con người ĐƯỢC hạnh phúc và gắn bó.

- ''Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.''
- ''Thương mẹ, nhớ cha như kim châm vào dạ,
Nghĩ đến chừng nào, lụy hạ tuôn rơi.''
- ''Anh em như thể tay chân
Anh em hòa thuận hai thân vui vầy.''
- ''Con ai là chẳng giống cha
Cháu ai là chẳng giống bà, giống ông.''
- ''Ngó lên nuộc lạt mái nhà
Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu.''

Tôi cũng tạ ơn Chúa đã cho cháu tôi sinh ra trong một nước an bình, GIẦU TÌNH THƯƠNG, nơi có nền an sinh tốt đẹp, các con trẻ ĐƯỢC quan tâm đúng mức để phát triển. Tôi ước mong cháu tôi sau này sẽ sống xứng đáng với HỒNG ÂN này, và sẽ cùng CỘNG TÁC với cộng đồng để xây dựng đời sống con người mỗi ngày tươi đẹp và có ý nghĩa hơn. Mấy người quen nói cháu tôi sinh ra bị dây nhau cuốn cổ là dấu hiệu đứa trẻ đặc biệt! Tôi không mong cháu đặc biệt, nhưng hãy là bình thường. Bình thường như là con người ĐÍCH THỰC.
Ngồi ôm cháu trong bình yên và hạnh phúc, tôi lại tưởng nhớ và cầu nguyện cho những thai nhi BỊ GIẾT oan uổng và đau thương ở Việt Nam. Đây là những mầm sống bất hạnh không có cơ hội để GÓP MẶT VỚI ĐỜI.
Trong mười năm vừa qua, khi về Việt Nam ''trốn lạnh'', hầu như đến bất cứ tỉnh hay thành phố nào, tôi cũng nghe nói tới những nhóm Bảo Vệ Sự Sống và những nghĩa trang chôn cất các thai nhi VÔ TỘI. Tôi cũng tận dụng cơ hội và đi thăm nhiều nghĩa trang  này.
Tôi đã được Cha Nguyễn Văn Đông đưa đi thăm nghĩa trang Đồng Nhi nằm trong nghĩa địa rộng lớn của thành phố Pleiku ''quanh năm mùa đông''. Tấm biển ngay đầu nghĩa trang với những dòng chữ như lời khẩn cầu tha thiết: ''Xin ĐỪNG vất bỏ, vùi lấp chúng con. Hãy CHO chúng con có nơi yên nghỉ!'' Có đến hơn 15.000 thai nhi được mai táng nơi đây và phần lớn các nấm mồ hài nhi đều mang tên ''vô danh'' Những cái tên hiếm hoi như ''bé Trung Thu, bé Noel, bé Giáng Sinh...'' được khắc để ghi nhớ ngày các cháu MẤT ĐI quyền được sống. Tuy bị cha mẹ ruồng bỏ, giấc ngủ vĩnh hằng của các cháu đã ĐƯỢC nâng niu bởi những ân nhân thầm lặng, lập mộ và chăm sóc. Tôi nhìn thấy có nhiều người đến thăm và hương khói. Các cháu hẳn đã ĐƯỢC an ủi phần nào KHI nhận được tình yêu thương từ những người XA LẠ. Tiếc là tôi chưa có cơ hội thăm nhiều nghĩa trang Thai Nhi khác nữa ở nơi đây.
Tôi cũng đã thăm nghĩa trang ANH HÀI tại làng Hương Hồ, tỉnh Thừa Thiên-Huế, một nghĩa trang lặng lẽ, ẩn mình sâu thẳm bên dòng sông Hương, nép kín trên sườn đồi. Nép kín NHƯ muốn giấu đi một dã tâm đen tối CỦA những người cha, người mẹ đối xử nghiệt ngã với con. Dù đã được nghe kể, nhưng, KHI tận mắt chứng kiến, tôi thực sự BỊ choáng ngợp và lòng QUẶN ĐAU trước thực tế phũ phàng. Gần 50 ngàn hài nhi BỊ cha mẹ bỏ rơi từ khi chưa lọt lòng, hiện đang yên nghỉ nơi đây. Cả hàng vạn ngôi mộ được quét sơn trắng nằm ngay ngắn, thẳng hàng khắp vùng đồi núi rộng lớn. Tất cả các ngôi mộ đều không có tên, chỉ ghi ngày tháng năm sinh trên cây Thánh Giá cắm ở đầu mộ. Chả trách nơi đây cũng có nhiều dòng thơ than khóc, trách cha mẹ viết trên những bia đá khiến người đọc phải lặng người...
Tôi có cái duyên quen biết với anh Tống Phước Phúc, ở đường Phương Sài, Nha Trang. Năm 2004, anh đưa vợ đến bệnh viện sinh đứa con đầu lòng. Tại đây, anh CHỨNG KIẾN nhiều cô gái trẻ xếp hàng trước khoa sản, CHỜ phá thai. Hình ảnh đó ÁM ẢNH anh mãi, anh nảy sinh ý định xin những xác thai nhi về CHÔN CẤT. Đến nay, anh đã chôn cất hơn 10.000 hài nhi trên triền núi Hòn Thơm hay còn gọi là Hòn Nghê. Đây là khu đất rộng 6.000 m2 được anh mua lại làm chỗ AN NGHỈ cho hài nhi. Trước đây, khu vực nghĩa trang này toàn núi đá. Do có nghề xây dựng nên anh đã tự tay khai thác đá núi để có phần đất dành cho những hài nhi xấu số. Sau chiếc cổng đơn sơ, hơn 10.000 ngôi mộ bé xíu xếp thành từng dãy dài nằm sát nhau, trên mỗi mộ đều cắm một bông hoa hồng bằng nhựa nhiều màu sắc. Hơn chục nghìn ngôi mộ mà hầu hết đều vô danh, chỉ có số thứ tự, ngày tháng lập mộ và một số ký hiệu riêng. Những cái tên hiếm hoi như Tống Phước Xuân Tâm, Tống Phước Đắk Lắk, Tống Phước Ninh Hòa, Tống Phước Cam Ranh, Tống Phước Long An, Tống Phước Cao Bằng... để ghi nhớ về quê hương CỦA MẸ ĐẺ. (Người đọc xin phép ghi thêm: chẳng đẻ, chẳng sinh thành, chẳng muốn làm mẹ của thai nhi đã BỊ GIẾT.)
Nghĩa trang thai nhi Hòn Thơm nằm cô quạnh giữa lưng chừng núi, quay mặt về phía thành phố Nha Trang. Nghĩa trang này còn được gọi bằng những cái tên như nghĩa trang Hoa Hồng, nghĩa trang Vô Danh... Đến đây, tôi cảm nhận được sự bình an hơn, lòng ít quặn đau. Nơi đây không có những vần thơ oán trách não lòng, nhưng có tấm bảng ghi chữ ''BỐ MẸ XIN LỖI CON''...
Tôi còn thăm nhiều nghĩa trang những nơi khác nữa, nhưng có lẽ shock nhất là khi đến Thái Nguyên, Bắc Việt. Vì là thành phố kỹ nghệ và nhiều trường Đại học, Cao đẳng, có nhiều thành phần thanh niên nam nữ ở đây nên nạn phá thai cũng thật kinh hoàng.
Không kinh hoàng sao được khi nhìn thấy một freezer đầy ắp những thai nhi bị giết bỏ để trong từng bọc ni lông, dù nhóm mới chỉ được thu gom một ít chỗ và chưa đầy một tuần, chờ đến ngày được khâm liệm và chôn cất!
Đọc trong các thống kê về nạn phá thai ở Việt Nam, tôi đã rùng mình, nhưng tôi tin thực tế còn hơn thế nhiều. Tôi tin sự nhận xét của Cha Lê Quang Uy, người dấn thân trong công tác bảo vệ sự sống trong nhiều năm qua, có nhiều cái nhìn cụ thể. Cha cho rằng các con số thống kê là không đúng, cần xét lại. Cha nói Việt Nam phải có hơn ba triệu ca phá thai mỗi năm trong khi con số nhà nước đưa ra chỉ hơn một triệu.
NGẮM nhìn cháu ngủ, CÀNG thấy thương quá những thai nhi vô tội. NẾU không bị giết bỏ, các cháu CŨNG sẽ được an bình trong vòng tay yêu thương của những người thân yêu. Các cháu bị giết đi, làm biết bao người MẤT MỘNG làm Ông Ngoại!
Tôi nỗ lực cầu nguyện và cố làm được những gì trong khả năng để nhiều người KHÔNG bị mất quyền làm Ông Ngoại, cũng như những người ông ''KHÔNG là cớ'' cho cháu mình bị giết đi. Tôi nguyện sẽ cố gắng là Ông Ngoại tốt.
Tôi cũng cám ơn con gái đã tặng tôi món quà mừng Father's Day rất ý nghĩa, dù hơi sớm một tí. Và trên hết mọi sự, tôi tạ ơn Chúa hết lòng. Tạ ơn vì Chúa thương ông-cháu tôi, đã ''chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con ĐƯỢC làm người, cùng hằng gìn giữ con hằng CHE CHỞ con…''
Tom

NHỮNG ĐIỀU ƯỚC XÚC ĐỘNG LÒNG NGƯỜI CỦA TRẺ GỬI ÔNG GIÀ NOEL


Cây thông biểu tượng của lễ Giáng sinh đính đầy nguyện ước đơn sơ của các em thiếu nhi. 
Ảnh: TT.  (giadinh.vnexpress.net)




(congluan.vn)
Xin ông già Noel cho bố nghỉ  làm việc ở Thiên Đường và mẹ nghỉ quét rác đưa đi coi thú .

"Hạnh phúc và sự ấm áp hiện diện ngay bên cạnh mình, đó là gia đình. Đôi khi mải mê với những thứ khác cuốn hút hơn ta quên đi nơi ta đáng ra phải tìm về này. Gia đình là số 1,là tất cả. Cảm ơn bức thư của em đã khiến mọi người nhận ra điều đó"  (một dân mạng  xaluan.com bình luận).



Bức thư gửi ông già Noel mong mẹ khỏi bệnh

(congluan.vn)



Một bức thư cảm động gửi Chúa Hài Đồng trong đêm Giáng sinh (xin được giấu tên của em).
Ảnh: TT.  (giadinh.vnexpress.net)




Bức thư với những dòng viết nguệch ngoạc của cậu bé lớp 1 khiến người đọc không khỏi xúc động
(soha.vn)


Bức thư cảm động nhất là mong ước ông già Noel mang anh về: "Cháu vừa vào nam dự kỷ niệm 1 năm ngày mất của anh Duy (con trai dì Ba). Anh rất đẹp trai và yêu thương cháu. Cháu muốn một món quà nho nhỏ đó là ông mang anh Duy về cho dì Ba của cháu vì dì rất buồn và nhớ anh Duy".
(eva.vn)


Bức thư giành giải nhất khối 1 với điều ước có một chiếc xe lăn tự động cho bà bị bại liệt.
(eva.vn)


Học sinh này đã viết những lời xúc động: "Ông già Noel ơi, cháu ước mình như là một ngọn lửa , sưởi ấm cho các bạn nhỏ " đang phải mưu sinh trong giá lạnh...
(eva.net)





Thứ Hai, 21 tháng 12, 2015

TẤM CHĂN BÔNG


Trời vừa trở lạnh. Chẳng gì vui thú cho bằng ẩn mình trong tấm chăn, rồi mặc cho đôi mắt muốn ngủ thì ngủ, muốn nghĩ ngợi gì đó tùy thích, hay hai tay cứ bấm bấm trên chiếc điện thoại mà tìm cái gì đó vừa mắt và vừa ý mình.
Giờ này mà có ai gõ cửa, hẳn sẽ cảm thấy bực mình khi người đến nhà hóa ra là ai đó chìa tờ giấy chi chít với những giòng chữ yêu cầu khai báo nhân khẩu,  hay những thứ linh tinh gì đó. Cho dù người “tổ trưởng” có nở nụ cười lấy lòng, thì xem ra sự phá giấc ngủ của ông ấy, bà ấy, cô ấy… quả là một lỗi lầm khó có thể thứ tha. Lại còn cái “đám” ăn theo: Nào là lời lẵng nhẵng của ai đó, mua giùm tấm vé số đi anh chị! hay, Cho tui xin mấy đồng cơm trưa đi anh! Hoặc, ông ơi, đường nào ra Thủ Thiêm vậy?
Điên tiết, câu trả lời nếu không:
_Ơ! Bộ mày không biết đây là ngã tư Bảy Hiền à! Mà từ đây ra tới Thủ Thiêm thì xa lắm, làm sao mà tao chỉ được!
Thì cũng:
_Tụi mày sao ngày nào cũng số với số, làm như là mua số của chúng mày là lập tức trúng độc đắc không bằng!
Hoặc…ọ ẹ:
_Khai gì mà khai hoài vậy! Thôi để tối…Hay mai đi! Ờ mà…tuần sau tui sẽ khai cho…mấy chữ nhé!
Có lẽ, cô tổ trưởng sẽ tảng hồn rồi khẽ “nghiêng mình” ra về mà không dám nói thêm dù chỉ là một lời, vì cô sợ làm phiền chủ nhà nhăn nhăn nhó nhó kia quá! Có lẽ, cậu bé bán vé số sẽ lẩm bẩm chán quá, từ sáng tới giờ mà chưa bán được vé nào! Có lẽ, bà già ăn xin sụp lại chiếc nón rách mà lẩn thẩn bước đi, lòng ngao ngán cho phận mình bạc số! Có lẽ…
Một chút gió mùa đông đã làm ta chẳng nhớ ra chính Đức Giê su đang hỏi đường ta ra Thủ Thiêm! Biết đâu chính Chúa đã hóa thân ra người đạp xe đạp ấy lại tiếp tục gò lưng trên suốt con đường mà chẳng dám hỏi thăm bất cứ ai, mà chỉ chăm chăm vào những bảng chỉ đường để đến nỗi chẳng bao giờ đến đúng nơi cần đến!
Một chút tiếc nuối tấm chăn bông mà ta đã nỡ lòng đuổi xua người ăn xin hè phố, khiến chút cà phê sáng của ta đáng lẽ thành bữa cơm trưa cho người ấy, đã tan bay theo giấc ngủ bị…phá đám giữa chừng!
Một chút kênh kiệu đã làm ta quên rằng chính Chúa đang hiện diện nơi mọi người tìm đến ta vì lầm tưởng ta là người đầy nhân tính…
Ấy vậy, mà ta sẵn sàng rảo khắp phố phường để nhìn thấy những rực rỡ của muôn đèn sao lấp lánh! Ấy vậy mà nhà ta ra rả cả tháng trời những bài hát mượt mà cho một đêm đông muôn đời đáng ghi nhớ:
“Đêm đông lạnh lẽo, Chúa sinh sa đời nằm trong hang đá, nơi máng lừa…”
Ta quên rằng Chúa đang lạnh lẽo, mà khắc ghi mồn một những cảnh trí Noel đầy sắc mầu! Ta quên Chúa chẳng có nhà, mà ta cố để đừng quên nhưng cuộc hẹn tưng bừng phải có…nhân ngày Chúa đến ! Ta cố tình không nhớ ra rằng Chúa luôn hiện thân nơi người chung quanh, đặc biệt nơi những ai hèn mọn, mà ta chỉ đon đả đón chào những kẻ rủng rỉnh bạc tiền, những người xênh xang áo mão! Ta đồng hóa niềm vui Noel bằng những trang trí thừa mứa mà chẳng hề nhắc nhở chính ta rằng, Chúa đang khốn khổ nơi hang lừa, Chúa đang đói rách nơi đầu đường xó chợ, Chúa đang đợi chờ ta nơi nẻo sâu hun hút của núi rừng, Chúa đang đói niềm tin cậy nơi rất nhiều con người ta hẳng lẩn tránh, vì gặp họ là tốn tiền, là phải nghe những lời than thân trách phận…
Ta chỉ quen sao cho áo ta luôn sạch, bụng ta luôn no, và kho của ta luôn dư dật…
Ta thậm chí chẳng thèm tìm hiểu sao mà bà Ê li sa bét lại có thể chúc mừng em họ bà là bà Maria, khi Maria đến thăm chị họ mình…
Ôi bà Ê li sa bét  ngay lập tức đã nhận ra chính Chúa đã đến thăm căn nhà bé nhỏ của mình.
Còn ta, còn…khuya ta mới nhận ra Chúa mà ta vẫn bảo rằng “Chúa của ta đó”, khi ai đó đến với ta…
Đặc biệt, hành động của ta cho chính ta thấy một cách sai lạc rằng, Chúa chẳng bao giờ hiện thân nơi người hèn kém hàng ngày ta vẫn nhìn nhưng không bao giờ thấy!
Chỉ một chút gió se se thôi đã làm ta quên đi Chúa mất rồi, ta ơi…
                              
                                                         LAM TRẦN 20.12.2015

NOEL ! NOEL!

Noel ! Noel !

Từ ngôi báu Thiên Đình
Ngôi Hai đã giáng sinh
Để cứu nhân độ thế
Để  ban phúc an bình.
              
Vẳng nghe tiếng chuông reo:
Đời mê tham, Chúa nghèo,
Đời ham vui, Chúa khóc,
Be Lem cảnh đìu hiu…
              
Mẹ Thánh và Dưỡng Phụ
Cảm thương Chúa Hài Nhi
Nâng niu và thờ lạy
Thiên Chúa đại từ bi…
              
Thiên thần ca thánh thót:
Vinh danh Chúa trên Trời,
Bình an người dưới thế.
Vầng sáng toả khắp nơi.
              
Mục đồng quì gần Chúa
Chiên bò phục ngả nghiêng
Thở hơi cho Chúa ấm
Ôi! Đêm thánh linh thiêng…

Kìa sao tua loan báo:
Con Thượng Đế giáng sinh.
Đường xa ta rảo bước
Mong gặp Chúa nhân lành…
              
Ba Vua theo sao lạ
Dừng lại trước cửa hang,
Nhận ra Vua vạn vật
Giáng sinh trong cơ hàn.
              
Lòng tin tưởng khôn ngoan
Cảnh trí thực ngỡ ngàng.
Lạy thờ Ngôi Ấu Chúa,
Dâng lễ: nhũ hương, vàng…
              
No-en khối tình chung
Của thế giới cộng đồng
Thừa hưởng ơn Cứu Độ
Hòa bình vẫn chờ trông...


Tung hô Mẹ Thiên Chúa
                                    (Cảm nhận và suy niệm từ Lc1.39-45)

Sau ngày ấy - ngày Mẹ vâng ý Chúa (Mẹ Maria)
Chịu thai Thánh Tử, nguyên vẹn đức đồng trinh.
Lại được tin, lão bà trong họ mình, (Bà Isave)
Đã sáu tháng, mang thai an mạnh đủ.
       ***
Mẹ vội vã lên đường mong phục vụ.
Vừa tới nơi, lão phụ nghe lời chào,
Thai hài nhi, trong lòng nhảy lao xao,
Bà lên tiếng, xưng hô Mẹ Thiên Chúa…
        ***
Ôi! Mầu nhiệm Thiên Sai từ muôn thuở.
Ai ngẫm suy, thấu được những chứng minh.
Lịch sử ghi lại những sự tích rành rành
                        Luôn chứng nhận Chúa Ngôi Hai giáng thế.

   (Thế Kiên Dominic)


         

Chủ Nhật, 20 tháng 12, 2015

NIỀM VUI TRONG THÁNH THẦN



SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG - NĂM C    -   20/12/2015

                                                                                       ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Bài Tin Mừng hôm nay chứa chan niềm vui. Bà Elizabeth vui mừng vì được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm. Đức Maria vui mừng vì được Thiên Chúa đoái thương. Thánh Gioan Baotixita vui mừng vì được tha tội ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Những niềm vui ấy hoà chung, biến buổi gặp gỡ thành một lễ hội vui mừng tạ ơn Thiên Chúa. Nguồn gốc của những niềm vui ấy là ơn Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần đã giúp chuẩn bị các tâm hồn đón nhận niềm vui ơn cứu chuộc. Ta thấy được ơn Chúa Thánh Thần qua những dấu hiệu sau đây.

Dấu hiệu thứ nhất: ơn khiêm nhường.
Tâm hồn có Chúa Thánh Thần sẽ trở nên khiêm nhường. Khiêm nhường vì biết thân phận mình hèn yếu, bé nhỏ, tội lỗi. Khiêm nhường vì biết tất cả những ơn nhận được không phải do công trạng của mình nhưng là do lòng thương xót của Chúa. Vì thế, khi nhận được tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria đã xưng mình là “nữ tỳ của Thiên Chúa”. Bà Elizabeth khiêm nhường tự hỏi: “Bởi đâu tôi được phúc đón tiếp Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm tôi”. Và Đức Maria đã trả lời bằng một bài ca khiêm nhường ngợi khen Thiên Chúa vì tình yêu thương đã đoái thương đến phận hèn nữ tỳ của Chúa.

Dấu hiệu thứ hai: ơn bác ái.
Thánh Thần là tình yêu. Đến đâu là đốt lên lửa bác ái ở đấy, Ngài đã rợp bóng trên Đức Maria và lập tức Đức Maria được tràn đầy lòng bác ái, đã nghĩ đến bà chị họ. Đức Maria không nghĩ phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng và chuẩn bị cho bản thân trong thời kỳ sinh nở sắp tới, nhưng đã nghĩ phải ra đi giúp bà chị họ neo đơn, yếu mệt. Đây là một lòng bác ái mạnh mẽ, nên Đức Maria vội vã lên đường ngay, không chần chừ, không tính toán. Lòng bác ái không chỉ hướng về những người thân trong gia tộc mà còn mở rộng ra cho cả dân tộc, cả đồng loại. Nên trong bài Magnificat, Đức Maria đã nhớ đến công ơn tổ tiên và nhớ đến cả dân tộc.

Dấu hiệu thứ ba: ơn quên mình.
Được ơn Chúa Thánh Thần tác động, tâm hồn sẽ quên bản thân mình. Trước hết quên mình để hoàn toàn vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria đã hoàn toàn quên mình khi thưa với thiên thần: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa, tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền”. Không những quên mình cho thánh ý Chúa, Đức Maria còn quên mình vì tha nhân. Ngài quên mình cũng đang mang thai, cần được nghỉ ngơi, cần được chuẩn bị, chỉ nghĩ đến bà chị họ thai nghén ốm yếu, nên đã bỏ nhà ra đi thăm viếng. Ngài quên mình là khách mời trong tiệc cưới Cana, nên đã xuống bếp giúp đỡ việc bếp núc, và hoà vào cả nỗi lo của chủ nhà thiếu rượu. Ngài quên mình nên đã theo Đức Giêsu và can đảm đứng dưới chân thập giá, cùng chịu đau đớn nhục nhã với Con.

Dấu hiệu thứ tư: ơn phục vụ.
Lòng bác ái, sự khiêm nhường và sự quên mình được kết tinh ở cao điểm phục vụ. Tâm hồn được Chúa Thánh Thần tác động sẽ tìm phục vụ như tìm niềm vui, niềm hạnh phúc. Vì thế Đức Maria không quản thân phận là Mẹ Thiên Chúa đã đến phục vụ cho bà Elizabeth. Đức Maria cũng không nề hà mình đang thời kỳ thai nghén đã vui vẻ phục vụ người họ hàng cần sự giúp đỡ. Là Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria đã tự nguyện trở nên tôi tớ để phục vụ con người. Đó chính là kết tinh của ơn Chúa Thánh Thần.
Với tất cả những đặc điểm của ơn Chúa Thánh Thần, cuộc gặp gỡ giữa Đức Maria và bà Elizabeth, cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Thánh Gioan Baotixita còn trong bào thai đã trở thành cuộc gặp gỡ của niềm vui: niềm vui ơn cứu độ. Nhờ những chuẩn bị của Chúa Thánh Thần, hai người mẹ và hai bào thai đã họp thành cộng đoàn biết đón nhận và trao tặng ơn cứu độ. Đã tập họp thành Nước Thiên Chúa, đã là cộng đoàn đầu tiên đón nhận được ơn cứu độ, tiên báo cho Giáo Hội và Nước Thiên Chúa.

Chỉ còn vỏn vẹn mấy ngày nữa là đến lễ Giáng Sinh, ta hãy noi gương Đức Maria, nài xin Chúa Thánh Thần biến đổi tâm hồn ta nên xứng đáng đón nhận Chúa Cứu Thế. Ta hãy xin Đức Maria dạy ta biết sống theo ơn Chúa Thánh Thần trong khiêm nhường, bác ái, quên mình và phục vụ, để ta được niềm vui đón nhận ơn cứu độ.


Thứ Bảy, 19 tháng 12, 2015

MÙA VỌNG GIÁNG SINH



MÙA VỌNG GIÁNG SINH

Ngọn đèn nến sáng lung linh
bốn Tuần Mùa Vọng ''Giáng Sinh Cứu Đời''!
Thánh Ca trầm bổng là lời
xin ''Mưa Cứu Chuộc'' cho đời lầm than
thoát xiềng xích của Satan
để Hồng Ân xuống chứa chan cõi lòng!
Như nai tìm đến suối trong,
đoàn con chờ Chúa nhủ lòng xót thương,
thứ tha cho kẻ lầm đường,
tìm về với Chúa Tình Thương vô bờ!
Ngài là Chúa Tể Thiên Cơ!
Con người hữu hạn biết chờ trông ai?
Đàn con sám hối, van nài
Chúa mau cho Đấng Thiên Sai  xuống trần!
Bốn Tuần Mùa Vọng qua dần...,
nôn nao chờ tiếng chuông ngân báo rằng:
''Đêm nay, Con Chúa Vĩnh Hằng
giáng sinh, người có biết chăng, hỡi người?''

Đaminh Phan văn Phước


Thứ Sáu, 18 tháng 12, 2015

BẠN BIẾT GÌ VỀ LỄ GIÁNG SINH ?


Lễ Giáng Sinh ngày nay có thể nói chính xác là ngày lễ nghỉ của toàn thể nhân loại. Đây là mùa của đèn nến và kim tuyến, thánh ca và ca đoàn, hương vị của cây thông và hạt dẻ nướng. Giáng Sinh đến với chúng ta với những bữa ăn ngon, những tiếng cười vui vẻ, và những nụ hôn dưới cây tầm gửi.

Khung cảnh Giáng Sinh được trang trí lộng lẫy khắp nơi, từ thôn quê tới thành thị, vô số những tấm thiệp được gởi để chúc mừng nhau. Hơn 2.000 năm qua, thế giới đánh dấu việc giáng sinh của Chúa Giêsu là lễ hội vui mừng nhất. Không có ngày nào trong năm vui mừng như vậy.

Chưa một Công đồng nào hoặc một Giáo hoàng nào công bố như vậy. Nhưng mỗi năm, Giáng Sinh đến như làn gió Đông bất ngờ thổi vào Tháng Mười Hai, như ánh nắng lấp lánh phản chiếu trên tuyết trắng xóa. Cảm giác rất lạ, đang từ mùa Đông cằn cỗi tới mùa ánh sáng vui mừng.

Giáng Sinh đầu tiên – ngày Chúa Giêsu giáng trần – là “cú sốc” đối với lịch sử nhận loại.

Trải qua nhiều thế kỷ, nhân loại đã sống và đã chết trong tội mà không biết, cảnh khốn khổ của thế gian này không thể tránh khỏi và niềm vui quá ít mà mau qua. Giáng Sinh tới, lịch sử được chia làm đôi: Trước ngày đó (trước Công nguyên), và sau ngày đó (sau Công nguyên). Thế giới hoàn toàn thay đổi. Vì Ơn Cứu Độ khởi đầu từ khi Thiên Chúa hóa thành nhục thể, khi Thiên Chúa hạ sinh tại Belem.

Thiên Chúa đến ở với chúng ta trên thế gian này. Thánh Gioan khởi đầu Phúc Âm bằng cách diễn tả một Thiên Chúa rất quyền năng, rất xa xôi, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả vì yêu thương nhân loại:

“Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:1-5).

Đó là Thiên Chúa mà chính các triết gia ngoại giáo cũng biết, họ gọi Ngài là Động Lực Đầu Tiên, Tạo Hóa, Thượng Đế. Kịch bản của Thánh Gioan lên tới đỉnh điểm: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1:14).

Đây là tin “giật gân”. Từ trời cao xa, từ thời điểm xa nhất, chính Thiên Chúa đã hóa thành nhục thể và “cắm lều” ở giữa Dân Ngài. Từ đời đời, Thiên Chúa là Ngôi Lời, nhưng không ai nắm bắt được Ngôi Lời. Bây giờ Ngài hóa thành Hài Nhi, và người ta có thể bồng bế hoặc ôm ấp Hài Nhi.

Theo sự thật lạ lùng của Kitô giáo, không gì táo bạo như điều này: Ngôi lời sinh ra tại một ngôi làng nhỏ, trong một hang đầy thú vật, vào một đêm vừa lạnh giá vừa tăm tối. Ngôi Lời đã làm người và đã thay đổi mọi thứ. Điều này làm cho lễ Giáng Sinh trở thành lễ gây sốc nhất trong lịch.

Ý nghĩa lễ Giáng Sinh được gom lại trong điều này. Thiên Chúa đã sống trong một gia đình như chúng ta. Ngài cũng run người vì lạnh như chúng ta. Ngôi-Lời-mặc-xác-phàm cũng đã bú sữa mẹ như các em bé khác, cũng khóc lóc khi cơ thể bất an. Hoàn toàn như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Truyền thống cho chúng ta biết rằng Thánh Gioan viết đoạn mở đầu cho Phúc Âm của ngài khi được linh hứng cao độ. Bạn bè của ngài đã bảo ngài viết chuyện đời Chúa Giêsu, thế nên ngài bảo họ ủng hộ ngài bằng cách ăn chay và cầu nguyện. Khi ăn chay xong, Thần Khí ngự xuống trên Thánh Gioan, và ngài như không còn là chính mình. Ngôn từ cứ tuôn trào – có thể chính là những từ mà ngài cố gắng tìm mà chưa bao giờ tìm được.

Chúng ta có thể thấy lạ trong giọng điệu khi ngài nói với chúng ta rằng Ngôi Lời trở nên người phàm. Khi ngài viết, hẳn là ngài cũng cảm thấy rất hưng phấn, như lần đầu đến nhà của thợ mộc Giêsu ở làng Nadarét, Đấng Được Xức Dầu, Con Thiên Chúa.

Sự ngạc nhiên này cũng có trong thư thứ nhất của Thánh Gioan. Theo truyền thống, Thánh Gioan viết lá thư đó 66 năm sau khi Chúa Giêsu về trời, nhưng vẫn có sự ngạc nhiên trong lối hành văn của ngài. Ngài vẫn như thể không tin được rằng “điều đó là từ khởi đầu” cũng là “điều mà chúng ta nghe, thấy và sờ được”.

* * *

Trong thời Giáo hội sơ khai, lễ Giáng Sinh không là lễ quan trọng. Cuộc đời Chúa Giêsu vẫn là ký ức sống, và sự phục sinh của Ngài vẫn chiếm vị trí trung tâm trong lịch. Nhưng theo thời gian, các thầy dạy giả mạo bắt đầu không chịu nhận nhân tính nơi Chúa Giêsu. Họ cho rằng cơ thể Chúa Giêsu là cách cải trang tinh vi, chứ Thiên Chúa không bao giờ hạ giá chính Ngài bằng cách “mặc lấy xác phàm”. Sau đó, các tà thuyết từ chối việc Đức Mẹ sinh ra Ngôi Lời. Họ nói rằng Đức Mẹ sinh ra “thùng” chứa đựng Ngôi Lời. Các tà thuyết vẫn cho rằng Chúa Con là phần phụ, như thần thánh, chứ không đồng bản thể và vĩnh hằng với Chúa Cha.

Các tà thuyết này có một điểm chung: Không chấp nhận việc làm người của Con Thiên Chúa. Arius là người lập ra tà thuyết Arian, ông là người giỏi về luận lý. Ông từ chối tín điều Tam Vị Nhất Thể (Chúa Ba Ngôi), ông cho rằng ba không thể là một, đó là số học sơ đẳng. Thiên Chúa vô hạn không thể làm người hữu hạn, đó là triết học sơ đẳng. Do đó không thể có việc Thiên Chúa làm người.

Những người lạc giáo như Arius muốn dành cho Thiên Chúa sự sỉ nhục không thể lý giải của sự lệch lạc vì kết hợp quá sát với bản tính nhân loại. Đó cũng là vấn đề tương tự mà nhóm Pharisêu không thể vượt qua: Nếu Ông Giêsu này quá tốt, tại sao Ngài thân thiết với người tội lỗi và người thu thuế? Thật vậy, mặc dù những người theo tà thuyết khăng khăng cho rằng họ bảo vệ sự hoàn hảo của Thần tính, họ vẫn thực sự từ khước sự hoàn hảo của tình yêu Thiên Chúa. Cuối cùng, tình yêu có thể có vẻ bất khả lý luận. Bất kỳ ai đánh giá người khác như chính mình đều có vẻ hoàn toàn thái quá.

Hầu như không thể trùng khớp việc kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giêsu theo lịch sử và theo nghĩa đen, Ngài là con bác thợ mộc bắt đầu đảm trách việc quan trọng hơn khi đức tin đích thực bị choán bởi các sai lầm rất nguy hiểm là tứ chối việc hóa thành nhục thể. Mừng Con Thiên Chúa giáng sinh là tách điều chính thống với tà thuyết. Mừng Chúa Giáng Sinh đưa Giáo hội tới nguyên tắc rõ ràng.

* * *

Từ đầu, không có sự thống nhất về ngày lễ Giáng Sinh. Giáo hội ở Ai Cập đặt ngày Đức Kitô giáng sinh vào tháng Tư hoặc tháng Năm. Các Giáo hội khác đặt vào tháng Ba, hoặc bất kỳ tháng nào mà họ thích. Điều cũng phổ biến là kết hợp lễ Giáng Sinh với lễ Hiển Linh (Ba Vua), đặ cả hai lễ này vào ngày 6 tháng 1. Nhưng khoảng thập niên 400, lễ Giáng Sinh được ấn định ngày 25 tháng 12 cho tới ngày nay.

Có ít nhất ba giả thuyết về lễ Giáng Sinh được mừng vào ngày 25 tháng 12. Cả ba đều hợp lý.

Giả thuyết thứ nhất đơn giản nhất. Chuyện xưa kể rằng, khoảng năm 350, ĐGH Julius I tìm ngày Chúa Giêsu giáng sinh trong hồ sơ điều tra dân số. Không thấy trong hồ sơ có thông tin về 350 năm sau đó. Chúng ta biết qua Phúc Âm theo Thánh Luca rằng Chúa Giêsu sinh ra trong thời gian điều tra dân số. Người Rôma, với sự tôn trọng mệnh lệnh, có thể đã giữ hồ sơ quá kỹ ở nơi nào đó tại Rôma nên không thể phát hiện.

Giả thuyết thứ nhì cho rằng các Kitô hữu không thể bỏ lễ kỷ niệm giữa mùa Đông của người ngoại giáo, nên dùng ngày đó luôn. Xuyên suốt lịch sử, người ta đã bỏ qua những ngày ngắn trong năm như ngày Đông chí hoặc Hạ chí. Khi ngày bắt đầu dài trở lại, nghĩa là mùa Đông cũng qua, và thế giới sẽ tái sinh vào mùa Xuân.

Nguồn gốc ngoại giáo của ngày này không làm chúng ta thành xấu xa. Thật vậy, nhiều truyền thống Kitô giáo đã có nguồn gốc từ ngoại giáo. Chẳng hạn cây Giáng Sinh không liên quan gì tới ngày Chúa Giêsu giáng sinh, nhưng chắc chắn mang ý nghĩa là nghi lễ giữa mùa Đông của ngoại giáo: Nhờ sự thông cảm, chúng ta đem tinh thần này vào ngày lễ bằng một cây xanh – cây này vẫn sống khi các cây khác đã chết khô. Và đó cũng là biểu tượng xứng hợp đối với các Kitô hữu. Cây xanh là phép ẩn dụ minh nhiên về niềm hy vọng của cuộc sống mới mà Đức Kitô mang lại cho chúng ta.

Còn nữa, đèn nến mà chúng ta thắp sáng khắp nơi trong lễ Giáng Sinh có thể là sự sống còn của nghi lễ ngoại giáo – một lần nữa lại là dạng thông cảm, lửa thắp sáng để làm mặt trời chết sống lại. Nhưng ánh sáng luôn là biểu tượng ưa thích của Kitô giáo.

Chúng ta biết rằng Giáo hội thời sơ khai thường lợi dụng niềm tin hoặc tục lệ của dân địa phương để loan truyền Phúc Âm. Chính Thánh Phaolô đã có một câu nổi tiếng được khắc trên bàn thờ dâng kính một vị thần ở A-thê-na (Athens): “Thưa quý vị người A-thê-na, tôi thấy rằng, về mọi mặt, quý vị là người sùng đạo hơn ai hết.23 Thật vậy, khi rảo qua thành phố và nhìn lên những nơi thờ phượng của quý vị, tôi đã thấy có cả một bàn thờ, trên đó khắc chữ: Kính thần vô danh. Vậy Đấng quý vị không biết mà vẫn tôn thờ, thì tôi xin rao giảng cho quý vị” (Cv 17:23). Tinh thần của Thánh Phaolô có rất nhiều trong Giáo hội trong việc phát triển cách hiểu của Kitô giáo về các lễ hội được ưa thích của người ngoại giáo, giải thích cho những người chuyển đạo rằng họ thực sự tôn thờ không chỉ Thần ánh sáng mà là Chúa Nguồn Sáng.

Giả thuyết thứ ba giải thích về ngày 25 tháng 12 là nó thích hợp với khái niệm của Giáo hội sơ khai về sự sống hoàn hảo của Chúa Giêsu. Truyền thống nói rằng Chúa Giêsu chết ngày 25 tháng 3. Các thần học gia lý luận rằng, để sự sống của Ngài hoàn hảo, Ngài cũng phải được thụ thai vào ngày 25 tháng 3, rồi sinh ra 9 tháng sau đó.

Ý tưởng về sự sống của Chúa Giêsu có sự hoàn hảo về mỹ học phải làm thỏa mãn thời đại cho tới thời triết học tân Platon. Điều đó đã làm thỏa mãn các nhà thông thái cũng như lễ hội giữa mùa Đông làm thỏa mãn tình cảm của dân chúng.

Các giả thuyết này đều có thể là thật. Chẳng hạn, người ta tưởng tượng rằng Đức giáo hoàng đã khám phá ngày tháng trong cuộc điều tra dân số, và Giáo hội lợi dụng sự thích hợp đó với ngày tháng của lễ hội ưa thích của người ngoại giáo, cũng như các Kitô hữu lợi dụng tính cân xứng với ngày chết của Chúa Giêsu. Các Kitô hữu đã tới các quốc gia theo cách mà các quốc gia đã được chuẩn bị để nghe biết. Nhờ đưa ra cách hiểu về Kitô giáo đối với phong tục địa phương hoặc ý tưởng triết học hợp lý, Giáo hội đã cho những người mới theo đạo cách hiểu lịch sử của việc Chúa giáng sinh theo cách mà họ có thể hiểu.

* * *

Khi lễ hội này lan tràn khắp các nước mới gia nhập Kitô giáo ở Âu châu và Đông phương, người ta gom các phong tục ngoại giáo cổ xưa hơn và tạo cách hiểu mới. Lễ Giáng Sinh lan truyền tới đâu thì đều có vẻ mới nhưng vẫn quen thuộc với những người mới theo đạo. Có thể chính sự quen thuộc đó đã làm cho lễ Giáng Sinh được người ta yêu thích.

Khoảng năm 1100, lễ Giáng Sinh đã trở nên lễ quan trọng nhất trong năm. Suốt thời Trung cổ, lễ Giáng Sinh được cử hành ở khắp nơi với những cảnh đẹp lộng lẫy và niềm vui mừng. Người ta hát những bài ca giáng sinh mà họ thích; những đám rước nhộn nhịp qua các con đường nhỏ ở các thành phố thời Trung cổ; và bất kỳ nơi nào cũng tỏa mùi thơm từ những món ăn mừng lễ Giáng Sinh.

Tuy nhiên, với cuộc Cải cách Tin Lành, có những thay đổi về văn hóa. Họ hăng hái chống lại mọi sự lạm dụng trong Giáo hội, nhiều nhà cải cách đã nhắm vào lễ Giáng Sinh chỉ là một trong các lễ hội ngoại giáo. Theo nghĩa nào đó, dĩ nhiên họ đúng: Nhiều truyền thống có nguồn gốc ngoại giáo. Nhưng các phe chống lễ Giáng Sinh đã chỉ phê phán bằng “cái gốc” đáng lẽ họ phải phê bình bằng “hoa trái”.

Khi những người theo Thanh giáo chiếm lĩnh ở Anh quốc, họ đã cấm lễ Giáng Sinh. Các cửa tiệm phải mở toang ra. Bất kỳ ai bị phát hiện một miếng bánh nào sẽ gặp rắc rối. Người Thanh giáo cho rằng các loại bánh khúc cây, bánh mận, và những bài hát giáng sinh tạo nên lễ Giáng Sinh truyền thống Anh quốc đều không là gì khác ngoài việc tôn sùng ngẫu tượng ngoại giáo, thế thì phải dẹp bỏ. Có một số người phản đối, thậm chí một số người còn sẵn sàng chết vì bảo vệ lễ Giáng Sinh, nên dân chúng vẫn theo truyền thống dùng lễ Giáng Sinh là ngày nghỉ – nhưng người Thanh giáo vẫn chiếm ưu thế, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Để phản kháng, người Thanh giáo ra lệnh rằng lễ Giáng Sinh phải là ngày ăn chay. Truyền thống này không bao giờ được tiếp nối. Dễ dàng nói rằng việc ăn chay không bao giờ được theo vì tính yếu đuối nhân loại – cuối cùng, người ta thích ăn mừng lễ hơn ăn chay vì tự nhiên như người ta thích vui hơn thích buồn. Nhưng Mùa Chay không bao giờ bị bỏ ra ngoài lịch. Các Kitô hữu tốt lành sẵn sàng chịu đựng sự từ bỏ mình khi thích hợp. Nhưng điều đó có vẻ không thích hợp với lễ Giáng Sinh.

Có điều người Thanh giáo không hiểu, và có điều nhiều người tốt vẫn không hiểu, đó là không có sự mâu thuẫn giữa việc tôn thờ Thiên Chúa và tận hưởng sự sáng tạo của Thiên Chúa. Không gì xấu để tận hưởng những điều tốt lành mà Thiên Chúa trao ban cho chúng ta. Phép lạ thứ nhất của Chúa Giêsu là hóa nước thành rượu – mà không chỉ là rược thường, thánh Gioan tỉ mỉ cho biết đó là loại rượu hảo hạng. Rõ ràng Con Người có vị giác rất tốt theo nhân tính.

Một số các Kitô hữu sai lầm như Thanh giáo đều xấu hổ vì hiểu đức tin với niềm vui trần tục. Nhưng mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh là mầu nhiệm Ngôi Lời làm người. Thánh Athanasiô nói rằng chữ “nhục thể” (xác thịt) là sự chính thống anh hùng vô địch khi những đám mây tà thuyết có vẻ đen tối nhất, “nhục thể không loại bỏ vinh quang của Ngôi Lời, tư tưởng còn xa hơn. Ngược lại, nhục thể được Thiên Chúa làm cho vinh quang”.

Một số các Giáo phụ gọi lễ Giáng Sinh là lễ Hóa Thân, theo nghĩa gốc tiếng Latin. Khi Thiên Chúa mặc xác phàm, chính nhục thể trở thành vật thánh, là điều được cử hành bằng hình ảnh, tượng và thiệp giáng sinh.

Thế kỷ VIII, một bè rối nổi lên trong Giáo hội và tự nhận là “Iconoclasts”, tiếng Hy Lạp nghĩa là “những người đập nát hình ảnh” (tức là phá ngẫu tượng). Họ cố gắng “thanh lọc” và “tâm linh hóa” đời sống Kitô giáo bằng cách xóa bỏ mọi biểu tượng về Chúa Giêsu, Đức Mẹ, và các thánh. Họ phá hủy mọi hình ảnh tôn giáo trong thời Đế quốc La Mã Đông phương, và họ chặt tay các Kitô hữu nào không loại bỏ các ảnh tượng. Họ nói rằng Thiên Chúa không thể được thể hiện qua ảnh tượng; ai làm vậy là thờ ngẫu tượng. Nhưng đây là cách mà Thánh Gioan thành Damascô trả lời họ: “Thời xưa, Thiên Chúa không được thể hiện bằng bất kỳ cách nào. Nhưng ngày nay, vì Thiên Chúa đã mặc xác phàm và sống giữa chúng ta, tôi có thể biểu hiện điều nhìn thấy ở Thiên Chúa. Tôi không tôn thờ chất liệu, mà tôi tôn thờ Đấng tạo nên chất liệu và trở nên chất liệu vì tôi… Qua chất liệu, Ngài hoàn tất ơn cứu độ cho tôi”.

Nói cách khác, sự “hóa thân” làm thành nghệ thuật, và cũng là đồ thánh, cũng như điều đó làm co cơ thể thành vật thánh. Các họa sĩ đã vẽ tranh giáng sinh qua nhiều thế kỷ mà không tạo ra ngẫu tượng. Cách thể hiện của họ là những bài Thánh ca (hymns) ca tụng Thiên Chúa vô hình được làm thành hữu hình.

Nhìn vào bất kỳ tranh giáng sinh cổ điển nào đều có thể cảm nhận Thiên Chúa. Mỗi con vật trong hang đá là một thụ tạo; mỗi cọng rơm trong máng cỏ đều được rút ra bằng sự cẩn thận vô cùng. Trong các cảnh của Kinh thánh, các họa sĩ đã yêu quý vẽ ra từ nhiều thế kỷ qua, lễ Giáng Sinh gợi nhớ sự vui mừng nhất trong niềm vui vẽ tranh, và Thiên Chúa hiện hữu trong từng chi tiết đó.

* * *

Câu chuyện giáng sinh của mọi người là câu chuyện trong Phúc Âm theo Thánh sử Luca. Điều làm cho câu chuyện đó được yêu mến là sự thân thiện. Thánh Luca có vẻ như viết cho dân ngoại, cố gắng tới đúng chỗ Chúa Giêsu sinh ra về phương diện lịch sử và địa lý. Chúa Giêsu giáng sinh không là một ẩn dụ hoặc ngụ ngôn như những câu chuyện thời Trung cổ, mà đó là sự kiện thật ở nơi thật mà lịch sử có thể chứng minh.

Thánh Luca tiếp tục cho chúng ta thấy kỹ năng viết của một sử gia, chính xác các chi tiết mà chúng ta cần biết về sự giáng sinh của Chúa Giêsu. Chúng ta biết Thánh Giuse và Mẹ Maria cảm thấy thế nào khi không có chỗ trọ, và các ngài vui thế nào khi tìm được cái hang chiên lừa, và khiến chúng ta cũng cảm thấy như Thánh Giuse và Mẹ Maria. Rất chi tiết. Còn các tác giả Phúc Âm khác không cho chúng ta biết chi tiết như vậy, mà chỉ nói các điểm chính.

* * *

Ngôi Lời hóa thành nhục thể không chỉ là sự kiện một lần trên Thập giá hoặc Thăng thiên. Đức Giêsu Kitô không chỉ đến trong thế gian ở một nơi đặc biệt và vào thời điểm đặc biệt, mà Ngài còn thiết lập Giáo hội là Nhiệm Thể Ngài trên thế gian này. Các cộng đoàn tín hữu sinh sống ở mọi nơi trên hành tinh này – họ là các chi thể của Đức Kitô. Nếu bạn muốn biết Chúa Giêsu như thế nào, hãy vào nhà thờ và nhìn xung quanh bạn.

Hơn nữa, chúng ta còn gặp Đức Kitô hiện thân trong Bí tích Thánh Thể, vì Ngài nói: “Thịt Tôi thật là của ăn, và Máu Tôi thật là của uống” (Ga 6:55). “Hóa thân” không là điều trừu tượng – đó là điều “cụ thể kỳ diệu” trong đời sống thường nhật của chúng ta. Điều đó không chỉ xảy ra hơn hai ngàn năm trước mà vẫn đang xảy ra từng ngày trong thời đại chúng ta ngày nay.

“Hóa thân” là “hiện thân” của tình yêu hiện hữu trong những điều thực tế mà Chúa Giêsu trao ban cho chúng ta. Đó không chỉ vì sự hiểu biết của phàm nhân yếu đuối mà các bí tích đều được cử hành bằng các dấu bề ngoài. Chúa Con đã hóa điều đó nên sự thánh.

Chính trong Thánh Thể, chúng ta thấy sự nuôi dưỡng dành cho tinh thần được mô tả trong dạng sơ đẳng nhất của sự nuôi dưỡng dành cho thân xác. Thiên Chúa vĩnh hằng hiện ra với chúng ta trong dạng tạm thời của bánh và rượu: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy. Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:26-28). Khi cử hành Bí tích Thánh Thể, chúng ta được gợi nhớ rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã trở nên xác thịt thực sự để xẻ ra và máu thực sự để đổ ra.

Sự hóa thân đó cho chúng ta cảm thấy niềm vui thực sự thích hợp với lễ Giáng Sinh. Qua sứ vụ của Ngài, Chúa Giêsu thành Nadarét đã chữa lành các bệnh nhân và làm no thỏa những người đói khát. Ngài yêu thương chúng ta không chỉ để đưa chúng ta về Thiên đàng với Ngài, mà Ngài còn muốn chúng ta tận hưởng hạnh phúc ngay khi chúng ta còn sống trên thế gian này. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta một điều duy nhất là yêu mến Ngài, đồng thời yêu thương tha nhân như Ngài đã yêu thương chúng ta.

Người ta vẫn thấy dấu vết của tình yêu Kitô trong các phong tục cổ và thói quen tặng quà giáng sinh. Việc mua thiệp giáng sinh cũng là sự thôi thúc của Kitô giáo là “trao tặng”, như Chúa Giêsu đã dạy: “CHO thì có phúc hơn là NHẬN” (Cv 20:35).

Chúa Giêsu luôn thấy điều tốt nơi chúng ta và tha thứ lỗi lầm cho chúng ta, Ngài cũng muốn chúng ta phải làm cho người khác hạnh phúc. Chúng ta hãy cầu nguyện cho điều đó hiện thực nơi mỗi chúng ta.

Đây là điều Chúa Giêsu dạy chúng ta: Chúng ta có thể xác để dùng nó mà thờ lạy Thiên Chúa, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà phục vụ tha nhân, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác để dùng nó mà đem lại sự thuận lợi, an ủi và chữa lành, như Đức Giêsu thành Nadarét đã làm. Chúng ta có thể xác vì mục đích làm vinh danh Thiên Chúa.

Lễ Giáng Sinh chan hòa niềm vui: Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương (Lc 2:14). Chúa Giêsu sinh ra nơi hang bò lừa hôi tanh cho những gia đình lao động nghèo. Đó là điều vinh dự đích thực. Không gì lý tưởng bằng việc Chúa Giêsu giáng sinh làm người. Con Thiên Chúa sinh ra theo cách rất ư bình thường, thậm chí còn tệ hơn bình thường. Những người đầu tiên biết Tin Vui này là những mục đồng chăn chiên nghèo khổ, chứ không phải những người cao sang quyền thế hoặc hoàng đế Augustô tại dinh thự ở Rôma, cũng chẳng phải bạo chúa Hêrôđê. Đó là sự kỳ diệu của Ngôi-Lời-Làm-Người: Ngôi Lời thực sự là người như chúng ta.

Câu chuyện giáng sinh là câu chuyện kể về cách mà xác thịt hóa thành thánh thiêng, thân xác được thánh hóa, và niềm vui trần tục trở nên thánh ca chúc tụng Thiên Chúa. Như vậy, lễ Giáng Sinh là lễ dành cho ngũ quan. Chúng ta thích nghe đi nghe lại câu chuyện Chúa Giêsu giáng sinh mà không chán, và câu chuyện đó vẫn ở mãi trong chúng ta.


(Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ FathersOfTheChurch.com)
(Nguồn : conggiao.info)