Thứ Tư, 2 tháng 11, 2016

PHƯƠNG PHÁP DẠY CON CỦA NGƯỜI DO THÁI

Phương pháp dạy con của người Do Thái:

- Nguyên tắc:
  • Để trẻ tự phát triển có bản lĩnh, thực sự mạnh mẽ trong đường đời.
  • Học đi đôi với thực tiễn (không lý thuyết suông).
  • Luôn tôn trọng con.
  • Không thỏa mãn các mong muốn của con.
  • Là quân sư cho con (hướng dẫn, tư vấn) không bao bọc, làm thay con mọi việc.
- Phương pháp dạy con:
  • Dạy con làm việc nhà từ nhỏ tùy theo lứa tuổi (trẻ 2 tuổi đã có thể tự phục vụ bản thân).
  • Dạy con tư duy vượt khó.
  • Khích lệ, động viên con khi hoàn thành tốt một công việc nào đó (mặc quẩn áo, chải răng, làm việc nhà…).
  • Khuyến khích con đưa ra ý tưởng riêng, thậm chí tranh luận với người lớn.
  • Khuyến khích con đặt câu hỏi để giúp con luôn sáng tạo, linh động...
  • Để trẻ thử điều mới và hiểu rằng không phải mọi việc đều thành công.
  • Khi trẻ làm sai, không phán xét trẻ, để trẻ học hỏi từ thất bại của chính mình và tìm ra cách giải quyết tốt hơn cho lần sau.
Người Do Thái dạy con như thế nào?
Người Do Thái cho con thử điều mới và hiểu rằng không phải mọi việc đều thành công. (Ảnh minh họa).
Những “hạn chế” trong cách giáo dục con của người Việt:
  • Bao bọc con quá mức.
  • Luôn “nhân nhượng” với những yêu cầu của con.
  • Đầu tư toàn bộ thời gian cho con học tập, nghỉ ngơi, dẫn đến tình trạng con không biết làm việc nhà, lười vận động…
  • Quá coi trọng bằng cấp và thiếu thực tiễn xã hội.
  • Do tập quán sinh sống 3 thế hệ (ông bà, cha mẹ, con cái) trong cùng một gia đình nên việc giáo dục con đôi khi không được đồng nhất….
Chuyên gia giáo dục Lại Thị Hải
“Phương pháp giáo dục trẻ của các bà mẹ Do Thái khá đặc biệt. Họ dành cho con "tình yêu đống lửa" - tức là sự nhen nhóm, khích lệ chứ không phải chỉ là cảm giác an toàn, bao bọc kiểu "tình yêu tử cung" như phần lớn các bà mẹ Việt".
Người mẹ Do Thái nói rằng “phụ huynh 100 điểm không bằng phụ huynh 80 điểm”. Có ba điều mà người mẹ không nên làm với con là: Không thỏa mãn trước; Không thỏa mãn tức thời; Không thỏa mãn quá mức yêu cầu của con.
"Cha mẹ ẩn giấu 20% tình yêu con để trở nên lý trí, khoa học, nghệ thuật trong cách dạy con. Ở Israel có những trường quý tộc nhưng lại đào tạo và rèn luyện cho học sinh biết được khó khăn, thử thách. Có một chỉ số được các vị phụ huynh đánh giá cao ở trẻ là AQ - chỉ số vượt khó. Càng con nhà khá giả càng cần rèn luyện chỉ số này".
Người Do Thái dạy con như thế nào?
Người Do Thái dạy con tự vượt qua khó khăn, thử thách. (Ảnh minh họa).
Người Israel tự đưa ra công thức cho chỉ số vượt khó AQ của họ là: 20% IQ + 80% (AQ + EQ) = 100% thành công. (IQ:chỉ số thông minh, EQ: chỉ số cảm xúc). Họ tin rằng điểm số tốt nghĩa là trường học tốt, trường học tốt sẽ có tấm bằng đẹp, tấm bằng đẹp sẽ có công việc tốt, nhưng công việc tốt khác với người có sự nghiệp thành công.
Những bà mẹ Do Thái luôn nhớ câu châm ngôn “Con lừa thồ sách”, ý muốn gửi một thông điệp tới các con rằng: “Nếu chỉ đọc sách mà không ứng dụng nó trong cuộc sống thì cũng chỉ là trí tuệ chết mà thôi”.
Ngoài ra, người Do Thái còn có câu nói nổi tiếng: "bố mẹ đừng làm quản gia mà hãy làm quân sư cho con" ý nói hãy chỉ hướng dẫn, tư vấn cho con, đừng quá bao bọc và làm thay con mọi việc. Tuyệt đối không rơi vào căn bệnh 421 (4 ông bà nội ngoại, 2 bố mẹ vây quanh 1 đứa trẻ) vì điều đó chẳng khác cha mẹ sẵn sàng là nô lệ của con và chỉ đầu độc con mà thôi. (Bà Meirav Eilon Shahar, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Israel tại Việt Nam).
Ở bất kỳ đâu trên thế giới, cha mẹ và giáo viên luôn là hình mẫu gần gũi của trẻ, vì thế có mối liên hệ tự nhiên, ý nghĩa giữa cha mẹ và con cái.
Việc giáo dục trẻ ngày nay phức tạp hơn trước đây nhiều. Thế giới ngày nay thay đổi chóng mặt và người làm cha mẹ đôi khi không bắt kịp. Trẻ có thể tiếp cận với nhiều thông tin, có khi đi trước bố mẹ một bước, chúng ngày càng độc lập và phụ huynh không thể áp đặt, nhưng vẫn phải giữ vững vị trí là người đi đầu, hướng dẫn.

Có một điều chung cần thực hiện là các con đều cần được tôn trọng. Bố mẹ khuyến khích trẻ đưa ra ý tưởng riêng, có thể ra ngoài những khuôn mẫu thông thường, thậm chí tranh luận với người lớn. Khuyến khích con đặt câu hỏi để giúp con luôn sáng tạo, linh động...Động viên con tham gia các hoạt động ngoại khóa để trẻ phát huy các thiên hướng và những sở trường của mình.
Trẻ em ngoài nghĩa vụ còn có các quyền lợi: được tôn trọng, được thất bại, được có ý kiến. Nên đặt trách nhiệm cho con nhưng chỉ vừa sức vì trẻ con luôn cần được vui chơi. Bố mẹ tạo điều kiện tốt nhất cho con, ai cũng muốn con cái thành công nhưng chỉ là người tư vấn, khuyên bảo chứ không ép buộc.
Lời kết
Giáo dục con trẻ ngoài tình yêu thương, đòi hỏi cha mẹ cần có một phương pháp giáo dục khoa học. Trong đó, người Do Thái dạy con là một khuôn mẫu điển hình.
Người Việt Nam, do truyền thống dân tộc (3 thế hệ cùng chung sống trong một gia đình) nên đôi khi việc giáo dục con cái gặp trở ngại do mỗi người một tư tưởng khác nhau…Mặt khác, do yêu thương, chiều chuộng con mà đa phần bố mẹ đã “tranh”làm hết các việc của con khiến con lười vận động và thiếu “thực tiễn”.
Cách dạy con của người Do Thái với các tư duy: dạy con tự lập, học đi đôi với hành, vượt khó khăn, thử thách…. bố mẹ giữ vai trò quân sư cho con đã mang lại thành công, trí tuệ, sự thông minh cho dân tộc chỉ có chưa đến 14 triệu dân và là bài học quý báu để chúng ta tham khảo về cách nuôi và dạy con một cách tốt nhất.
Theo Benh.vn

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2016

TALMUD – TINH HOA TRÍ TUỆ DO THÁI


Trong lịch sử nhân loại, có thể nói không một dân tộc nào chịu nhiều khổ nạn, phải phiêu bạt khắp nơi… mà vẫn viết nên trang sử văn minh rực rỡ như dân tộc Do Thái.

Nếu hỏi người Do Thái: “Thứ quan trọng nhất đối với con người là gì?”, thì họ sẽ trả lời: “là trí tuệ”. Trí tuệ đến từ truyền thống tôn giáo của người Do Thái, cho nên nó chiếm vị trí quan trọng trong lòng họ.
Thông thường, khi trẻ em Do Thái chưa trưởng thành, các bậc cha mẹ đã dạy chúng rất sâu sắc rằng trí tuệ quan trọng hơn của cải và địa vị.

“Nếu một ngày kia nhà con bị cháy, của cải bị cướp sạch thì con sẽ mang cái gì đi trốn?”, người mẹ hỏi.
“Tiền”, một đứa bé đáp.
“Kim cương”, đứa khác trả lời.
“Có một thứ không hình dạng, không màu sắc, không mùi vị, các con có biết là gì không?”, người mẹ hỏi tiếp.
Bọn trẻ suy nghĩ mãi mà chưa tìm được đáp án.
Người mẹ cười nói tiếp: “Các con ạ, thứ các con mang đi không phải là tiền, cũng không phải là kim cương, mà là trí tuệ. Trí tuệ là thứ không ai cướp đi được, chỉ cần con còn sống thì trí tuệ sẽ mãi mãi theo con, dù đi đến đâu các con cũng không mất nó”. Rất nhiều bà mẹ người Do Thái đã dạy con cái mình như vậy. Cho nên, quan niệm về trí tuệ đã bắt rễ sâu trong lòng người Do Thái. Trong xã hội của Do Thái, gần như ai cũng cho rằng học giả vĩ đại hơn Quốc vương và vĩ đại hơn phú ông rất nhiều.

Dân tộc Do Thái rất coi trọng học vấn, nhưng so với trí tuệ thì học vấn cũng thấp hơn, họ ví những người chỉ có tri thức mà không có trí tuệ là “con lừa cõng rất nhiều sách vở”. Đối với người Do Thái, loại người này dù có nhiều tri thức, nhưng chẳng ích gì. Nếu chỉ thu thập nhiều tri thức mà không sử dụng, thì coi như chỉ chất đống sách vở mà không dùng, cũng là một sự lãng phí. Người Do Thái cũng coi nhẹ việc học tập thông thường, họ cho rằng học tập thông thường chỉ là một sự bắt chước chứ không phải là sáng tạo. Trên thực tế, học tập phải là nền tảng của suy nghĩ.

Thành công không chỉ bắt nguồn từ tri thức
Trí tuệ quan trọng hơn tri thức, vậy trí tuệ bắt nguồn từ đâu? Theo kinh nghiệm của người Do Thái, trí tuệ bắt nguồn từ học tập, quan sát và suy nghĩ. Điều này thật đơn giản và có vẻ sáo rỗng, nhưng sự thực chứng minh rằng việc càng đơn giản càng khó thực hiện tốt. Dưới đây chúng ta sẽ xem xét cụ thể:

Một là phải học tập
Học tập để rèn luyện tâm tính và tư duy của con người, chỉ có không ngừng học tập thì mới giúp chúng ta ở vào trạng thái không ngừng đổi mới, hoàn thiện mình. Người Do Thái coi học tập là nghĩa vụ, coi giáo dục là “kính thần”, chúng ta biết rằng tri thức bắt nguồn từ thực tiễn và kinh nghiệm, nhưng cá nhân do hạn chế bởi không gian thời gian và cả bản thân, nên không thể việc gì cũng tự mình thực hiện và trải nghiệm, mà phần lớn là học tập kinh nghiệm của người khác. Sách vở rõ ràng là công cụ chủ yếu chuyển tải kiến thức, nó là kho tri thức mới, kỹ thuật mới và thông tin, nó làm phong phú đầu óc và khơi gợi tư duy. Do đó, học tập là điều kiện trước tiên để có trí tuệ.

Hai là phải biết quan sát.
Chỉ khi chúng ta dùng tri thức để quan sát thế giới, phân tích vấn đề thì nó mới là tri thức “sống”; chỉ khi thông qua mối quan hệ giữa cảm quan và tư duy của con người với sự vật và vấn đề hoặc hiện tượng tồn tại thì tri thức mới thể hiện được giá trị của nó. Cho nên, quan sát là bước quan trọng trong việc học cách sử dụng tri thức.

Ba là phải biết suy nghĩ.
“Suy nghĩ” không đơn thuần chỉ là sự lý giải tri thức, mà quan trọng hơn là một sự phản ứng với hoàn cảnh, đối với sự biến đổi, hàng ngày chúng ta phải trải qua sự thay đổi, luôn nghe thấy vô vàn sự thay đổi, thế nhưng, mấy người trong chúng ta phát hiện được quy luật của sự thay đổi và dự kiến được xu thế thay đổi? Phải nói là, biết suy nghĩ là mức độ cao nhất của trí tuệ, nó chỉ có thể đạt được trên cơ sở tri thức được hiểu, nắm bắt và biết học một biết mười, đồng thời còn phải dựa vào năng lực trực giác nhạy bén và tầm nhìn cũng như tấm lòng rộng rãi.

Thứ Hai, 31 tháng 10, 2016

9 ĐIỀU BỐ DẬY CON THẤM THÍA TỪNG CÂU CHỮ





1. Trong cuộc sống, sẽ có những người tử tế với con, nhưng cũng không thiếu những kẻ muốn hãm hại con. Hãy trân trọng và biết ơn người đã giúp đỡ mình, song đừng mù quáng tin tưởng họ trọn vẹn. Nên tìm hiểu kĩ động cơ thực sự của họ và luôn tỉnh táo, con nhé. Ngoài ra, đừng oán hận những ai đối xử tệ với con; bởi nhờ họ mà con sẽ học được cách trân quý hơn những người đã nâng đỡ mình.
2. Đừng quá gắn bó với bất cứ thứ gì đến mức quỵ lụy, có gì mất đi mà không thể thay thế? Bố mong con hãy hiểu điều này để đứng vững trên đường đời – kể cả khi tất cả mọi thứ bỗng chốc rời xa con.
3. Đời người ngắn ngủi, con đừng để phí hoài tuổi thanh xuân vào những chuyện không cần thiết. Hãy cố sống trọn vẹn cuộc đời mình thật ý nghĩa, để sau này nhìn lại không phải luyến tiếc điều gì.
4. Thời thế luôn đổi thay, và tình cảm cũng vậy. Con sẽ buồn khi nghe sự thật này, nhưng không có gì là mãi mãi cả đâu, con à. Nếu một ngày nào đó con đánh mất người phụ nữ mình yêu nhất đời, bố hi vọng con vẫn tìm được cách vực dậy bản thân và tiếp tục chặng đường phía trước. Thời gian sẽ là liều thuốc đắc lực nâng đỡ bước chân con.
5. Bố biết những danh nhân, những con người vĩ đại không phải lúc nào cũng học hành đến nơi đến chốn, song con đừng vin vào cớ đó mà bỏ bê việc học của mình. Kiến thức là tài sản vô giá, mong con hãy chinh phục bến bờ này bằng tất cả nỗ lực và quyết tâm.
6. Điều cha mẹ thực sự mong muốn là sự trưởng thành của con cái mình. Bố mong con có thể tự lo cho bản thân trong mọi hoàn cảnh. Những cố gắng con bỏ ra sẽ được đáp đền bằng cuộc sống sung túc hay nghèo nàn, tất cả quyết định nằm trong tầm tay con.
7. Hãy đối xử tốt với mọi người như điều con thực sự muốn, và đừng mong họ đền đáp. Nếu hành xử tốt với họ chỉ vì mục đích cá nhân, điều này sẽ làm hỏng bản chất con người. Nếu chỉ tốt với họ và mong mỏi được đáp trả, con hãy nghĩ mà xem – việc ấy có khác nào một sự đổi chác? Hãy học cách cho đi mà không cần nhận lại, tin bố, lúc ấy tâm hồn con sẽ luôn thanh thản.
8. Đừng trông đợi vào may mắn để “đổi đời”, mà hãy làm điều đó bằng chính đôi tay và khối óc của mình. Nhiều người mua vé số và mòn mỏi chờ đợi may mắn mỉm cười, song việc đó có thể kéo dài đến hết cuộc đời họ mà không mang lại kết quả gì. Đừng “há miệng chờ sung” mà hãy tự mình hành động, con nhé!
9. Cuối cùng, điều bố muốn nhắc nhở con chính là: Gia đình là vô giá. Hãy trân trọng và nâng niu những người thân đã hết lòng vì con, luôn dang rộng cánh tay chào đón con, và sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm con phạm phải. “Vì gia đình này sẽ chẳng còn đến kiếp sau…”, bố mong con nhớ lấy!
(Theo Yan)

Chủ Nhật, 30 tháng 10, 2016

ÁNH MẮT YÊU THƯƠNG


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN C - 30/10/2016

                                                                     ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt
Mỗi khi đọc câu chuyện ông Giakêu, tôi ngỡ ngàng trước ánh mắt của Chúa Giêsu khi Ngài nhìn lên ông Giakêu trên cây sung. Ánh mắt ấy có sức mạnh kỳ lạ. Ánh mắt ấy chất chứa bao tâm tình. Chỉ trong một ánh mắt cuộc đời Giakêu hoàn toàn biến đổi.
Đó là ánh mắt quan tâm. 
Chúa Giêsu vào thành Giêricô. Giêricô là một thành phố rộng lớn, người đông đúc, buôn bán sầm uất. Một đám đông lớn đi theo Chúa Giêsu. Trong khi đó ông Giakêu thật bé nhỏ. Nên ông phải leo lên cây sung để nhìn Chúa. Thật lạ lùng. Giữa đám đông mênh mông ấy, Chúa vẫn nhìn thấy ông Giakêu, dù ông thấp lùn. Giữa muôn người, Chúa chỉ tìm Giakêu. Lại còn biết rõ tên ông. Điều đó chứng tỏ Chúa quan tâm tới Giakêu, dù ông bé nhỏ trong một đám đông hỗn độn. Giakêu chắc chắn cảm thấy ấm lòng vì ánh mắt quan tâm của Chúa.
Đó là ánh mắt khiêm nhường
Hãy tưởng tượng cảnh Chúa ngước lên nhìn Giakêu. Chúa nhìn lên. Giakêu nhìn xuống. Thật là một cảnh tượng phi thường. Người có tầm vóc cao lớn phải ngước nhìn lên mới gặp ánh mắt người thấp bé. Thiên Chúa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được phàm nhân. Đấng vô cùng thánh thiện phải ngước mắt nhìn lên mới gặp kẻ tội lỗi tầy trời. Tạo hóa phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được thụ tạo. Đấng Cứu Độ phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được cứu. Đấng tha tội phải ngước mắt nhìn lên mới gặp được kẻ cần được thứ tha. Thật là một sự khiêm nhường thẳm sâu. Giakêu chắc chắn phải choáng váng vì ánh mắt khiêm nhường của Chúa.
Đó là ánh mắt tha thứ.
Nguyên một việc quan tâm tìm kiếm cũng đã chứng tỏ Chúa tha thứ cho ông rồi. Huống hồ Chúa còn khiêm tốn ngước nhìn lên. Hơn thế nữa Chúa còn ngỏ lời muốn đến thăm nhà ông. Giakêu chưa tìm Chúa thì Chúa đã tìm Giakêu. Giakêu chưa gọi Chúa thì Chúa đã gọi Giakêu. Giakêu chưa mời thì Chúa đã ngỏ ý đến nhà. Giakêu chưa xin lỗi thì Chúa đã tha thứ. Ánh mắt tha thứ mới khoan dung độ lượng và ấm áp làm sao. Giakêu chắc chắn tràn đầy niềm hối cải khi nhìn vào ánh mắt tha thứ của Chúa.
Đó là ánh mắt tin tưởng
Chúa Giêsu nhìn Giakêu bằng ánh mắt tin tưởng. Tin tưởng nên không nhìn về quá khứ mà chỉ hướng về tương lai. Chúa quên hết tội lỗi của ông. Hơn thế nữa Chúa tin rằng ông sẽ nên người tốt. Chúa tin rằng ông sẽ làm lại cuộc đời. Chúa tin vào tương lai của ông. Nên Chúa đã nhìn ông. Nên Chúa tha thứ cho ông. Nên Chúa kết thân với ông. Trước ánh mắt tin tưởng của Chúa, chắc chắn Giakêu sẽ cương quyết làm lại cuộc đời.
Đó là ánh mắt yêu thương
Tất cả sẽ không thể giải thích được nếu không có tình yêu. Chúa quan tâm tới Giakêu vì Chúa yêu thương ông, như người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc. Chúa khiêm nhường vì Chúa yêu thương ông, như người cha cõng con trên vai. Chúa tha thứ vì Chúa yêu thương ông, như người cha sẵn sàng chờ đón đứa con hoang đàng. Chúa tin tưởng vì Chúa yêu thương ông, như người mẹ không khi nào nói rằng con mình xấu, dù nó phạm tội trăm lần. Chúa nhìn ông bằng ánh mắt yêu thương. Ngập tràn trong yêu thương, trái tim Giakêu bừng lên ngọn lửa yêu thương. Đời ông được đốt cháy trong yêu thương. Nên ông đã đáp lại tình yêu thương của Chúa. Vì yêu mến Chúa mà ông yêu thương đồng loại. Yêu thương nên đền bù thiệt hại. Yêu thương nên chia sẻ chân thành.
Lạy Chúa, Chúa luôn nhìn con bằng ánh mắt yêu thương. Xin cho con biết nhìn vào mắt Chúa, nhận ra tình yêu thương của Chúa và biến đổi cuộc đời như ông Giakêu.


Thứ Bảy, 29 tháng 10, 2016

AI TRẢ LỜI ĐƯỢC CÂU HỎI NÀY CỦA NGƯỜI DO THÁI ?


    Có một anh sinh viên thành tích học tập rất tốt, không có môn nào bị dưới điểm A. Anh ta lại vô cùng ham học hỏi, thấy gì hay là muốn học liền. Một ngày nọ, anh ta đọc được vài trang trong cuốn sách Talmud - Trí tuệ của người Do Thái -  thấy hay quá, bèn quyết định đến tìm một giáo sĩ Do Thái nổi tiếng ở thành phố nơi anh ta sống để xin được giảng dạy thêm.
    Trước khi giúp anh sinh viên, giáo sĩ nói, đây là quyển sách sâu sắc nhất về trí tuệ của người Do Thái, do đó ông sẽ thử kiểm tra trí thông minh của anh chàng bằng một câu hỏi, rồi mới quyết định có giúp anh ta nghiên cứu cuốn sách hay không.

    Anh sinh viên đồng ý và giáo sĩ đặt câu hỏi:
    - Hai người đàn ông cùng leo ra khỏi một ống khói, một người mặt mũi sạch sẽ còn một người lại nhem nhuốc, dính đầy muội than. Ai sẽ là người đi rửa mặt?
    Anh sinh viên nhanh nhảu đáp:
    - Người mặt bẩn sẽ đi rửa mặt! Đây mà cũng được gọi là một câu hỏi ư?
    Giáo sĩ thủng thẳng trả lời:
    - Sai rồi. Người mặt sạch sẽ đi rửa mặt. Người mặt bẩn nhìn thấy người mặt sạch nên nghĩ mặt mình cũng sạch. Người mặt sạch nhìn người mặt bẩn nghĩ rằng mặt mình cũng bẩn nên anh ta đi rửa mặt.

    Anh sinh viên há miệng ngạc nhiên, xin thêm một cơ hội nữa. Giáo sĩ vẫn đưa ra câu hỏi y hệt ban đầu. Lần này, anh sinh viên trả lời: "Không phải vừa mới nói người mặt sạch đi rửa mặt đấy sao!"
    Giáo sĩ chỉ cười rồi đáp:
    - Cả hai cùng đi rửa mặt. Người mặt sạch nhìn thấy người mặt bẩn, nghĩ mặt mình cũng bẩn nên đi rửa mặt. Sau đó người mặt bẩn thấy người mặt sạch đi, cũng liền đi theo.
    ​
    Sự thông tuệ của người Do Thái là điều khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.
    Anh sinh viên không biết nói năng ra làm sao nữa, bèn năn nỉ xin một câu hỏi khác. Vị giáo sĩ vẫn chỉ hỏi lại câu hỏi ban đầu.
    - Trời ơi, rõ ràng nói hai người cùng đi rửa mặt mà!
    Giáo sĩ lại lắc đầu, đáp:
    - Vẫn chưa đúng. Chẳng ai trong số họ đi rửa mặt cả. Người mặt bẩn nhìn thấy người mặt sạch nên anh ta cũng nghĩ mình không bị nhem nhuốc, nên không đi rửa mặt. Còn người mặt sạch thấy người mặt bẩn không rửa mặt thế thì mình cũng cần gì phải rửa nữa.

    Anh sinh viên không còn tin vào tai mình nữa. Tất cả câu trả lời của anh ta đều sai, anh ta cố đấm ăn xôi, năn nỉ giáo sĩ cho anh ta thêm một cơ hội cuối cùng. Giáo sĩ đồng ý và vẫn chỉ hỏi câu hỏi y hệt như cũ. Anh sinh viên tuyệt vọng gào lên:
    - Không ai đi rửa mặt cả! Thầy vừa nói thế rồi mà!
    Vị giáo sĩ cười ha hả đáp lời:
    - Đây là một câu hỏi vô nghĩa, chẳng có lý gì khi hai người cùng chui ra từ một ống khói, lại có người dính bẩn, người sạch sẽ cả!

    Bài học rút ra là dù bạn có thông minh đến đâu, nhưng nếu bạn dùng cả đời để theo đuổi những câu hỏi sai lầm, thì cuối cùng câu trả lời cũng chẳng đưa bạn đi đến đâu cả.

 bình địa mộc (sưu  tầm)
9/2016

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

CÁI MÀN TRONG KINH THÁNH


I- Lời dẫn nhập
Có một số tác giả cho rằng ''mặc khải'' hay ''mạc khải'' dịch từ chữ Latinh là revelatio. Người khác thì khẳng định rằng: a- chữ ''mạc khải'' có cấu trúc: danh từ (mạc) + động từ (khải) là ngược thứ tự bình thường của thuật từ Hán-Việt: động từ (khải) + danh từ (mạc), ví dụ: khai mạc, bế mạc. b- Mặc khải là mở ra sự im lặng.
Nhưng tôi không tán thành các ý kiến vừa nêu vì những lý do sau đây:
1- Chữ ''MẶC khải'' KHÔNG phải cách dịch chữ Latinh ''revelatio'' bởi vì chữ ''mặc'' chẳng có nghĩa là cái màn: velum, chữ Latinh!
2- Chính chữ ''MẠC khải'' mới được dịch từ DANH TỪ Latinh: Revelatio. Như vậy, ''mạc khải'' cũng là danh từ, có nghĩa: VIỆC mở ra cái màn!
3- Trong tiếng Anh, chữ ''revelation'' có nghĩa: The act of revealing. Tiếng Pháp: L'action de révéler. (Việc mở ra cái màn: việc mạc khải.)
3- Chữ ''mạc khải'' cũng được hiểu: Cái màn ĐƯỢC mở. Chữ ''môn khải'' có nghĩa: Cửa ĐƯỢC mở ra. Chữ ''môn cấm'' là cửa BỊ cấm.
4- Chúng ta cũng nói, viết: ''quốc phòng, ác báo, thiên mạc khải, tài trợ, linh thao...'' theo cách này: danh từ túc từ ở TRƯỚC động từ!!!
5- ''Mặc khải'' KHÔNG có nghĩa: mở ra SỰ im lặng, mà là ''lặng lẽ mở ra'' bởi vì chữ ''mặc'' là ''tính từ'' được dùng như ''trạng từ'', chẳng hạn: ''mặc niệm'' là tưởng nhớ cách / trong im lặng. Như vậy, chữ ''mặc'' ĐÂU phải là danh từ làm túc từ của động từ ''khải''!!!
6- Tiếng Việt có những điểm giống chữ Nho và những đặc thù mà tiếng nhiều tiếng khác không có, chẳng hạn cách đặt câu: Cá lội DƯỚI nước. Chim bay TRÊN trời. Ba tôi làm việc NGOÀI vườn.

II- Cái màn ''che''
A- Trong Xuất Hành 30,6, cái màn (rideau, veil, Vorhang, velum) được Thiên Chúa nhắc đến qua mệnh lệnh của Ngài như sau: ''Con hãy đặt hương án đó trước MÀN che Hòm Bia Chứng Tri … là nơi Ta sẽ gặp gỡ con.'' (Thì tương lai ''mettras / shall put'' có giá trị là mệnh lệnh: hãy.)
B- Trong Thánh Vịnh 105,39, chữ ''mây đen'' (mạc mạc: nuée), tức là MÀN CHE, được nói đến thế nầy: ''Chúa dùng bóng tối làm MÀN bao phủ, lấy mây đen nghịt làm TRƯỚNG CHE Ngài.''
C- Trong Thánh Vịnh 104,2, tầng trời cũng là MÀN CHE: ''Ngài căng trời như màn trướng ...''
D- Trong Luca 9,34-35: ''Ông đang nói thế thì xảy đến một đám mây, và nó rợp bóng trên họ. Họ kinh hãi lúc các Ngài đi vào đám mây. Và một tiếng phát ra tự đám mây: ''Ngài là Con Ta, mà Ta đã chọn, các con hãy nghe Ngài." Đám mây rợp bóng là cái màn che trên núi Tabôrê.

III- Cái màn ''được mở ra''
A- Trong Gioan 1,14: ''Và Lời đã trở thành xác phàm và cư ngụ giữa chúng tôi và chúng tôi đã ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang của Con Một từ Cha ...'' Như vậy, qua việc ''xin vâng'' của Trinh Nữ Maria, Thiên Chúa ''mở MÀN trướng là trời'' để Lời Hằng Hữu (trong Cha) nhập thể và nhập thế.
B- Trong Marcô 1,10-11: ''Vừa lên khỏi nước, Ngài thấy các tầng trời XÉ RA và Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên Ngài; và một tiếng phát ra từ trời: ''Con là Con chí ái của Ta mà Ta đã sủng mộ.'' MÀN trời ''ĐƯỢCxé ra'' (SE déchira), tức là qua ''việc mở cái màn: sự mạc khải: révélation, Offenbarung'', Chúa Thánh Linh ngự xuống trên Chúa Cứu Thế và Ngài nghe tiếng của Chúa Cha!
C- Trong Matthêô 27,51: ''MÀN Đền Thánh bị xé ra làm hai, từ trên xuống dưới...'' Đó cũng là cách MẠC khải (xé màn ra) để báo GIỜ TRỌNG ĐẠI của Chương Trình Cứu Rỗi đã điểm! Theo phong tục xưa của Do Thái, mỗi lần con trai mình qua đời, người cha XÉ áo xống từ trên xuống dưới (depuis le haut jusqu'en bas) để chịu tang.
D- Theo Gioan 20,1-10, Tông Đồ ra Mộ Chúa, chỉ thấy dải vải và tấm khâm PHỦ đầu Ngài được CUỘN riêng một chỗ. Bấy giờ, các ngài mới tin Chúa đã sống lại. Như vậy, những tấm vải CHE ấy đã được Chúa THÁO ra để các ngài tin vững vàng.
E- Tông Đồ Công Vụ 7,56: "Này, tôi thấy các tầng trời MỞ RA và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa."

IV- Cái MÀNG ''được mở ra''
A- Chữ ''MẠC'' còn có nghĩa là MÀNG. Vậy thì, qua phép lạ chữa người mù được thấy, Chúa Giêsu mở MÀNG mắt thể lý và Đức Tin cho nhiều người. Chẳng hạn hai môn đồ đi chung với Chúa trên đường Emmau, mà vẫn không nhận ra Ngài. Nhưng, khi Chúa trao cho họ bánh nơi bàn ăn, ''mắt họ liền MỞ RA và họ nhận biết Ngài.'' (Luca 24, 31)
B- Người ''khét tiếng bắt Đạo'' cũng được Chúa mở MÀNG mắt như sau: ''Và, lập tức, bong khỏi mắt Saulô như những cái vảy, và ông lại thấy được.'' (TĐCV 9,18)
C- Xin đọc thêm cả Đoạn 9 Tin Mừng theo Thánh Gioan về người mù bẩm sinh được Chúa mở MÀNG mắt và Tin Mừng theo Thánh Marcô 8,31-37 kể việc Chúa chữa người điếc và ngọng: ''Ephata!'' (Con hãy MỞ RA!) Vậy là Chúa dạy chúng ta MỞ ''mắt, tai, tay, miệng, lưỡi, lòng, trí'', tức là lấy đi cái MÀN, MÀNG ngăn cách con người với Thiên Chúa.
Chính vì ý nghĩa của chữ MẠC là MÀNG, mà người Anh viết, nói như sau: ''It was a revelation to me!'' Còn người Pháp, Đức, Việt thì cụ thể hơn: ''Cela m'a ouvert les yeux! - Das hat mir die Augen geoffnet! Điều ấy đã làm tôi sáng mắt ra!''

V- Lời kết: Ngữ nguyên của từ ''mạc khải'': VIỆC mở cái màn
Căn cứ vào Lời Chúa ở I, II, III, IV, các Tông Đồ và Giáo Phụ mới dùng từ Hy-lạp ''apocalypsis''. Tiếp đầu ngữ Hy-lạp ''apo'' có nghĩa ''cách, tách biệt, khỏi: off, from, away''; còn ''calypsis'' là do ''kalyptein'' có nghĩa là ''che, phủ: cover''! Như vậy, ''KHÔNG che phủ nữa'' tức là ''tỏ ra cho biết, cho thấy''! Từ ý nghĩa ấy, các Thánh Tông Đồ và các Giáo Phụ mới dùng chữ Latinh REVELATIO là DANH TỪ của động từ REVELARE. Ngoài một vài nghĩa thông dụng, tiếp đầu ngữ RE còn đồng nghĩa với DÉ có nghĩa phủ định, BỎ đi (négation, suppression) hay bớt đi (réduction, diminution). Còn ''ngữ căn'' (radical) hay ''từ gốc'' VELARE (che) là do danh từ Latinh VELUM là cái MÀN, tức là VOILE (*) trong tiếng Pháp, là VEIL trong tiếng Anh. Thậm chí người Anh còn dùng VELUM, (số nhiều: vela) với nghĩa là cái MÀNG bọc mỏng (a thin membranous covering) của cá biển hay nấm (mushrooms).

Đức Quốc, 26.10.2016
Đaminh Phan văn Phước



Thứ Tư, 26 tháng 10, 2016

7 NGUYÊN TẮC NÊN CÂN NHẮC TRƯỚC KHI TRÁCH MẮNG TRẺ





Đối với một người trưởng thành, công việc vất vả và có trách nhiệm lớn lao nhất chính là giáo dục con trẻ. Dạy trẻ ngoan và biết vâng lời, biết làm một đứa trẻ tốt mà không làm chúng tổn thương là điều rất khó. Một số nguyên tắc của người xưa trong việc trách mắng trẻ dưới đây có thể gợi ý cho bạn.
1. Đối chúng bất trách: Nghĩa là không trách mắng trẻ trước mặt đám đông, bởi trẻ dù nhỏ nhưng trước mặt người khác chúng ta cần giúp trẻ giữ được tôn nghiêm của mình.
2. Quý hối bất trách: Nghĩa là khi trẻ biết thẹn thùng và hối hận trước những sai lầm của mình thì cũng không nên tiếp tục trách mắng, hãy cho trẻ thấy sự khoan dung của bạn đối với người đã biết sai.
3. Mộ dạ bất trách: Buổi tối trước khi đi ngủ cũng không nên trách mắng trẻ, vì như thế sẽ khiến trẻ mang tâm trạng nặng nề trước khi lên giường, nên giấc ngủ sẽ mộng mị, thậm chí gặp ác mộng.
4. Ẩm thực bất trách: Vào bữa cơm cũng không nên trách trẻ, vì trách mắng trong bữa ăn sẽ khiến tâm trạng trẻ nặng nề, tính khí suy yếu, ăn không thấy ngon miệng nữa.
5. Hoan khánh bất trách: Đương lúc tâm trạng trẻ đang vui mừng phấn khích, bạn cũng không nên trách mắng.Tâm trạng vui vẻ sẽ khiến kinh mạch thông suốt, nếu đột nhiên bị quở trách, kinh mạch bất ngờ bị đình chỉ, thân thể của trẻ sẽ bị tổn thương nghiêm trọng.
6. Bi ưu bất trách: Khi trẻ đang trong tâm trạng u buồn, việc trách mắng khiến tâm trạng nặng nề hơn, trẻ cũng không thể tiếp thu.
7. Tật bệnh bất trách: Người lớn cũng không nên trách mắng khi trẻ đang lâm bệnh. Đối với bất cứ ai, lúc mắc bệnh chính là thời điểm trạng thái thân thể rơi vào suy kiệt nhất, đặc biệt trẻ em vào lúc này sẽ rất cần sự quan tâm chăm sóc nồng ấm của cha mẹ, điều này còn quý giá hơn bất kì loại thuốc nào.
(Nguồn: Sound of Hope)