Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ NĂM THÁNH LÒNG THƯƠNG XÓT


  Đức Thánh Cha Phanxicô đã khai mạc Năm Thánh Ngoại Lòng Thương Xót với việc mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Rôma. Trong Tổng Giáo Phận Hà Nội, Đức Hồng Y Tổng Giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn sẽ khai mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót và mở Cửa Thánh tại Nhà thờ Chính Tòa vào Chúa Nhật 13/12/ 2015, đồng thời cũng có Nghi thức mở Cửa Thánh tại Vương cung thánh đường Sở Kiện. Năm Thánh sẽ kết thúc vào Chúa Nhật Chúa Kitô Vua 20/11/2016. Sau đây là những điều cần biết về Năm Thánh.
I. Năm Thánh (Jubilee) là gì?
Trong những năm gần đây, Giáo Hội tại Việt Nam chúng ta có nhiều năm kỷ niệm thành lập giáo phận hay kỷ niệm xây dựng, khánh thành nhà thờ cũng gọi là “Năm Thánh” nên có thể nhiều người không ý thức được tầm quan trọng Năm Thánh mà chúng ta vừa bắt đầu. Những “Năm Thánh” ở Việt Nam vừa qua chỉ dành cho một giáo phận hay Giáo Hội tại Việt Nam (2009-2010), còn Năm Thánh (Jubilee) là Năm Toàn Xá cho cả Hội Thánh thì quan trọng và có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều.
Trong Sách Lêvi nói đến năm toàn xá được xảy ra cứ 50 năm một lần. Trong năm này, tù nhân và nô lệ được thả tự do, nợ nần xóa bỏ và lòng thương xót của Chúa được tuôn đổ một cách đặc biệt. Từ năm 1300 Hội Thánh Công Giáo đã thiết lập Năm Thánh (năm toàn xá) vào dịp mỗi 25 năm hay 50 năm, đôi khi cũng chỉ định năm thánh ngoài những mốc thời điểm đó thì gọi là “Năm Thánh ngoại thường.” Năm Thánh lần cuối là năm 2000 thời Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Năm Thánh ngoại thường lần cuối là năm 1983 để kỷ niệm 1950 năm biến cố tử nạn và phục sinh của Chúa Giêsu.
Vì vậy Năm Thánh 2016 này là Năm Thánh Ngoại Thường Lòng Thương Xót được thiết lập bởi Đức Phanxicô để toàn thể Hội Thánh có thể ý thức hơn, đón nhận lòng thương xót Chúa và tỏ lòng thương xót cho người khác.
II. Tại sao bây giờ lại có Năm Thánh?
Thương xót là đặc tính căn bản của toàn thể sứ vụ và con người của Chúa Giêsu Kitô. Đức Phanxicô muốn đặt thương xót như là sứ điệp trung tâm triều đại Giáo Hoàng của ngài. Ngài đã nói khi công bố Năm Thánh ngoại thường vào buổi cử hành sám hối tại đền thờ Thánh Phêrô: “Tôi thường ưu tư làm sao Hội Thánh có thể làm nổi rõ sứ vụ làm chứng tá của lòng thương xót. Tôi xác tín rằng cả Hội Thánh, luôn cần lãnh nhận lòng thương xót bởi vì chúng ta là những tội nhân, sẽ khám phá trong Năm Thánh (Jubilee) niềm vui và mang lòng thương xót Chúa cho mọi người trong thời đại này mà chúng ta được mời gọi mang đến họ niềm an ủi.” Đức Thánh Cha còn nhắc nhở: “Chúng ta đừng bao giờ quên rằng Chúa tha thứ và luôn tha thứ. Chúng ta đừng bao giờ mệt mỏi xin Chúa ơn tha thứ.”
Trong thư gửi cho Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng Cổ Võ Tân Loan Báo Tin Mừng, Đức Thánh Cha viết: “Tôi mong rằng Ơn Toàn Xá Năm Thánh có thể đến với mỗi người như là một kinh nghiệm thực thụ về lòng thương xót của Thiên Chúa, sẽ đến để gặp gỡ từng người trong Diện Mạo của Chúa Cha là Đấng sẽ đón nhận và tha thứ và hoàn toàn quên hết mọi tội lỗi đã phạm.”
III. Lòng thương xót là gì?
Để hiểu được lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta hãy nhìn ngắm Chúa Giêsu. Trong Tông sắc Năm Thánh, Đức Phanxicô viết:
“Trong Chúa Giê-su thành Nazareth, lòng thương xót của Thiên Chúa Cha trở nên sống động và rõ ràng, và đã tìm thấy tột đỉnh điểm của nó. Chúa Cha, Đấng “đầy Lòng Nhân Hậu” (Eph 2, 4)....Chúa Giê-su thành Nazareth chính là Đấng mạc khải về lòng thương xót của Thiên Chúa, nhờ vào những lời và những công việc của Ngài, và toàn bộ cuộc hiện sinh của Ngài” (số 1).
“Sứ vụ của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao phó là mạc khải mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa trong sự viên mãn của tình yêu ấy....Tình yêu này đã được thể hiện hữu hình và cụ thể trong toàn bộ cuộc sống của Chúa Giêsu. Ngôi vị của Ngài không gì khác hơn là tình yêu, một tình yêu được trao ban nhưng không. Các mối quan hệ Chúa với những người đến với Ngài thể hiện một điều gì đó hoàn toàn độc đáo và không thể lặp lại được. Các dấu chỉ Ngài thực hiện, đặc biệt trước những kẻ tội lỗi, người nghèo, người bị gạt ra ngoài lề, người bệnh tật, và những người đau khổ, tất cả đều nhằm giảng dạy về lòng thương xót. Mọi thứ nơi Ngài nói lên lòng thương xót. Không có gì nơi Ngài thiếu vắng lòng thương xót” (số 8).
“Trong dụ ngôn về lòng thương xót, Chúa Giêsu tiết lộ bản tính của Thiên Chúa như một người Cha không bao giờ bỏ cuộc cho đến khi Ngài đã tha thứ kẻ sai phạm và vượt qua sự từ khước với lòng trắc ẩn và thương xót” (số 8).
“Chúa Giêsu khẳng định rằng lòng thương xót không chỉ là một hành động của Chúa Cha, nó trở thành một tiêu chuẩn để xác thực ai là con cái thật sự của Ngài. Nói vắn tắt, chúng ta được mời gọi để tỏ lòng thương xót vì lòng thương xót đã được thể hiện ra cho chúng ta trước. Tha thứ cho các sai phạm trở thành diễn đạt rõ ràng nhất của tình yêu thương xót, và đối với Kitô hữu chúng ta đó là một mệnh lệnh mà chúng ta không thể thoái thác cho chính mình” (số 9).
“Thương xót là nguồn cội của niềm vui, của sự thanh thản và bình an.
Thương xót tỏ lộ mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.
Thương xót là hành vi chóp đỉnh và chung cuộc mà Chúa đến gặp gỡ chúng ta. Thương xót là quy luật nền tảng trong trái tim mỗi người để nhìn một cách chân thành vào con mắt của anh chị em khác trong hành trình cuộc sống.
Thương xót là nhịp cầu nối Thiên Chúa và con người, mở trái tim chúng ta cho niềm hy rằng chúng ta được Thiên Chúa yêu thương đến muôn đời, bất chấp sự tội lỗi của chúng ta” (số 3).
“Thương xót không mâu thuẫn với công lý nhưng diễn tả con đường tiếp cận của Thiên Chúa với tội nhân, cho họ một cơ hội mới để nhìn lại mình, trở lại và để tin” (số 21).
IV. Chúng ta sẽ làm gì trong Năm Thánh?
Chúng ta được mời gọi ngước mắt chiêm ngưỡng Chúa Kitô và đến gần Người hơn vì Ngài là dung mạo của lòng thương xót Chúa Cha. Chúng ta hoán cải lãnh nhận lòng thương xót Chúa từ Chúa Kitô và thực thi lòng thương xót như Người.
a. Lãnh nhận lòng thương xót Chúa: Hành Hương bước qua Cửa Thánh để lãnh nhận Ơn Toàn Xá
b. Thực thi lòng thương xót, ”Thương người có 14 mối”:
Thương xác 7 mối: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết.
Thương linh hồn 7 mối: lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mê muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
1. Lãnh nhận lòng thương xót Chúa
a. Bước qua Cửa Thánh có ý nghĩa gì?
Cửa Thánh tượng trưng cho Chúa Kitô đầy lòng thương xót, như ngài phán: “Ta là Cửa” (Ga 10:9). Khi bước qua Cửa Thánh, với lòng ăn năn sám hối chúng ta trở về với Chúa và đi vào trong Chúa Kitô để đến cùng Thiên Chúa Cha.
Đức Phanxicô đã dạy như sau trong Tông chiếu về Năm Thánh Lòng Thương Xót:
“Cửa Thánh này sẽ trở thành Cửa Thương Xót mà bất cứ ai bước vào sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa, Đấng an ủi, tha thứ, và khơi lên niềm hy vọng (số 3).
“Bởi bước qua ngưỡng Cửa Thánh, chúng ta sẽ tìm được sức mạnh để đón nhận lòng thương xót của Chúa và dấn thân trở nên xót thương với người khác như Chúa Cha đã thương xót chúng ta” (số 14).
b. Ơn tha thứ của Chúa
b.1. Tha vạ tuyệt thông cho những người phạm tội phá thai (Vạ không dành cho Tòa Thánh)
Phá thai trực tiếp và có hiệu quả là tội rất nặng và là tội ác đáng xấu hổ xúc phạm đến danh dự Đấng Tạo Hóa (GS. 27) vì kết liễu mạng sống của một người vô tội nhất và vô phương tự vệ, dù chỉ là tiếng khóc (EV. 58). Nếu những ai trực tiếp tham gia (cha mẹ, bác sỹ, y tá..) hay trực tiếp cộng tác (ví dụ cho vay tiền để phá thai, khuyên đi phá thai..) vào việc phá thai và có hiệu quả thì ngoài phạm tội trọng còn mắc vạ tuyệt thông tiền kết (tức khắc bị rút phép thông công) nếu như người đó trên 18 tuổi và biết sẽ bị mắc vạ đó mà vẫn làm. Vạ tuyệt thông cấm người đó tham dự các bí tích như xưng tội, dự lễ và rước lễ, á bí tích, trừ trong trường hợp nguy tử (Giáo luật điều 1398, 1331, 1323, 1324).
Trong Năm Toàn Xá, Đức Thánh Cha ban phép cho tất cả các linh mục được quyền tha vạ tuyệt thông cho những người phạm tội phá thai, nếu những hối nhân tỏ ra thành tâm sám hối và dốc lòng chừa. Linh mục phải tha vạ trước (cất đi sự ngăn cản lãnh nhận bí tích) rồi mới đọc công thức xá giải (Do quyền năng đã được ủy thác, Cha tha vạ tuyệt thông cho con. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần). Hoặc đọc công thức xá giải với ý tha vạ cùng một lúc (...Vậy cha tha vạ và tha tội cho con. Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần).
b.2. Tha vạ tuyệt thông và tội dành riêng cho Tòa Thánh
Có những vạ tuyệt thông tiền kết sau đây mà chỉ có Tòa Thánh mới quyền tha:
+ Xúc phạm đến Mình Thánh hay Máu Thánh Chúa (Gl điều 1367)
+ Hành hung Đức Giáo Hoàng (Gl điều 1370, §1)
+ Xá giải cho người đồng lõa phạm điều răn thứ Sáu (Gl điều 1378)
+ Không có bổ nhiệm của Đức Giáo Hoàng mà phong chức hay chịu chức giám mục (Gl điều 1382)
+ Linh mục giải tội vi phạm trực tiếp ấn tín tòa giải tội (Gl điều 1388).
Có những tội mà chỉ có Tòa Thánh mới có quyền tha, ví dụ:
+ Linh mục dùng bí tích giải tội để quyến rũ hối nhân phạm tội với mình về điều răn thứ 6 (Gl điều 1387)
+ Người không có chức linh mục giả vờ để nghe xưng tội và cử hành Thánh lễ (Gl điều 1378, §2, 1o, 2o)
+ Linh mục vi phạm gián tiếp ấn tín tòa giải tội (Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những Qui Định Thiết Yếu, điều 4, §1,1o)
+ Đặt ghi âm hay dụng cụ để nghe lén xưng tội, hay truyền thông những điều được nói trong khi xưng tội (Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những Qui Định Thiết Yếu, điều 4, §2)
Những vạ và tội này sẽ được tha bởi các sứ giả lòng thương xót, sai đi bởi Đức Giáo Hoàng, trong mùa Chay 2016.
b.3 Tổ chức “24 giờ cho Chúa”
Các Giáo phận sẽ tổ chức 24 giờ liên tục giải tội cho các tín hữu từ thứ Sáu đến thứ Bảy trước Chúa Nhật IV mùa Chay để họ có thể giao hòa và lãnh nhận lòng thương xót Chúa.
c. Ơn toàn xá là gì?
Tội có 2 hình phạt: hình phạt đời đời (xa rời Thiên Chúa) và hình phạt tạm ở đời này như những hậu quả và vết thương của tội lỗi. Khi xưng tội, thì chúng ta được tha tội và hình phạt đời đời bởi tội, nhưng hình phạt tạm là những hậu quả xáo trộn bởi tội ở đời này thì vẫn phải chịu và phải đền tội.
Sách Giáo Lý Công Giáo dạy rằng: “Ân xá là sự tha thứ các hình phạt tạm do tội gây ra, mà các tội đó đã được tha. Các Kitô hữu đã chuẩn bị thích đáng được hưởng dưới những điều kiện được quy định qua hành động của Hội Thánh, như là thừa tác viên của ơn cứu độ, dùng quyền ban phát và áp dụng kho tàng ơn thánh của Ðức Kitô và các thánh. Ân xá có thể là tiểu xá hay toàn xá tùy thuộc việc xóa bỏ một phần hay tất cả những hình phạt tạm gây ra bởi tội lỗi” (GLCG 1471).
Như thế ân xá chỉ tha hình phạt tạm do tội đã xưng nhưng chưa đền đủ mà không tha tội. Ân xá có thể áp dụng cho những người đã qua đời.
d. Điều kiện để lãnh nhận ơn toàn xá trong Năm Thánh Lòng Thương Xót
d.1. Hành Hương và bước qua Cửa Thánh: Có 3 điều kiện sau đây:
1o. Làm một cuộc hành hương và bước qua Cửa Thánh (Cửa Thương Xót), như một dấu chỉ của sự thống hối chân thành.
2o. Xưng tội và hiệp dâng Thánh Lễ với một suy niệm về lòng thương xót.
3o. Tuyên xưng đức tin (có thể đọc kinh Tin Kính) và cầu nguyện cho Đức Thánh Cha và theo ý của ngài cho cả Hội Thánh và toàn thế giới.
d.2. Những cách thức khác để lãnh ơn toàn xá:
Trong thư gửi cho Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella, Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng Cổ Võ Tân Loan Báo Tin Mừng, Đức Phanxicô đã định như sau:
1o. Những ai làm một trong những việc của lòng thương xót - “14 mối thương người” - thì chắc chắn được ơn toàn xá.
2o. Những người đau yếu hay già cả, kết hợp đau khổ của mình với cuộc thương khó của Chúa, được gần gũi với Chúa, khi rước lễ, hoặc tham dự Thánh lễ hay một cuộc cầu nguyện chung, có thể qua các phương tiện truyền thông thì được ơn toàn xá.
3o. Những tù nhân có thể lãnh ơn toàn xá trong nhà nguyện của nhà tù khi hướng tâm trí và lời nguyện lên Chúa Cha mỗi lần bước qua cửa phòng giam.
4o. Ơn toàn xá có thể ban cho những người qua đời khi chúng ta nhớ đến và cầu nguyện cho họ trong Thánh lễ để họ có thể chiêm ngưỡng dung nhan thương xót của Chúa.
2. Thực thi lòng thương xót cho người khác
Chúng ta lãnh nhận lòng thương xót Chúa thì có đủ sức mạnh để thực thi lòng thương xót Chúa cho người khác. Việc thực thi lòng thương xót là hoa trái của niềm vui khi lãnh nhận lòng xót Chúa như khẩu hiệu của Năm Thánh: “Thương Xót Như Chúa Cha.”
Mối phúc của Chúa Giêsu: “Phúc cho những ai thương xót người, vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5: 7) là kim chỉ nam của suốt Năm Thánh.
Thực thi lòng thương xót là bản chất của Hội Thánh:
“Điều căn bản quyết định nhất cho Hội Thánh và sự đáng tin trong việc loan báo Tin Mừng của Hội Thánh là Hội Thánh phải sống và làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và cử chỉ của Hội Thánh phải chuyển tải lòng thương xót để động chạm đến trái tim của tất cả mọi người và khích lệ họ lần nữa tìm ra con đường dẫn đến Chúa Cha.
Chân lý đầu tiên của Hội Thánh chính là tình yêu Chúa Ki-tô. Hội Thánh biến mình thành tôi tớ và làm trung gian cho tình yêu ấy, tức tình yêu dẫn tới sự tha thứ và sự tự hiến. Như vậy, nơi đâu có sự hiện diện của Hội Thánh, thì lòng thương xót của Thiên Chúa Cha cũng phải trở nên rõ rệt tại đó. Trong các giáo xứ, các cộng đoàn, và các hiệp hội của chúng ta trên khắp thế giới, tức những nơi mà các Ki-tô hữu đang hiện diện, mỗi người thuộc bất cứ ốc đảo nào cũng đều phải có thể nhận ra được lòng thương xót” (Tông sắc Năm Thánh, số 12).
Cụ thể Đức Thánh Cha khuyến khích chúng ta như sau:
1o. Nghĩ đến và mở tâm hồn với những ai đang sống ngoài lề xã hội, những người không có tiếng nói, chịu bất công xã hội, những người “nhỏ bé”, đau khổ, bệnh tật, cô đơn, những người bị tước đoạt nhân phẩm ...
2o. Thực thi 14 mối thương người: cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho khách đỗ nhà, viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc, chôn xác kẻ chết, lấy lời lành mà khuyên người, dậy dỗ kẻ mu muội, yên ủi kẻ âu lo, răn bảo kẻ có tội, tha kẻ dể ta, nhịn kẻ mất lòng ta, cầu cho kẻ sống và kẻ chết.
3o. Đừng phán xét người khác, tha thứ và chia sẻ trong vui mừng.
V. Các Kinh Nguyện
Kinh đọc Trước Cửa Thánh Khi Hành Hương
(Đức Phanxicô đã đọc kinh này trước khi mở Cửa Thánh ngày 8/12/2015)
Lạy Thiên Chúa,
Đấng đã tỏ quyền năng vô biên của Chúa
trên hết qua lòng thương xót và tha thứ,
xin ban cho chúng con sống một năm hồng ân,
một thời gian thuận tiện để yêu mến Chúa và anh chị em
trong niềm vui của Tin Mừng.
Xin tiếp tục tuôn đổ Thánh Thần trên chúng con,
để chúng con không bao giờ mỏi mệt với tin tưởng,
hướng về Con Chúa làm người,
Đấng mà chúng con đã đâm thâu qua,
Đấng là Dung Nhan lòng thương xót không mỏi mệt của Cha,
Đấng là nơi nương náu an toàn cho tất cả chúng con,
là những kẻ tội lỗi khao khát lòng thương xót, bình an và sự thật sẽ giải thoát và cứu vớt chúng con.
Người là Cửa,
Qua đó chúng con đến được với Chúa,
Đấng là nguồn an ủi không bao giờ cạn cho mọi người,
Đấng là vẻ thiện mỹ không bao giờ phai,
Đấng là niềm vui tuyệt hảo của sự sống không bao giờ cùng.
Xin Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm khẩn cầu cho chúng con,
Mẹ là hoa trái đầu mùa và rạng ngời của chiến thắng Vượt Qua,
Mẹ là rạng đông sáng rực của trời mới và đất mới,
Mẹ là bến bờ hạnh phúc của cuộc lữ hành trần thế của chúng con.
Xin cho mọi danh dự và vinh quang
đều thuộc về Chúa là Cha chí thánh,
và Chúa Con, Đấng Cứu Độ chúng con,
và Chúa Thánh Thần, Đấng an ủi
bây giờ và cho đến muôn đời. Amen.
Kinh Năm Thánh Lòng Thương Xót
(Đức giáo hoàng Phanxicô)
Lạy Chúa Giêsu Kitô,
Chúa dạy chúng con phải có lòng thương xót như Cha trên trời,
và ai thấy Chúa là thấy Chúa Cha.
Xin tỏ cho chúng con thấy dung nhan của Chúa
và chúng con sẽ được cứu độ.
Ánh mắt đầy yêu thương của Chúa đã giải thoát ông Zakêu
và thánh Matthêu khỏi ách nô lệ bạc tiền;
làm cho người đàn bà ngoại tình và thánh Mađalêna
không còn tìm hạnh phúc nơi loài thụ tạo;
cho thánh Phêrô khóc lóc ăn năn sau khi chối Chúa,
và hứa ban thiên đàng cho kẻ trộm có lòng hối cải.
Xin cho chúng con được nghe
những lời Chúa đã nói với người phụ nữ Samaria,
như thể Chúa đang nói với mỗi người chúng con:
“Nếu con nhận ra hồng ân của Thiên Chúa!”
Chúa chính là gương mặt hữu hình của Chúa Cha vô hình,
Đấng biểu lộ quyền năng của Ngài
trước hết bằng sự tha thứ và lòng thương xót:
Xin làm cho Hội Thánh
phản chiếu gương mặt hữu hình của Chúa trên trái đất này.
Chúa là Đấng phục sinh vinh hiển.
Chúa đã muốn các thừa tác viên của Chúa
cũng mặc lấy sự yếu đuối
để có thể cảm thông với những người mê muội lầm lạc,
xin làm cho tất cả những ai tiếp cận với các ngài
đều cảm thấy họ đang được Thiên Chúa
quan tâm, yêu mến và thứ tha.
Xin sai Thần Khí Chúa đến
xức dầu thánh hiến mỗi người chúng con,
để Năm Thánh Lòng Thương Xót này
trở thành năm hồng ân của Chúa cho chúng con;
và để Hội Thánh Chúa, với lòng hăng say mới,
có thể mang Tin Mừng đến cho người nghèo,
công bố sự tự do cho các tù nhân và những người bị áp bức,
trả lại ánh sáng cho kẻ mù lòa.
Lạy Chúa Giêsu,
nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Mẹ của lòng thương xót,
xin ban cho chúng con những ơn chúng con đang cầu xin.
Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha
và Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.
Salve, Regina
Salve, Regina, mater misericordiae;
vita, dulcedo et spes nostra, salve.
Ad te clamamus exsules filii Hevae.
Ad te suspiramus gementes et flentes
in hac lacrimarum valle.
Eia ergo, advocata nostra,
illos tuos misericordes oculos ad nos converte.
Et Iesum, benedictum fructum ventris tui,
nobis post hoc exsilium ostende.
O clemens, o pia, o dulcis Virgo Maria.
Kinh Lạy Nữ Vương (Mẹ của lòng thương xót)
Lạy Nữ Vương Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà; Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mặt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc lạ.
Ôi khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Amen.
Vp Tòa TGM Hà Nội


Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

NGUỒN GỐC TẤM HÌNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT




Ngày 22/02/1931, tại tu viện Plock Thánh nữ Faustina đã được Chúa Giêsu hiện ra trong một thị kiến.

Trong nhật ký Thánh nữ có ghi: "Ðêm đó, tôi được nhìn thấy Chúa Giêsu hiện ra. Chúa Giêsu mặc một chiếc áo trắng với cánh tay phải giơ lên như đang chúc lành. Tay trái của Ngài đụng vào áo nơi trái tim, nơi mà hai ánh sáng chiếu tỏa ra, một tia màu đỏ và một tia màu trắng lạt. Thánh nữ nhìn thẳng vào Chúa không chớp mắt trong thinh lặng, linh hồn thánh nữ tràn ngập lòng kính sợ, nhưng cũng tràn đầy niềm vui khôn tả. Chúa phán với Thánh nữ: "Con hãy vẽ một bức hình, theo những gì con trông thấy đây, với lời ghi chú: Giêsu, con tín thác vào Chúa" (gốc tiếng Ba Lan là Jezu, Ufam Tobie, ta thường thấy bản dịch ra tiếng Anh là Jesus, I trust in you)

Thánh nữ đã hỏi Chúa về ý nghĩa của 2 luồng sáng đó, Chúa trả lời: "Những luồng ánh sáng trắng nhạt biểu hiện Nước, sẽ làm cho các linh hồn nên công chính đạo đức. Những luồng ánh sáng màu đỏ biểu hiện Máu, là sự sống của các linh hồn. Hai luồng ánh sáng này, phát xuất từ chốn sâu thẳm của lòng xót thương dịu dàng và êm ái nhất của Ta, lúc trái tim hấp hối Ta bị lưỡi thâu mở rộng ra. Phúc cho ai ẩn náu trong sự che chở của những luồng ánh sáng này, vì bàn tay công thẳng của Thiên Chúa không giáng phạt họ."

Sau đó, Thánh nữ đi hỏi mẹ Bề trên, và bà đã trả lời: "Con hãy vẽ Chúa đi".

Nhưng vì khả năng hạn hẹp nên dù đã cố gắng, không có bức vẽ nào đẹp.

Năm 1934, cha linh hướng Michal Sopócko của Thánh nữ liên lạc với một họa sĩ tên là Eugeniusz Kazimirowski ở Wilno, để vẽ lại ảnh Chúa theo sự mô tả của thánh nhân, nhưng không được như ý lắm. Đêm sau Chúa phán: "Giá trị của tấm ảnh này không căn cứ trên nét đẹp của màu sắc, nét vẽ, nhưng là ơn phúc của Ta. Đó là một nhắc nhở về lòng thương xót của Ta, Ta ban cho loài người con tàu để đưa họ tới nguồn suối xót thương và múc lấy mọi ơn phúc. Con tàu đó là tấm ảnh này."

Sau khi Thánh nữ Maria Faustina qua đời ngày 05/10/1938, hương thơm thánh thiện của thánh nhân lan tỏa nhiều nơi cùng với sự phổ biến rộng rãi việc thực hành lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa. Ngoài ra, nhiều người đã được những ơn lành Thiên Chúa ban cho qua lời cầu bầu của sơ Maria Faustina. Tuy nhiên, tiến trình dẫn đến việc phong thánh cho nữ tu Maria Kowalska gặp phải nhiều thử thách. Mặc dầu tại Ba Lan nhiều tín hữu rất sùng mộ và học hỏi sứ điệp Lòng Thương Xót Chúa được ghi lại trong nhật ký của thánh nữ, Toà Thánh đã từng lên án cuốn sách này là "lạc đạo" vào năm 1959. Ðiều đó cũng dễ hiểu bởi vì Tòa Thánh Roma nhận được một bản dịch nhật ký từ tiếng Ba Lan và được viết từ một người mới học hết lớp 3 (nữ tu Faustina là một người ít học nên nhật ký của thánh nữ hầu như chẳng có ghi dấu chấm phết nào cả).

Khi Ðức Cha Karol Wojtila (Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tương lai) trở thành Tổng Giám mục Krakow năm 1964, ngài đứng trước một tình trạng tế nhị. Dầu sao đi nữa, ngài rất quen thuộc với sứ điệp Thánh nữ Faustina phổ biến vì lúc còn là chủng sinh "chui" trong thời Ðệ Nhị Thế chiến khi Ðức Quốc Xã cai trị Ba Lan, ngài đã thường xuyên viếng thăm Ðền Lòng Thương Xót Chúa ở đồi Lagiewniki, Krakow, nơi thánh nữ Faustina từng cư ngụ và qua đời. Ðức Tổng Giám mục Karol Wojtila cho điều tra sự việc và sau đó cho dịch lại một bản mới nhật ký của sơ Faustina để gửi cho Toà Thánh. Nhờ đó, vào năm 1978 Toà Thánh đã rút lại lệnh cấm cuốn nhật ký của Faustina, chỉ sáu tháng trước khi Ðức Tổng Giám mục Karol được bầu làm Giáo hoàng.

Ngày 18/04/1993, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong Chân phước cho Nữ tu Faustina Kowalska sau khi một người phụ nữ tên Maureen Digan được chữa lành khỏi một bệnh di truyền về máu nhờ lời cầu bầu của nữ tu Faustina. Và cuộc phong thánh vào ngày 30/04/2000 với rất nhiều người tham dự là kết quả của một phép lạ chữa lành cha Ronald P. Pytel (Baltimore, Hoa Kỳ) khỏi bệnh tim. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi Thánh nữ Maria Faustina là "món quà của Thiên Chúa ban cho thời đại chúng ta". Trong bài giảng của buổi lễ phong thánh, Ðức Thánh Cha nói: "Tương lai của nhân loại trên mặt đất này sẽ ra sao? Chúng ta không được biết. Tuy nhiên, con người có thêm tiến bộ thì không may cũng không thiếu kinh nghiệm đớn đau. Nhưng ánh sáng của lòng thương xót Chúa sẽ chiếu sáng đường đi cho con người trong thiên niên kỷ thứ ba. Ðức Thánh Cha cũng đã chính thức công bố từ nay về sau Chúa nhật II Phục sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa. Trong bài giảng, Ðức Thánh Cha cho rằng chỉ khi nào con người cảm nhận được lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa dành cho nhân loại thì con người mới có thể "nhìn vào anh chị em của mình với đôi mắt mới, với thái độ vị tha và liên đới, đại lượng và tha thứ". Việc tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa hiện nay được phổ biến trong 29 quốc gia khắp thế giới (số liệu năm 2003) qua sự cổ võ hoạt động của khoảng 2 triệu thành viên trong tổ chức "Tông đồ Lòng Thương Xót Chúa" gồm các linh mục, tu sĩ và giáo dân.

Quyển nhật kí của sơ Maria Faustina sau này được biên tập và xuất bản lại dưới tựa đề: Divine Mercy in My Soul: The Diary of St. Faustina

Vào năm 1943, một họa sĩ tên là Adolf Hyla đã vẽ lại bức tranh Lòng Thương Xót Chúa, và đây là bức tranh chính thức thứ hai (được treo trên mộ của Thánh nữ Maria Faustina trong tu viện Our Lady of Mercy ở Cracow-Lagiewniki, Ba Lan), sau bức hình đầu tiên của họa sĩ Eugeniusz Kazimirowsk, bức này được lan truyền và sao chép lại khá giống với các bức hình mà ta thấy ngày nay. Ngoài ra, người ta còn cho rằng bức vẽ thứ ba cũng khá phổ biến là của họa sĩ người Mỹ - Robert Skemp, vẽ Chúa đứng trước một cánh cửa hình vòm.


PTH - Sưu tầm 
(Nguồn : dongkhiettam.org)

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

TÌM HIỂU NĂM THÁNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT



Logo_Nam_Thanh_Long_Thuong_Xot11- Năm Thánh trong lịch sử Giáo hội Công Giáo :
Trong truyền thống Do Thái cổ, Năm Hồng ân được tổ chức mỗi 50 năm, để khôi phục sự bình đẳng trong tất cả concái của Israel, tạo cơ hội mới cho các gia đình đã mất tài sản và cả tự do cá nhân nữa. Ngoài ra, Năm Hồng ân còn là lời nhắc nhớ cho những người giàu có rằng sẽ đến thời mà các nô lệ Do Thái của họ lại được bình đẳng với họ và có thể đòi lại quyền lợi của mình. "Công lý, theo Luật của Israel, trước hết là để bảo vệ những người yếu" (Thánh Gioan Phaolô II, Tertio millenio Adveniente 13).
Truyền thống Công giáo về Năm Thánh bắt đầu với Đức giáo hoàng Bônifaxiô VIII vào năm 1300. Đức Bônifaxiô VIII đã ấn định mỗi thế kỷ sẽ có một năm Thánh. Từ năm 1475, để giúp mỗi thế hệ đều được hưởng Năm Thánh, Năm Thánh thường lệ được cử hành mỗi 25 năm. Tuy nhiên, khi có một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt, Đức giáo hoàng có thể công bố mở Năm Thánh đặc biệt.
Cho đến nay, đã có 26 Năm Thánh thường lệ được mở, gần đây nhất là Năm Thánh 2000. Việc mở Năm Thánh đặc biệt có từ thế kỷ XVI. Trong thế kỷ vừa qua đã có hai Năm Thánh đặc biệt: năm 1933, do Đức giáo hoàng Piô XI công bố để kỷ niệm 1900 năm Ơn Cứu chuộc và năm 1983, do Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố vào dịp 1950 năm Ơn Cứu chuộc.
Hội Thánh Công giáo đã đem lại một ý nghĩa thiêng liêng hơn cho năm Hồng ân của Do Thái giáo, gồm có ơn tha thứ chung, ân xá dành cho mọi người, để canh tân mối quan hệ với Thiên Chúa và với tha nhân. Như vậy, Năm Thánh luôn là một cơ hội để đào sâu đức tin và canh tân chứng tá Kitô giáo.

2 - Năm Thánh Lòng Thương Xót :
Ngày 13 tháng Ba 2015, tại Đền thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố mở một"Năm Thánh đặc biệt" gọi là "Năm Thánh Lòng Thương xót". Năm Thánh bắt đầu với việc mở Cửa Thánh tại Đền thờ Thánh Phêrô vào ngày 08-12-2015, Đại lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, và kết thúc vào ngày 20-11-2016, Đại lễ Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ.
Đức Thánh Cha đã công bố mở Năm Thánh khi ngài giảng trong cử hành phụng vụ sám hối bắt đầu "24 giờ cho Chúa". Sáng kiến ​​này do Hội đồng Toà Thánh về Tân Phúc-Âm-hoá đề ra nhằm mời gọi các giáo hội địa phương trên toàn thế giới mở cửa nhà thờ trong hai ngày 13-14 tháng Ba 2015 để các tín hữu đến lãnh nhận bí tích Hoà giải và chầu Mình Thánh Chúa. Chủ đề "24 giờ cho Chúa" năm nay là "Thiên Chúa giàu lòng thương xót" (Êphêxô 2,4).Việc mở Năm Thánh 2015 diễn ra nhân dịp kỷ niệm 50 năm bế mạc Công đồng Vatican II vào năm 1965. Điều này thật ý nghĩa, vì Năm Thánh sẽ thúc đẩy Giáo hội tiếp tục công trình mà Vatican II đã khởi sự.
Với "Năm Thánh Lòng Thương xót", Đức Thánh Cha Phanxicô muốn đặt trọng tâm nơi lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng mời gọi các tín hữu trở về với Người. Gặp gỡ Chúa sẽ giúp chúng ta biết thực thi lòng thương xót

3 - Các việc cử hành trong Năm Thánh Lòng Thương Xót :
Nghi thức khai mạc Năm Thánh là việc mở Cửa Thánh. Cửa này là cửa chỉ được mở trong thời gian diễn ra Năm Thánh và đóng lại vào tất cả các năm khác. Bốn Đại Vương cung thánh đường ở Roma đều có Cửa Thánh, đó là các Vương cung thánh đường: Thánh Phêrô, Thánh Gioan Latêranô, Thánh Phaolô Ngoại thành và Đức Bà Cả. Nghi thức mở Cửa Thánh biểu trưng ý nghĩa: trong Năm Thánh, các tín hữu được ban cho một "con đường đặc biệt" để hưởng Ơn cứu rỗi. Các Cửa Thánh của các Vương cung thánh đường khác cũng sẽ được mở sau khi mở Cửa Thánh Vương cung thánh đường Thánh Phêrô.
Trong Năm Thánh, các bài đọc Thánh lễ Chúa nhật của Mùa Thường niên sẽ được lấy trong Phúc Âm theo Thánh Luca, người vẫn được gọi là "tác giả Phúc Âm của lòng thương xót". Dante Alighieri thì mô tả Thánh Luca là "scriba mansuetudinis Christi" (người kể lại nét dịu hiền của Chúa Kitô). Có rất nhiều dụ ngôn nổi tiếng về lòng thương xót trong Phúc Âm Thánh Luca: con chiên đi lạc, đồng tiền đánh mất, người cha đầy lòng thương xót.
Như một phương cách đề cao tầm quan trọng của sự tha thứ và canh tân mối tương quan của mỗi người chúng ta với Thiên Chúa, ơn toàn xá sẽ được ban trong Năm Thánh. Ân xá là việc tha các hình phạt tạm vì tội, thường được ban cho những tín hữu hành hương đến Rôma cùng với một số điều kiện khác: xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức giáo hoàng và thực hiện việc những việc bác ái đơn giản như thăm viếng bệnh nhân...
Những ai không thể hành hương đến Rôma cũng có thể được hưởng ân xá bằng cách xưng tội và rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức giáo hoàng, khi đi viếng hay tham dự một cử hành phụng vụ chung tại một nhà thờ được Đức giám mục địa phương chỉ định.

4 - Ý nghĩa Năm Thánh Lòng Thương xót:
Lòng thương xót là một chủ đề mà Đức Thánh Cha Phanxicô rất thường nói đến, như được thể hiện trong châm ngôngiám mục ngài đã chọn: "miserando atque eligendo" (Được thương xót và được chọn). Câu này trích từ bài giảng của Thánh Bêđa về sự kiện Chúa Giêsu nhìn thấy người thu thuế Mathêu và gọi ông đi theo Người: Chúa Giêsu thấy một người thu thuế, Người nhìn ông với ánh mắt thương xót và chọn ông, Người nói với ông: Hãy theo tôi! Đây là bài giảng tôn vinh lòng thương xót của Thiên Chúa.
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên sau khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói: "Dung mạo của Thiên Chúa là dung mạo của một người Cha đầy lòng thương xót, đầy nhẫn nại với chúng ta. Người thấu hiểu chúng ta, chờ đợi chúng ta và luôn tha thứ cho chúng ta mà không bao giờ mệt mỏi, nếu chúng ta chạy đến với Người với tâm hồn sám hối... Lòng thương xót sẽ biến đổi thế giới. Một chút lòng thương xót thôi cũng làm cho thế giới bớt lạnh lẽo và thêm công chính" (Kinh Truyền Tin, 17-03-2013).
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin ngày 11-01-2015, Đức Thánh Cha Phanxicô còn nói: "Ngày nay chúng ta rất cần đến lòng thương xót, Điều quan trọng là các tín hữu sống lòng thương xót ấy và đem vào các môi trường xã hội khác nhau.Anh chị em hãy lên đường! Chúng ta đang sống trong thời đại của lòng thương xót, đây là thời đại của lòng thương xót".
Rồi trong Sứ điệp Mùa Chay năm nay, Đức Thánh Cha cũng bày tỏ: "Tôi mong muốn biết bao rằng nơi nào Giáo hội hiện diện, đặc biệt là các giáo xứ và các cộng đoàn của chúng ta, nơi ấy sẽ trở thành những hải đảo thương xót giữa lòng đại dương vô cảm!"
Đức Thánh Cha Phanxicô đã uỷ thác cho Hội đồng Toà Thánh về Tân Phúc-Âm-hoá việc tổ chức Năm Thánh Lòng Thương xót. Tại Việt Nam, Hội đồng Giám Mục sẽ bám sát các họat động của Tòa Thánh và sẽ triển khai cụ thể trên các Giáo phận, Cộng đòan Lòng Chúa Thương xót Tổng Giáo phận chắc chắn sẽ tham gia các buổi cử hành các nghi thức trong Năm Thánh , bởi đây là cơ hội mà mỗi người được hưởng nhờ các ơn ích của Hội Thánh Chúa, đón nhận Lòng thương xót của Người .
Fx Đỗ Công Minh
Nguồn:  Báo Công Giáo

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2016

TRÊN ĐƯỜNG EMMAU

                                     

Phúc Âm: Lc 24, 13-35
Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".
Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.
Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.

*********


TRÊN ĐƯỜNG EMMAU

Hai người lữ khách Em-mau
Lê chân với nỗi sầu đau chiều tàn
Bao nhiêu hy vọng tiêu tan:
''Tiên Tri giải phóng Giang San'' bất thành!
Bỗng đâu có Chúa đồng hành!
Ngài liền hỏi họ đang tranh luận gì!
Ba người tiếp tục bước đi
Một người kể lại những gì xảy ra:
''...Đến nay là bữa thứ ba
Từ khi sự việc xảy ra không ngờ!
Mấy bà từ sáng tinh mơ
Ra mồ viếng Xác, ai ngờ trống không!
Mấy người bên phía đàn ông
Chạy ra thật lẹ, chẳng trông thấy gì!
Thiên Thần giải thích tại vì
Giê-su đã mãn tử kỳ, phục sinh!''
Ngài liền trách họ chậm tin:
''Giêsu khổ nạn mới vinh quang mà
Như Lời Kinh Thánh chép ra
Từ Mai-sen đến các Nhà Tiên Tri!''
Ba người lại tiếp tục đi
Chúa còn giảng giải tới khi đến nhà
Vào bàn, Chúa bẻ bánh ra
Sau khi chúc tụng thiết tha bằng lời
Rồi Ngài trân trọng trao mời
Hai người dùng bữa cho vơi nỗi sầu
Bỗng nhiên Ngài biến đi đâu!
Hai người sửng sốt, bắt đầu vững tin
Giêsu đã bị đóng đinh
Để rồi sống lại hiển vinh muôn đời:
''Tim ta chẳng nóng vì Lời
Mà Ngài đã nói về đời Ngài sao?''
Hai người hớn hở biết bao
Đi tìm các bạn để rao Tin Mừng!

***
Đaminh Phan văn Phước

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2016

Ý NGHĨA CÁC BIỂU TƯƠNG LỄ PHỤC SINH

Lửa phục sinh (Osterfeuer/ Easterfire) 
Người ở vùng quê sống đời nông nghiệp vui mừng mùa đông giá lạnh đi qua, xuân đến bắt đầu gieo trồng rồi gặt hái. Nguồn gốc lửa phục sinh ngày xưa được đốt lên từ những cánh đồng trong đêm đầu tiên phục sinh, từ đó sẽ thắp lên ánh nến phục sinh. Ngọn lửa sưởi ấm mùa đông dài lạnh lẽo vì thời xa xưa không đủ tiện nghi như ngày nay có lò sưởi điện. Người Ai Cập từng tôn thờ thần mặt trời, họ xem ánh lửa như thần thiêng. Miền bắc Na Uy không có mặt trời, mặt trời tái xuất hiện vào cuối tháng giêng khoảng 4 phút, học sinh ở Trombo nghỉ học một ngày để chào mừng ánh mặt trời. Ngược lại, mùa hè đêm 23 tháng 7 thì mặt trời không hề lặn, không có mặt trời thì trên trái đất này sẽ không có sự sống, vì thế ánh lửa phục sinh cũng là nguồn sống của con người.
Lửa phục sinh tượng trưng cho ánh sáng mới mà Chúa đã mang đến cho chúng ta. Từ năm 750, ở Pháp đã có phong tục đốt lửa phục sinh.

Nến phục sinh (Osterkerze/ Eastercandle) 
Các Tôn giáo đều sử dụng nến (đèn cầy) để đốt sáng trên bàn thờ. Ánh sáng nến có thể đem vào nơi tối tăm. Năm 384, lần đầu tiên ở Piacenca thánh Hiêrônimô (347- 419) viết về ý nghiã biểu tượng của nến phục sinh là sự sống. Đến năm 417, Đức Giáo Hoàng Zosimus cùng công nhận biểu tượng đó là sự chết và sống lại của Chúa Giêsu. Từ thế kỷ thứ 7, thánh địa La Mã công nhận và sử dụng nến phục sinh, cho đến thế kỷ thứ 10 được các quốc gia theo đạo Thiên Chúa sử dụng cho đến ngày nay. 
Nến Phục sinh được đốt lên từ đống lửa trước nhà thờ trong đêm phục sinh được thánh hóa theo phong tục lâu đời. Nến đốt sáng được rước vào nhà thờ, các tín hữu sẽ thắp nến của mình từ cây nến phục sinh. Cả nhà thờ được rực sáng bởi ánh nến là dấu hiệu của sự sống, chiến thắng tội lỗi và sự chết. Trên nến có cắm 5 dấu đinh, phía trên ghi mẫu tự Alpha và bên dưới mẫu tự Omega với ý nghĩa: Khởi nguyên và tận cùng của tiếng Hy Lạp. Điều đó tượng trưng cho Chúa Giêsu là khởi đầu và cuối cùng. Chung quanh cây nến ghi số năm với ý nghĩa "Chúa Giêsu là Đấng cứu độ: Hôm qua, hôm nay và mãi mãi". Trong các lễ nghi phụng vụ của Giáo Hội như Rửa tội hay An táng, nến phục sinh được thắp sáng. 

Trứng (Ostereier/ Easter egg) 
Từ thế kỷ thứ 12, Thứ bảy phục sinh (Ostersamstag) người ta có thói quen luộc trứng gà chín và sơn màu sắc sặc sỡ: màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn; màu xanh cho hy vọng, trẻ trung vô tội; màu vàng cho sự khôn ngoan; màu trắng thể hiện sự thanh bạch và màu cam thể hiện sức mạnh. Trong lễ Phục Sinh, người ta bỏ những quả trứng đó vào trong giỏ với những thức ăn khác để mang đến nhà thờ.
Trứng còn là biểu tượng cho sự khởi nguyên của sự sống, bởi vậy theo truyền thuyết, người chết được tẩm liệm trong quan tài hình quả trứng, biểu tượng cho sự cứu chuộc và sự sống đời sau. Cũng chính vì vậy mà trên nắp quan tài, người ta thường cúng cơm với trứng gà.
Sau cùng, người ta quan niệm con gà con tự mổ vỏ trứng chui ra, cũng vậy, Chúa Giêsu sau khi bị hành hạ, đánh đập rồi bị đóng đinh vào thập giá, Ngài đã thực sự chết và sau ba ngày, Ngài đã đội cửa mồ và sống lại.

Thỏ phục sinh Osterhase/ Easter bunny 
Thỏ vốn là con vật hiền lành, không làm hại sinh vật nào bao giờ. Thỏ không có khả năng tấn công hoặc gây nguy hại cho các loài động vật khác, nhưng lại thường xuyên bị những con như sói, báo, chim ưng, cú... uy hiếp. Chính vì vậy, thỏ thường xuyên phải vểnh tai để chú ý xem bốn phía chung quanh nhằm đề phòng bất trắc. Chính vì vậy mà đôi tai của thỏ đặc biệt to dài nghe rất thính để chạy trốn khi nghe tiếng động trước sự tấn công. 
Nữ thần ái tình Hy Lạp "Liebesgưttin Aphrodite" cho đến Nữ Thổ Thần Nhật "Erdgưttin Holda" đều yêu chuộng thỏ. Ở Byzanz - Tây Ban Nha các nhà biểu tượng học xem biểu tượng con thỏ là một Thiên sứ.
Các nhà sinh vật học cho biết thỏ sinh sản nhiều, nên được xem là biểu tượng của sự sinh nở phong phú. Một con thỏ mẹ hàng năm có thể đẻ 20 thỏ con. Mùa xuân đến, các chú thỏ non vào tận trong vườn để tìm thức ăn. Trong lễ Phục Sinh, người lớn đã đem giấu những quả trứng phục sinh được sơn nhiều màu trong các khu vườn, rồi cắt nghĩa rằng: những quả trứng đó là do các chú thỏ mang tới.
Thành phố Zurich (Thụy Sĩ) là nơi phát xuất ra chú thỏ và cái trứng trong mùa phục sinh. Từ năm 1875, các hãng sản xuất kẹo bánh đã làm những chú thỏ bằng schololate.

Hoa phục sinh 
Người Đức thường dùng cành cây tươi, treo những cái vỏ trứng gà, sơn nhiều màu và những con thỏ nhỏ bằng schocolat cho trẻ em và các loại hoa thường dùng như: Thủy tiên, Cúc đồng, Bồ công anh…
(Góp nhặt)
(Nguồn : giaophanthaibinh.org)