“Sự hiệp nhất là một ân sủng mà chúng ta phải cầu xin từ Chúa, để Người giải thoát chúng ta khỏi những cám dỗ về chia rẽ, khỏi những tranh chấp giữa chúng ta, khỏi tính ích kỷ và ngồi lê mách lẻo.” Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng trường Thánh Phêrô. Người tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về kinh Tin Kính và Năm Đức Tin. Hôm nay Đức Thánh Cha nói về Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô.” Anh chị em thân mến, chào anh chị em! Hôm nay tôi sẽ chú tâm vào một biểu thức mà Công Đồng Vaticanô II dùng để biểu thị bản chất của Hội Thánh: đó thân thể, Công Đồng nói rằng Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô (x. Lumen Gentium, 7). Tôi muốn bắt đầu từ một đoạn văn của sách Tông Đồ Công Vụ mà chúng ta biết rõ: việc trở lại của ông Saolô, người sau đó được gọi là Phaolô, một trong những nhà truyền giáo vĩ đại nhất (x. Cv 9:4-5). Ông Saolô là một kẻ bách hại các Kitô hữu, nhưng trong khi ông đang trên đường đến thành Đamascô, bỗng nhiên một luồng ánh sáng bao bọc ông, ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói: “Saolô, Saolô, sao ngươi bách hại Ta?”. Ông hỏi: “Lạy Chúa, Ngài là ai?”. Và giọng nói trả lời: “Ta là Giêsu, Đấng mà ngươi đang bách hại” (câu 3-5). Kinh nghiệm này của Thánh Phaolô cho chúng ta thấy sự liên kết giữa các Kitô hữu và Đức Kitô thắm thiết thế nào. Khi Chúa Giêsu lên trời, Người không để chúng ta mồ côi, nhưng với hồng ân Chúa Thánh Thần, sự kết hợp của chúng ta với Người đã trở nên thắm thiết hơn. Công đồng Vaticanô II nói rằng Chúa Giêsu “qua việc thông truyền Thánh Thần của Người cho các anh em của Người, tụ tập từ mọi dân tộc, Người làm cho họ một cách mầu nhiệm thành thân thể của Người” (Hiến Chế Tín Lý. Lumen Gentium, 7). Hình ảnh thân thể giúp chúng ta hiểu mối liên hệ sâu xa này giữa Hội Thánh và Đức Kitô, mà thánh Phaolô đã đặc biệt khai triển trong Thư Thứ Nhất gửi tín hữu Côrinthô (x. ch. 12). Trước hết, thân thể làm cho chúng ta lien tưởng đến một thực tại sống động. Hội Thánh không phải là một hội từ thiện, văn hóa hay chính trị, nhưng là một thân thể sống động, hành trình và hành động trong lịch sử. Và thân thể này có một đầu, là Chúa Giêsu, Đấng hướng dẫn nó, nuôi nấng nó và nâng đỡ nó. Đây là một điểm tôi muốn nhấn mạnh: nếu đầu bị tách ra khỏi phần còn lại của thân thể thì toàn thể con người không còn có thể sống được. Vì vậy, chính trong Hội Thánh, chúng ta phải luôn liên kết mật thiết hơn bao giờ hết với Chúa Giêsu. Nhưng không chỉ có thế: như một thân thể điều quan trọng là các mạch máu phải luân chuyển trong đó, cho nên chúng ta phải để cho Chúa Giêsu hoạt động trong chúng ta, để cho Lời Người hướng dẫn chúng ta, để cho sự hiện diện của Người trong bí tích Thánh Thể nuôi nấng chúng ta, linh động hóa chúng ta, để cho tình yêu của Người củng cố tình yêu tha nhân của chúng ta. Và điều đó phải luôn luôn! Luôn luôn, luôn luôn! Anh chị em thân mến, chúng ta hãy luôn hiệp nhất với Chúa Giêsu, chúng ta hãy tín thác nơi Người, chúng ta hãy định hướng đời mình theo Tin Mừng, nuôi dưỡng mình bằng cầu nguyện hàng ngày, bằng lắng nghe Lời Chúa và tham dự các Bí Tích. Và ở đây tôi đi đến một bình diện thứ nhì của Hội Thánh như Thân Thể Đức Kitô. Thánh Phaolô nói rằng như các chi thể của thân thể con người, mặc dù khác nhau và nhiều, hợp thành một thân thể, vì vậy tất cả chúng ta đã được được rửa tội vào một thân thể duy nhất bởi cùng một Chúa Thánh Thần (x. 1 Cor 12:12-13). Do đó, trong Hội Thánh, có nhiều nhiệm vụ và chức năng đa dạng; không có sự đồng nhất tẻ nhạt, nhưng có sự phong phú của những hồng ân mà Chúa Thánh Thần ban phát. Nhưng có sự hiệp thông và hiệp nhất: tất cả đều liên hệ với nhau và tất cả kết hợp để tạo thành một thân thể quan trọng duy nhất, liên kết mật thiết với Đức Kitô. Chúng ta hãy nhớ rõ: là một phần tử của Hội Thánh có nghĩa là được kết hợp với Đức Kitô và nhận được từ Người sự sống thần linh là sự sống làm cho chúng ta sống như Kitô hữu, nghĩa là luôn hợp nhất với Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục, là công cụ của sự hiệp nhất và hiệp thông; điều này cũng có nghĩa là học cách thắng vượt chủ nghĩa cá nhân và chia rẽ, để hiểu nhau hơn, để hòa hợp sự đa dạng và phong phú của mỗi người; tóm lại, để yêu mến Thiên Chúa và những người lân cận chúng ta, trong gia đình, trong giáo xứ, trong các đoàn thể, hơn. Để sống, thân thể và các chi thể phải thống nhất! Sự hiệp nhất luôn luôn hơn các xung đột! Các xung đột, nếu không được giải quyết một cách tốt đẹp, sẽ tách biệt chúng ta khỏi nhau, tách biệt chúng ta khỏi Thiên Chúa. Xung đột có thể giúp chúng ta lớn lên, nhưng cũng có thể chia rẽ chúng ta. Chúng ta đừng đi theo con đường chia rẽ, con đường tranh chấp giữa chúng ta! Tất cả hãy hiệp nhất, tất cả hiệp nhất với những khác biệt của mình, nhưng thống nhất, luôn luôn: đây là con đường của Chúa Giêsu. Sự hiệp nhất luôn luôn hơn các xung đột. Sự hiệp nhất là một ân sủng mà chúng ta phải cầu xin từ Chúa, để Người giải thoát chúng ta khỏi những cám dỗ về chia rẽ, khỏi những tranh chấp giữa chúng ta, khỏi tính ích kỷ và ngồi lê mách lẻo. Việc nói hành nói xấu nguy hại biết bao, nguy hại biết bao! Đừng bao giờ nói chuyện của người khác, đừng bao giờ! Những chia rẽ giữa các Kitô hữu, tinh thần bè phái, những tư lợi nhỏ nhen, đã gây cho Hội Thánh không biết bao nhiêu là thiệt hại! Những chia rẽ giữa chúng ta, nhưng còn những chia rẽ giữa các cộng đồng: các Kitô hữu Tin Lành, các Kitô hữu Chính Thống, các Kitô hữu Công Giáo, tại sao chúng ta lại chia rẽ? Chúng ta phải cố gắng để mang lại sự hiệp nhất. Tôi sẽ nói với anh chị em một điều: ngày hôm nay, trước khi ra khỏi nhà, tôi đã dành trên dưới bốn mươi phút, hay nửa giờ, với một mục sư Tin Lành và chúng tôi đã cùng nhau cầu nguyện, và cố gắng tìm sự hiệp nhất. Nhưng chúng ta phải cầu nguyện giữa chúng ta như những người Công Giáo và cũng cầu nguyện với các Kitô hữu khác, cầu nguyện rằng Chúa sẽ ban cho chúng ta sự hiệp nhất, hiệp nhất giữa chúng ta. Nhưng làm sao chúng ta đạt được sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu nếu chúng ta không thể đạt được sự hiệp nhất giữa chúng ta là những người Công Giáo? Có sự hiệp nhất trong gia đình chúng ta không? Biết bao nhiêu gia đình đang lục đục và chia rẽ! Hãy tìm sự hiệp nhất, sự hiệp nhất làm thành Hội Thánh. Sự hiệp nhất đến từ Đức Giêsu Kitô. Người sai Chúa Thánh Thần xuống với chúng ta để tạo sự hiệp nhất. Anh chị em thân mến chúng ta hãy cầu xin Chúa: Xin giúp chúng con trở thành những chi thể của Thân Thể Hội Thánh luôn luôn kết hiệp mật thiết với Đức Kitô; xin giúp chúng con không làm cho Thân Thể Hội Thánh bị đau khổ vì những xung đột, chia rẽ và ích kỷ của chúng con; xin giúp chúng con thành những chi thể sống động liên kết với nhau bằng một sức lực duy nhất, là sức lục của tình yêu mà Chúa Thánh Thần đổ vào lòng chúng con (x. Rm 5:5). |
Thứ Bảy, 22 tháng 6, 2013
HỘI THÁNH LÀ THÂN THỂ ĐỨC KITÔ
7 BÍ QUYẾT GIÚP CON CHÁU SỐNG ĐỨC TIN
Đây là một bài nói chuyện về đức tin ở MỸ , nhưng chúng tôi thấy vẫn có ý nghĩa thực tế ở VN . Bài này đã đăng trong tinmung.net , xin được phép trích đăng lại . Mời các bạn theo dõi và thực hiện .
cht
cht
7 Bí quyết giúp con cháu sống Đức Tin Công Giáo
Phượng Vũ
| |
|
Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013
ĐỨC TIN VÀ ĐỜI SỐNG NGƯỜI KITO HỮU
Hội Thánh Công Giáo vừa khai mạc năm đức tin. Có lẽ chúng ta cũng nên tìm hiểu xem đức tin là gì? Và đức tin của mỗi người chúng ta như thế nào?
Có nhiều định nghĩa về đức tin. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo số 26 và 27 nói về đức tin như một sự trả lời của con người dành cho Thiên Chúa, hoặc sự khát khao Thiên Chúa được khắc sâu trong trái tim con người. Công Đồng Chung Vatican đệ nhị nói về đức tin như “một sự vâng phục của lý trí và ý chí” sẵn sàng chấp nhận sự mặc khải của Chúa Kitô (Hiến Chế Tín Lý, số 5). Đức tin cũng có nghĩa là sự cậy trông tin tưởng tuyệt đối vào Đấng đã tạo dựng vũ trụ và con người từ hư không và ngay bây giờ Ngài có thể làm được mọi sự. Với ý nghĩa đó, Chúa Giêsu thường nói với những người bệnh tật xin Ngài cứu chữa: „Đức tin của con đã cứu cứu con“ (Lc 8,48).
Đức tin của người kitô hữu được chính thức công bố lúc đón nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Với đức tin của mình, người kitô hữu gia nhập Hội Thánh. Trong cộng đồng Hội Thánh, đức tin của chúng ta lớn lên, phát triển về mọi chiều kích. Chúa Thánh Linh là “Sức Sống“ của Hội Thánh và cũng là nguồn sinh lực nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Đức tin sống động và tăng trưởng nhờ Chúa Thánh Linh. Vì thế chúng ta phải để cho Chúa Thánh Linh hành động, phải hợp tác và lắng nghe lời Ngài.
Ngày nay Hội Thánh đang ở trong giai đoạn khủng hoảng đức tin, nói đúng hơn là người kitô hữu bị các thế lực thần dữ và thế gian tấn công. Trước những phát minh khoa học và những thành quả kì diệu của kỹ thuật, có nhiều người sa chước cám dỗ từ bỏ đức tin của mình với luận điệu “không tin, nếu chẳng có chứng cớ tuyệt đối”. Lý luận của “thế lực thù địch” xem ra đúng, nhưng không có cơ sở xác thực. Thật vậy, có rất nhiều điều trong phạm vi khoa học hoặc trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta chưa bao giờ xem thấy, cũng chẳng hiểu biết gì hết mà chúng ta vẫn tin. Và ngược lại cũng có nhiều cái chúng ta xem thấy hoặc sờ mó mà chẳng hiểu gì hết. Thực ra kẻ thù của đức tin không phải là khoa học mà là sự kiêu ngạo đội lốt tân tiến văn minh. Câu chuyện sau đây chứng minh điều đó:
Louis Pasteur là một nhà bác học thiên tài, nhưng có tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện. Một hôm nhà bác học lấy xe lửa về Paris. Trong chuyến xe đó có một thanh niên trẻ ngồi cạnh nhà bác học nổi tiếng, nhưng chàng không biết ông là ai. Chỉ ít phút sau khi tàu lửa đã chuyển bánh, cụ già lấy từ túi áo ra một cỗ tràng hạt và bắt đầu thì thầm cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng hỏi cụ già: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”
Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?” Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”
Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?” Người sinh viên trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách báo đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên.
Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt rồi lặng lẽ rời sang toa xe khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.
Một khoa học gia đương đại, ông Werner von Braun, phó giám đốc NASA khẳng định: “Tất cả khoa học trên thế giới nói với chúng ta là phải tin vào Thiên Chúa ngay khi lòng tin của chúng ta đạt tới giới hạn của nó. Chúng ta cần tin vào Thiên Chúa không phải vì sợ hãi. Chúng ta cần có đức tin cũng như cần có bánh để ăn, nước để uống và không khí để thở”.
Phải có đức tin thật mạnh mẽ để chấp nhận rằng mình không có thể hiểu biết hết những điều mình tin. Trong địa hạt đức tin tất cả là mầu nhiệm, nhưng “Mầu nhiệm không phải là bức tường mà trí tuệ con người húc đầu vào, nhưng là một đại dương trong đó trí tuệ con người bị lạc lõng và mất hút”(Gustave Thibon). Vâng, đối tượng đức tin người ta không thể đem vào phòng thí nghiệm kiểm chứng được, nhưng là những chân lý mặc khải của Chúa Giêsu Kitô. Ngài “là Đường đi, là Sự sống, là chân lý”.
Chúng ta tin vào Đấng không những luôn luôn nói sự thật, mà còn là Đấng hướng dẫn chỉ đường đi cho chúng ta tìm được sự sống đích thực trường tồn. Như thế đức tin Kitô giáo có một ý nghĩa đặc biệt chứ không phải chỉ là „sự ưng thuận của trí tuệ “chấp nhận điều gì đó. Đức tin của chúng ta khác xa „lòng tin“ hoặc “sự tin tưởng” trong quan niệm thông thường. Chúng ta hãy hãnh diện về đức tin của chúng ta. Đức tin làm cho chúng ta thuộc về Chúa Kitô và trở thành con cái của Thiên Chúa. Nhờ đức tin mà Chúa Thánh Linh khơi động trong con tim của chúng ta một nguồn sinh lực ban sự sống đời đời. Với đức tin mà chúng ta đã đón nhận như món quà quí giá của Chúa Giêsu, chúng ta có thể an tâm chiến đấu với mọi thử thách đau khổ và cám dỗ ở đời nầy. Dù cuộc đời mỗi người chúng ta có trăm nỗi gian nan hiểm nguy và phải trải qua nhiều chướng ngải vật khó khăn, nhưng với đức tin và nhờ ân sủng của Chúa Giêsu chúng ta cũng sẽ được giải thoát an toàn.
Đức tin giúp chúng ta nhận thức rõ chính mình và nhìn thấy những việc Thiên Chúa làm chung quanh ta qua các biến cố lịch sử và những gì xảy ra hằng ngày. Đức tin thúc dục mỗi người phải sống đúng với ơn gọi của mình và đồng thời làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường sống của mình. Chính đức tin thúc đẩy chúng ta phải sống bác ái đối với tha nhân. Thánh Giacôbê Tông đồ cho chúng ta biết rằng đức tin sống động phải được thể hiện qua các việc bác ái (Gc 2,14-18). Đức tin cũng giúp cho chúng ta khám phá ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong người nghèo khổ đơn côi sầu muộn mà ra tay giúp đỡ họ. “Tất cả những gì các con làm cho một trong những người nhỏ bé nhất của Thầy là các con đã làm cho chính Thầy vậy” (Mt 25,40).
Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới tục hóa và vô thần. Đức tin của chúng ta nhiều khi trở thành đối tượng nhạo báng chê cười hoặc một sự thách thức trong cuộc sống. Chỉ vì đức tin mà chúng ta phải chịu thua thiệt hoặc bị khước từ. Vì đức tin mà chúng ta được xếp vào loại công dân hạng hai, bị khinh chê và coi thường, nếu không nói là bị nguyền rủa và khai trừ. Hơn bao giờ hết trong môi trường sống hiện nay chúng ta cần phải có đức tin vững mạnh.
Như người mẹ hiểu thấu nỗi khốn khổ của con cái, Đức Thánh Cha Benedictô XVI đã thiết lập Năm Đức Tin, bắt đầu từ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đến ngày 24 tháng 11 năm 2013, với mục đích khơi dậy nơi mỗi người tín hữu khát vọng tuyên xưng đức tin một cách trọn vẹn và xác tín hơn và đồng thời đổi mới và củng cố trong cuộc đời một cách cụ thể (Porte Fidei số 9). Đức Thánh Cha mong muốn mỗi người chúng ta trong Năm Đức Tin nầy phải học hỏi Lời Chúa để củng cố và đào sâu đức tin một cách mới mẻ để thích ứng với môi trường sống và làm chứng tá cho Chúa Kitô. Nhờ việc học hỏi Lời Chúa và siêng năng cầu nguyện chúng ta sẽ khám phá nội dung đức tin được tuyên xưng, suy tư và hành động do đức tin chỉ đạo và quyết tâm sống cho Chúa Kitô và nếu có thể thì dấn thân rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa nhận biết Chúa.
Đáp lời mời gọi của Đức Thánh Cha, mỗi người chúng ta, bất kỳ là ai, ở địa vị nào và đang ở đâu, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi của mình và trở thành những chứng nhân sống động và sáng ngời của Chúa Giêsu Kitô bằng đức tin vững mạnh, đức mến bao la, và niềm hy vọng vững bền. Như thế bạn và tôi, chúng ta trở thành những người rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc thế gian.
Có nhiều định nghĩa về đức tin. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo số 26 và 27 nói về đức tin như một sự trả lời của con người dành cho Thiên Chúa, hoặc sự khát khao Thiên Chúa được khắc sâu trong trái tim con người. Công Đồng Chung Vatican đệ nhị nói về đức tin như “một sự vâng phục của lý trí và ý chí” sẵn sàng chấp nhận sự mặc khải của Chúa Kitô (Hiến Chế Tín Lý, số 5). Đức tin cũng có nghĩa là sự cậy trông tin tưởng tuyệt đối vào Đấng đã tạo dựng vũ trụ và con người từ hư không và ngay bây giờ Ngài có thể làm được mọi sự. Với ý nghĩa đó, Chúa Giêsu thường nói với những người bệnh tật xin Ngài cứu chữa: „Đức tin của con đã cứu cứu con“ (Lc 8,48).
Đức tin của người kitô hữu được chính thức công bố lúc đón nhận Bí Tích Thánh Tẩy. Với đức tin của mình, người kitô hữu gia nhập Hội Thánh. Trong cộng đồng Hội Thánh, đức tin của chúng ta lớn lên, phát triển về mọi chiều kích. Chúa Thánh Linh là “Sức Sống“ của Hội Thánh và cũng là nguồn sinh lực nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Đức tin sống động và tăng trưởng nhờ Chúa Thánh Linh. Vì thế chúng ta phải để cho Chúa Thánh Linh hành động, phải hợp tác và lắng nghe lời Ngài.
Ngày nay Hội Thánh đang ở trong giai đoạn khủng hoảng đức tin, nói đúng hơn là người kitô hữu bị các thế lực thần dữ và thế gian tấn công. Trước những phát minh khoa học và những thành quả kì diệu của kỹ thuật, có nhiều người sa chước cám dỗ từ bỏ đức tin của mình với luận điệu “không tin, nếu chẳng có chứng cớ tuyệt đối”. Lý luận của “thế lực thù địch” xem ra đúng, nhưng không có cơ sở xác thực. Thật vậy, có rất nhiều điều trong phạm vi khoa học hoặc trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta chưa bao giờ xem thấy, cũng chẳng hiểu biết gì hết mà chúng ta vẫn tin. Và ngược lại cũng có nhiều cái chúng ta xem thấy hoặc sờ mó mà chẳng hiểu gì hết. Thực ra kẻ thù của đức tin không phải là khoa học mà là sự kiêu ngạo đội lốt tân tiến văn minh. Câu chuyện sau đây chứng minh điều đó:
Louis Pasteur là một nhà bác học thiên tài, nhưng có tâm hồn khiêm tốn và cầu nguyện. Một hôm nhà bác học lấy xe lửa về Paris. Trong chuyến xe đó có một thanh niên trẻ ngồi cạnh nhà bác học nổi tiếng, nhưng chàng không biết ông là ai. Chỉ ít phút sau khi tàu lửa đã chuyển bánh, cụ già lấy từ túi áo ra một cỗ tràng hạt và bắt đầu thì thầm cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng hỏi cụ già: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”
Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?” Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”
Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?” Người sinh viên trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách báo đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên.
Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt rồi lặng lẽ rời sang toa xe khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.
Một khoa học gia đương đại, ông Werner von Braun, phó giám đốc NASA khẳng định: “Tất cả khoa học trên thế giới nói với chúng ta là phải tin vào Thiên Chúa ngay khi lòng tin của chúng ta đạt tới giới hạn của nó. Chúng ta cần tin vào Thiên Chúa không phải vì sợ hãi. Chúng ta cần có đức tin cũng như cần có bánh để ăn, nước để uống và không khí để thở”.
Phải có đức tin thật mạnh mẽ để chấp nhận rằng mình không có thể hiểu biết hết những điều mình tin. Trong địa hạt đức tin tất cả là mầu nhiệm, nhưng “Mầu nhiệm không phải là bức tường mà trí tuệ con người húc đầu vào, nhưng là một đại dương trong đó trí tuệ con người bị lạc lõng và mất hút”(Gustave Thibon). Vâng, đối tượng đức tin người ta không thể đem vào phòng thí nghiệm kiểm chứng được, nhưng là những chân lý mặc khải của Chúa Giêsu Kitô. Ngài “là Đường đi, là Sự sống, là chân lý”.
Chúng ta tin vào Đấng không những luôn luôn nói sự thật, mà còn là Đấng hướng dẫn chỉ đường đi cho chúng ta tìm được sự sống đích thực trường tồn. Như thế đức tin Kitô giáo có một ý nghĩa đặc biệt chứ không phải chỉ là „sự ưng thuận của trí tuệ “chấp nhận điều gì đó. Đức tin của chúng ta khác xa „lòng tin“ hoặc “sự tin tưởng” trong quan niệm thông thường. Chúng ta hãy hãnh diện về đức tin của chúng ta. Đức tin làm cho chúng ta thuộc về Chúa Kitô và trở thành con cái của Thiên Chúa. Nhờ đức tin mà Chúa Thánh Linh khơi động trong con tim của chúng ta một nguồn sinh lực ban sự sống đời đời. Với đức tin mà chúng ta đã đón nhận như món quà quí giá của Chúa Giêsu, chúng ta có thể an tâm chiến đấu với mọi thử thách đau khổ và cám dỗ ở đời nầy. Dù cuộc đời mỗi người chúng ta có trăm nỗi gian nan hiểm nguy và phải trải qua nhiều chướng ngải vật khó khăn, nhưng với đức tin và nhờ ân sủng của Chúa Giêsu chúng ta cũng sẽ được giải thoát an toàn.
Đức tin giúp chúng ta nhận thức rõ chính mình và nhìn thấy những việc Thiên Chúa làm chung quanh ta qua các biến cố lịch sử và những gì xảy ra hằng ngày. Đức tin thúc dục mỗi người phải sống đúng với ơn gọi của mình và đồng thời làm chứng cho Chúa Kitô trong môi trường sống của mình. Chính đức tin thúc đẩy chúng ta phải sống bác ái đối với tha nhân. Thánh Giacôbê Tông đồ cho chúng ta biết rằng đức tin sống động phải được thể hiện qua các việc bác ái (Gc 2,14-18). Đức tin cũng giúp cho chúng ta khám phá ra sự hiện diện của Chúa Giêsu trong người nghèo khổ đơn côi sầu muộn mà ra tay giúp đỡ họ. “Tất cả những gì các con làm cho một trong những người nhỏ bé nhất của Thầy là các con đã làm cho chính Thầy vậy” (Mt 25,40).
Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới tục hóa và vô thần. Đức tin của chúng ta nhiều khi trở thành đối tượng nhạo báng chê cười hoặc một sự thách thức trong cuộc sống. Chỉ vì đức tin mà chúng ta phải chịu thua thiệt hoặc bị khước từ. Vì đức tin mà chúng ta được xếp vào loại công dân hạng hai, bị khinh chê và coi thường, nếu không nói là bị nguyền rủa và khai trừ. Hơn bao giờ hết trong môi trường sống hiện nay chúng ta cần phải có đức tin vững mạnh.
Như người mẹ hiểu thấu nỗi khốn khổ của con cái, Đức Thánh Cha Benedictô XVI đã thiết lập Năm Đức Tin, bắt đầu từ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đến ngày 24 tháng 11 năm 2013, với mục đích khơi dậy nơi mỗi người tín hữu khát vọng tuyên xưng đức tin một cách trọn vẹn và xác tín hơn và đồng thời đổi mới và củng cố trong cuộc đời một cách cụ thể (Porte Fidei số 9). Đức Thánh Cha mong muốn mỗi người chúng ta trong Năm Đức Tin nầy phải học hỏi Lời Chúa để củng cố và đào sâu đức tin một cách mới mẻ để thích ứng với môi trường sống và làm chứng tá cho Chúa Kitô. Nhờ việc học hỏi Lời Chúa và siêng năng cầu nguyện chúng ta sẽ khám phá nội dung đức tin được tuyên xưng, suy tư và hành động do đức tin chỉ đạo và quyết tâm sống cho Chúa Kitô và nếu có thể thì dấn thân rao giảng Tin Mừng cho những ai chưa nhận biết Chúa.
Đáp lời mời gọi của Đức Thánh Cha, mỗi người chúng ta, bất kỳ là ai, ở địa vị nào và đang ở đâu, hãy tin tưởng vào Thiên Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi của mình và trở thành những chứng nhân sống động và sáng ngời của Chúa Giêsu Kitô bằng đức tin vững mạnh, đức mến bao la, và niềm hy vọng vững bền. Như thế bạn và tôi, chúng ta trở thành những người rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô, Đấng cứu chuộc thế gian.
Lm Phêrô Đan-Minh Trần Minh-Công O.Cist. (Thụy Sĩ)
(trích lại từ trang Truyền thông Công giáo TGP TPHCM)
(trích lại từ trang Truyền thông Công giáo TGP TPHCM)
Thứ Tư, 19 tháng 6, 2013
Thứ Ba, 18 tháng 6, 2013
THƯ MỜI THAM DỰ TRẠI
Trang "cuuhuynhtruong HÙNG TÂM DŨNG CHÍ " mới nhận được :
THƯ MỜI THAM DỰ TRẠI HUẤN LUYỆN " SỐNG ĐỨC TIN "
* KỶ NIỆM 50 NĂM THÀNH LẬP PT HTDC ĐÀ NẴNG
* GIỖ 40 NĂM CHA CỐ ANTON BÙI HỮU NGẠN (1973-2013)
vào 2 ngày 01 và 02/8/2013 tại Linh địa Mẹ Trà Kiệu .
Xin thông báo đến toàn thể quý Cha, quý tu sĩ, qúy cựu trưởng , quý cựu đoàn viên, qúy ân nhân và thân hữu biết để yểm trợ tinh thần, vật chất và tham dự .
banlienlaccuuhuynhtruong
Thứ Hai, 17 tháng 6, 2013
ĐẠI HỒNG THỦY
BÍ ẨN ĐẠI HỒNG THỦY VÀ
CHIẾC TÀU CỦA ÔNG NOAH
Trải qua nhiều năm lịch sử, cái tên Đại hồng thủy được người ta nhắc đến nhiều trong truyền thuyết và được các nhà khoa học tìm hiểu khám phá.
Theo chương 7 và chương 8 của sách Sáng thế (Bible) thì Đại hồng thủy xảy ra là sự trừng phạt của Thiên Chúa vì sự suy đồi đạo đức của loài người. Có một thời, loài người đã từng phát triển văn minh rực rỡ, nhưng nhân cách của họ tha hóa, đạo đức của họ suy đồi, trái tim họ trở nên ích kỷ và độc ác với những mưu tính xấu xa. Kiên nhẫn chờ đợi sự thay đổi tốt lên từ loài người trong vô vọng, Chúa đã quyết định hủy diệt những con người độc ác, tha hóa biến chất ấy bằng một trận hồng thủy nhằm xóa sổ địa cầu.
Tuy nhiên, trong số những con người độc ác và mưu mô ấy, còn sót lại một người có đạo đức tốt đẹp, đó là Noah. Chúa đã báo cho ông biết trước sắp có thảm họa và dạy ông cách đóng thuyền để cứu bản thân, gia đình, những người khác và các cặp đôi động vật, đồng thời dự trữ nhiều nhu yếu phẩm trên tàu. Thế rồi, cơn hồng thủy bất ngờ xuất hiện, mưa liên tục suốt 40 ngày đêm và nước dâng lên liên tục trong 157 ngày, nước ngập tràn trái đất, ngập lên cả những đỉnh núi cao chót vót. Tất cả mọi sinh vật trên trái đất đều bị hủy diệt.
Theo truyền thuyết kể lại thì để xem nước đã rút chưa, Noah đã thả một con chim bồ câu ra. Sau 3 lần, chim không bay về nữa và Noah biết rằng nước đã rút và chim bồ câu đã tìm thấy đất liền. Sau cơn Đại hồng thủy, gia đình nhà Noah và những người sống sót khác đã sinh sôi lại loài người.
Một điều kỳ lạ đó là ở khắp các vùng miền và tất cả các dân tộc trên khắp thế giới đều có những câu chuyện về một thảm họa, một trận Đại hồng thủy tương tự như nhau. Các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylonia, Lưỡng Hà, Sumeria, Peru, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, châu Mỹ, xứ Wales, Hawaii, Scandinavia, Sumatra, Polynesia… tất cả đều có các phiên bản riêng của họ về một trận Đại hồng thủy cực lớn toàn cầu.
Các thống kê cho thấy, trên khắp thế giới có khoảng 600 câu chuyện Đại hồng thủy với những chi tiết giống nhau đến kinh ngạc chẳng hạn như: Cảnh báo về trận lụt sắp tới, được mách bảo đóng một con tàu trước khi sự việc xảy ra, dự trữ thức ăn, chuẩn bị trước nhiều cặp đôi các loài động vật và đặc biệt là dùng cách thả chim để xác định mực nước đã rút hay chưa. Chính những điều này đã gây tò mò cho các nhà khoa học chuyên nghiên cứu về những thảm họa của thiên nhiên bởi nếu không trải qua thực tế thì liệu rằng người ta có thể tưởng tượng ra được phương pháp thả chim để xác định xem mực nước đã rút hay chưa.
Và phát hiện lý thú của khoa học
Vào năm 1959, Llhan Durupinar, lúc ấy đang là một viên đại úy quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, đã khám phá ra một hình thù bất thường trong khi đang kiểm tra các bức ảnh chụp từ trên không. Vật thể này lớn hơn một sân bóng đá, nổi bật lên khỏi địa hình đồi núi mấp mô ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
Đây là một khu vực xa xôi hẻo lánh, chỉ có dân cư của một số ngôi làng nhỏ sinh sống tại đây. Trước đó chưa hề có báo cáo nào về vật thể kỳ lạ này. Vì vậy đại úy Llhan Durupinar đã chuyển âm bản của bức hình cho chuyên gia chụp ảnh trên không là tiến sỹ Brandenburger, thuộc Trường đại học bang Ohio nước Mỹ. Sau khi nghiên cứu bức ảnh chụp của đại úy Llhan Durupinar, Brandenburger kết luận: “Tôi chắc chắn, rằng vật thể này là một con tàu. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi chưa từng trông thấy vật thể nào như cái này…”.

Vào năm 1960, bức ảnh phía trên đã được xuất bản trong tạp chí LIFE trong bài viết tựa đề “Có phải tàu Noah?“. Cũng trong năm đó một nhóm nghiên cứu người Mỹ đã đi theo đại úy Llhan Durupinar đến địa điểm trong tấm hình. Họ trông đợi sẽ tìm được những cổ vật hay cái gì đó mà có thể chứng minh vật thể lạ kia đúng thật là một con tàu. Sau hơn 1 ngày đào bới trong khu vực mà không tìm được, họ tuyên bố rằng vật thể lạ có vẻ chỉ là một kiến tạo tự nhiên. Câu chuyện nhanh chóng chìm vào quên lãng.
Vào năm 1977, Ron Wyatt tới viếng thăm địa điểm này. Được chính quyền địa phương cho phép, Ron và những người khác đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu vực này trong nhiều năm. Họ sử dụng máy dò kim loại, máy quét radar ngầm, tiến hành thăm dò cẩn thận, thực hiện các phân tích hóa học, vv… Những kết quả thu được hoàn toàn xứng đáng với tâm sức mà họ đã bỏ ra. Những khám phá của họ đã làm chấn động Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Vật thể lạ quả thực là một con tàu cực kỳ cổ xưa. Đó là một con tàu rất lớn, thuộc “thời tiền sử”, tại sườn núi ở độ cao 2.000m trên mực nước biển,… và không chỉ có thế.
Ron Wyatt và tàn tích hóa thạch của con tàu truyền thuyết Noah
Bằng chứng trực quan
Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo các kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, đầu kia bo lại – đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m (chính xác 300 cubit Ai Cập).
Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, đã được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy dáng cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khác, phần lớn vẫn chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được.
Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao cuộc khảo sát năm 1960 đã không có kết quả, bởi tại những chỗ mà họ tìm kiếm, gỗ đều đã hóa thạch và xói mòn từ rất lâu trước đó.

Con tàu này nằm giữa một dòng bùn khô. Căn cứ theo vị trí của con tàu và dòng bùn, có thể thấy rõ vật thể này đã bị cuốn trôi cùng dòng chảy của bùn, ra cách xa khỏi vị trí ban đầu của nó khoảng 1,6 km. Các nhà địa chất học tin rằng ban đầu con tàu này nằm ở vị trí cao hơn chỗ hiện tại khoảng 300m, và bị bao bọc trong một lớp bùn cứng hơn. Họ cho rằng một trận động đất hồi năm 1948 đã phá vỡ lớp vỏ bùn cứng ấy và làm con tàu lộ ra. Điều này cũng được dân làng xung quanh đó xác nhận.
Radar xuyên đất
Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu của nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR).


Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý.
“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…”- Ron Wyatt cho biết.
Radar cũng cho thấy nhiều cấu trúc cây gỗ bên trong thân tàu. Các phân tích đã xác định chúng là những thanh gỗ sống tàu, sống phụ, mép tàu, các buồng ở, các buồng động vật, hệ thống thang (con tàu có 3 tầng), cánh cửa phía mũi mạn phải, 2 cái thùng lớn ở gần mũi tàu kích thước 14 x 24 inch, và một giếng trời nhỏ ở khu vực chính giữa con tàu để thông khí cho toàn bộ 3 tầng của con tàu tiền sử vĩ đại này.
Các hiện vật
Có lẽ khám phá quan trọng và đáng kinh ngạc nhất thu được từ hiện trường là một miếng gỗ đã hóa thạch. Khi mới được tìm thấy, người ta tưởng rằng đó là một miếng gỗ đơn thuần của sàn tàu. Nhưng khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, nó hóa ra gồm 3 tấm ván khác nhau, được cán mỏng sau đó gắn chặt với nhau bằng một loại keo dán hữu cơ. Nó rất giống với cách chế tạo gỗ dán của chúng ta ngày nay! Gỗ dán có sức bền lớn hơn nhiều so với gỗ thường. Điều này chứng tỏ người cổ xưa có trình độ công nghệ rất cao.
Mỹ thực hiện, cho thấy mẫu gỗ hóa thạch chứa 0,7% carbon hữu cơ.
Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt
Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt
Kiểm tra cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ. Bề ngoài của mẫu vật từng được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch.
Điều thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nữa, là người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này.
Trong sách Genesis 6:14, Thần bảo Noah “hãy tự đóng một con tàu bằng gỗ gopher”.Từ “Gỗ gopher” này thực ra là lỗi dịch sai, đúng ra phải là “gỗ kopher”. Kopher nghĩa là nhựa đường, “gỗ kopher” nghĩa là gỗ được phủ nhựa đường.Nguyên nhân là khi người ta dịch Genesis từ văn bản tiếng Do Thái cổ sang tiếng Anh, thì họ đã bị lẫn lộn giữa ký tự G và ký tự K, vốn có cách viết rất giống nhau trong tiếng Do Thái. Thực ra bản Bible tiếng Anh, phiên bản King James, có nhiều lỗi dịch sai tương tự như thế. Ví dụ: Acts 7:45 , Hebrews 4:8,… Đáng chú ý là nhiều phiên bản Bible các thứ tiếng khác lại dịch từ tiếng Anh ra, cho nên lỗi hiểu sai và dịch sai còn phổ biến hơn nhiều.
Chúng ta thường bị dạy một cách quá bài bản rằng loài người trải qua “thời kỳ đồ đá”, “thời kỳ đồ sắt”, vv… Người ta xếp “thời kỳ đồ sắt” vào khoảng hơn 3.000 năm trước đây. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có những cây đinh sắt, cắm bên trong một tấm gỗ dán đã hóa thạch, của một con tàu khổng lồ thời tiền sử.
Mẫu vật đáng kinh ngạc nhất đã được khám phá nhờ các máy dò kim loại. Đội nghiên cứu đã xác định được một số vị trí mà ở đó có tín hiệu mạnh nhất. Sau khi đào lên, họ đã tìm thấy những cái đinh tán lớn có hình đĩa. Quan sát, chúng ta đều có thể thấy chỗ mà những đinh tán này đã được gõ bẹt đầu sau khi xỏ xuyên qua lỗ.
một loại hợp kim mà thành phần có chứa cả nhôm
Người ta tiến hành phân tích để tìm hiểu xem kim loại gì đã được sử dụng để làm ra những cái đinh tán đó. Kết quả là: nó có chứa sắt (8.38%), nhôm (8.35%) và titan (1.59%). Nhưng đó chỉ là phần kim loại chưa bị rỉ sét hẳn, cho nên thành phần nguyên thủy ban đầu của thứ hợp kim kỳ lạ này chính xác gồm những gì vẫn còn là bí ẩn.
Tàu Noah bị lãng quên từ bao giờ?
Cách con tàu vài km, người ta tìm thấy nhiều khối đá rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm ngã trên mặt đất. Những khối đá này nặng nhiều tấn, có lỗ xuyên qua. Các nhà nghiên cứu đã xác định rõ rằng chúng là những cái neo, còn những cái lỗ là để buộc dây thừng.

Những khối đá neo này thường có nhiều dấu khắc chữ thập. Những dấu khắc hình chữ thập trên những khối đá này là do những người hành hương từ thời Trung cổ tới đây để được chiêm ngưỡng con tàu huyền thoại. Thực ra, con tàu này đã nổi tiếng ngay từ thời Trung cổ, thậm chí là từ trước đó nữa. Địa điểm của con tàu này đã được ghi lại trong nhiều tài liệu lịch sử khác nhau.
Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) nói rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại. Địa điểm trong thực tế tên là Nasar.
Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Một giọng nói cất lên: “Đất hãy rút nước của ngươi. Trời hãy ngừng mưa của ngươi”. Hồng Thủy dịu đi và ý chí của Allah đã được thực hiện. Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết“ “. Chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm, trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.
Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc bộ sách Bible) ghi: “Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10, ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn núi ấy”. (chính xác)
Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab. (chính xác)
Cuốn Theophilus của Antioch (115-185) nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong những ngọn núi của người Arab. (chính xác)
Vào thế kỷ 13, một du khách tên là Willam đã nói rằng ngọn núi Masis là vị trí mà con tàu nằm lại. Chính xác, ngày nay ngọn núi này có tên là Ararat.
Cuốn Geographia của Ptolemy (1548) nói dãy núi Armenia là vị trí của con tàu. Du khách Nicolas de Nicolay (1558) cũng nói như vậy. (chính xác)
Không phải ngẫu nhiên mà các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylonia, Lưỡng Hà, Sumeria, Peru, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, châu Mỹ, xứ Wales, Hawaii, Scandinavia, Sumatra, Polynesia, vv… tất cả đều có các phiên bản riêng của họ về một trận Đại Hồng Thủy cực lớn toàn cầu. Thống kê cho thấy toàn thế giới có khoảng 2.000 “truyền thuyết” như vậy. Dưới đây là phân tích sơ bộ một phần nhỏ trong số này.
Bảng phân tích nội dung các câu chuyện Đại Hồng Thủy khắp toàn cầu (35/~2000). Phần lớn các câu chuyện đều cho biết đại ý rằng: Đại Hồng Thủy là do Thần tạo ra để hủy diệt loài người vì nhân loại thời kỳ đó đã không còn lương tâm đạo đức, không còn xứng làm người. Nhấn vào hình ảnh để phóng lớn.
Báu vật quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Ron Wyatt và đằng sau là tàn tích hóa thạch của con tàu Noah “huyền thoại”. Địa điểm tại độ cao 2.000m trên mực nước biển thuộc dãy núi Ararat này đã trở thành Công viên Quốc gia Noah’s Ark – Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ
Tờ báo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ: Chính phủ xác nhận: “Đây là tàu Noah”
Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Noah. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ.
Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy là sự thật. Nó đã được công nhận từ 24 năm trước. Nhưng, tại sao sự kiện này bị phớt lờ và hầu như không có phương tiện truyền thông đại chúng nào của thế giới dám nhắc đến? Ai đã buộc họ phải im lặng? Câu hỏi này thực ra còn bí ẩn hơn bản thân con tàu “huyền thoại” ấy.
Minh Trí (tổng hợp trong tin 180.com )
Chủ Nhật, 16 tháng 6, 2013
TẠO RA NƯỚC ,TÌM RA NƯỚC - CHÌA KHÓA CỦA SỰ SỐNG
Tình huống của bạn như
sau: Bạn (hoặc nhóm của bạn) bị đắm tàu và trôi dạt đến một hoang đảo, những
vật dụng cần thiết đã không thể giữ lại. Sau khi tỉnh lại và điểm danh những
người còn sống sót, bạn mau chóng nhận ra là tất cả mọi người đang khát,họ rất
cần nước. Việc cấp thiết nhất hiện giờ phải kiếm nước uống được đủ cho mọi
người. Bạn chia nhóm của mình ra thành các nhóm nhỏ bắt đầu tiến hành tìm
nước ngọt trên đảo. Nước biển xung quanh bạn có rất nhiều nhưng không thể uống
được khi chưa tiến hành việc lọc muối.
Sau đợt tìm kiếm, nhóm
của bạn tập hợp lại và đáng tiếc là không ai có thể tìm thấy nguồn nước ngọt
nào. Một vài người có kinh nghiệm sử dụng cách thức đào lỗ gần bờ biển để lấy
nước bớt mặn hơn thấm vào. Tuy nhiên họ cũng mau chóng nhận ra nồng
độ muối trong loại nước này vẫn rất cao. Uống vào càng làm họ cảm thấy khát
hơn.
Tình thế càng lúc càng
bi đát hơn khi màn đêm buông xuống, họ không còn cách nào có thể tìm kiếm nước
trong hoàn cảnh đó nữa trong khi cơ thể lại càng đòi hỏi được bổ sung nước. Một
vài người chia sẻ nhau chai vang Bordeaux trắng còn sót lại và sau đó họ bắt
đầu uống nước tiểu của chính mình . Mình xin lưu ý việc uống chất lỏng chứa cồn
trong lúc đang khát là việc rất nguy hiểm. Nó sẽ nhanh chóng kéo đi lượng nước
ít ỏi trong cơ thể bạn,qua đường nước tiểu hay mồ hôi. Đẩy bạn nhanh hơn xuống
vực thẳm của sự mất nước. Ngay cả nước tiểu cũng chứa 2% muối, dùng nó để bù
đắp việc thiếu nước không mấy hiệu quả. Vả lại trong lúc bạn mất nước, việc đi
tiểu cũng là vấn đề rất khó khăn.

Bạn đã lạc vào một nơi không thể tìm ra nước hay
thứ gì tương tự!
Vậy thì việc uống máu
động vât có giải quyết được tình trạng thiếu nước? Một vài người trong nhóm bẫy
được một con ó biển và dự tính uống máu của nó để giải khát. Đây cũng không
được coi là một giải pháp tình thế bởi máu động vật cũng chứa muối. Quan trọng
hơn là nó được coi là một loại thực phẩm chứ không phải là đồ uống. Khi nó
xuống dạ dày, nó kích thích dạ dày bổ sung dịch tiêu hóa để tiêu hóa nó. Bạn sẽ
mất thêm nước để bổ sung cho dịch tiêu hóa và các dung môi liên quan đến việc
tiêu hóa.
Nên nhớ đây là cuộc
chiến chống lại sự mất nước, cái bạn cần là nước. Hãy tính toán một cách khoa
học nhất có thể để hạn chế việc mất nước. Bạn có thể thiếu thức ăn vài ba tuần
nhưng không thể thiếu nước quá 3 ngày.Và nếu cơ thể bạn đã đi vào trạng thái
mất nước, rất khó để bạn có thể tỉnh táo và nhanh chóng suy kiệt.
Các triệu chứng của mất nước như sau:
- Da khô, môi khô
nứt nẻ.
- Đi tiểu ít, nước
tiểu vàng đậm.
- Cơ bắp mỏi mệt rã rời
cả ngày.
- Huyết áp giảm,
đau đầu, chóng mặt, tim đập dồn dập.
- Cuối cùng là mê
man, mất tri giác.
Đây là những triệu chứng
của việc mất nước. Dựa vào điều này bạn có thể xác định mình hoặc nhóm của mình
có những ai bị mất nước nặng hay nhẹ. Lúc này việc tìm kiếm được nước ngọt càng
được đặt lên hàng đầu.
Màn đêm buông xuống,
không đủ ánh sáng để tìm kiếm bất kì thức gì nữa, vả lại nhóm của bạn đã tìm
kiếm tất cả những gì có thể lúc ban ngày rồi. Trong trường hợp này bạn sẽ làm
gì? Bó tay để mặc cho số phận phán quyết tính mạng ? Hay mong chờ vào một cơn
mưa bất chợt?
Nếu bạn cần một giải
pháp tạm thời thì có một cách mà bạn có thể sử dụng ở bất kì đâu để có thể kiếm
được cho mỗi người một lượng nước đủ dùng mỗi ngày. Ngay cả trong những trường
hợp khó khăn như trên. Đó là thu thập hơi sương.
Ở bất kì nơi đâu trên
thế giới, luôn luôn có sương kể cả ở trong sa mạc. Trên biển thì sương mù luôn
cực kì dầy đặc và liên tục. Và bạn chỉ việc thu thập loại sương này đọng trên
cây cỏ. Nghe thì có vẻ buồn cười nhưng việc này cực kì khả thi. Đây là cách
kiếm nước ngọt đơn giản của thổ dân châu úc bản địa mà rất ít người biết đến.
Ben nói với tôi với cách này, bạn có thể kiếm được 1 lít nước trong 1 tiếng
đồng hồ. Một con số rất triển vọng phải ko ?
Cách này đơn giản như
sau: Cuốn vải sạch và dày vào chân bạn. Kiếm một bãi cỏ đủ rộng và đi lại trên
đó. Nước đọng trên các lá cỏ sẽ mau chóng thấm vào mảnh vải dưới chân, khi nào
cảm thấy vừa đủ thì bạn vắt nước trên tấm vải ra vật chứa. Bạn đã có nước, khá
là tinh khiết.
Bạn cũng có thể lấy nó
từ các tán cây trên cao với que dài buộc vải. Nhưng việc đi lại trên một bãi cỏ
nào đó sẽ dễ dàng và đỡ mất sức hơn rất nhiều. Sương mù dày đặc cũng sẽ mau
chóng bổ sung lượng nước bạn đã lấy đi. Sương sẽ vẫn tiếp tục phủ xuống trong
một thời gian rất dài từ đêm đến sáng ( có khi đến gần trưa ). Bạn và nhóm của
bạn sẽ tạm đủ nước ngọt để dùng nếu sử dụng cách trên.
Vùng ngoại ô thủ đô
Lima, Peru có địa hình đồi dốc và ít mưa, do vậy rất thiếu nước sinh hoạt. Để khắc
phục điều này, hai nhà nghiên cứu sinh học và bảo vệ môi trường người Đức là
Tiedemann và Anne Lummerich tìm cách hỗ trợ những cư dân ngoại ô Lima bằng
những chiếc lưới đặc biệt có thể thu nước từ sương mù.
Bellavista là một trong
những ngôi làng được Tiedemann và Anne Lummerich thử nghiệm việc dùng lưới thu
nước. Chiếc lưới có chiều cao 4 mét, rộng 8 mét, được căng trên trụ gỗ cách mặt
đất 5,5 mét (ảnh). Vào một ngày đẹp trời mỗi tấm lưới như thế có thể thu được
gần 600 lít nước.
(Theo Nationalgeographic)
Lưới hứng sương ở ngoại ô Lima.
Tìm Nguồn, Mạch nước ngầm
Việc thu thập hơi sương
như trên là một cách khá hay nhưng cũng chỉ là giải pháp tạm thời, nó tốn sức
tốn thời gian và bó chân bạn tại một địa điểm. Việc tìm kiếm nguồn nước ngọt
hay mạch nước ngầm là một việc mà bạn không thể không làm. Vậy thì cách
thức tìm kiếm chúng như thế nào ?
- Từ sông, suối, ao ,
hồ, đầm, mương, lạch … Bất kì ai cũng biết đó chính là nước, tùy vào độ ô nhiễm
của nó mà bạn có thể uống trực tiếp hay lọc trước khi sử dụng. Tìm được chúng
thì bạn là người may mắn. Hãy tổ chức nhóm của bạn thám hiểm sâu hơn vào phía
trung tâm của đảo. Bạn có thể gặp được hồ nước ngọt, suối hay thác nước từ trên
cao đổ xuống. Chúng hoàn toàn là nước ngọt. Tìm được sông suối hay hồ nước bạn
cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc tìm kiếm thức ăn.
- Từ bờ biển: Bạn xem
Wild vs Man và thấy Bear uống nước từ bờ biển bằng cách đào lỗ gần bở biển và
lấy nước thấm vào đó qua lớp cát ? Bạn nghĩ đó cũng là một cách?
Sự thật thì việc không
đơn giản như thế. Cát hoàn toàn không có khả năng lọc được muối. Nếu bạn tìm
được nước ngọt thì nước đó không phải đến từ biển. Tuy nhiên cách này cũng hay
được sử dụng và có thể tìm được nước uống được. Hãy làm theo các bước sau đây:
+ Đi dọc theo bờ
biển, cách biển ít nhất 30 mét. Kiểm tra những phần cát ẩm ướt khác màu với
xung quanh.
+ Chú ý
những nơi trên cát có cỏ mọc, khả năng rất cao là nơi đó có nước ngọt.
+ Tìm được vị trí
thích hợp thì hãy đào những lỗ nhỏ ở vùng này. Chú ý khi đào đến lớp cát ướt
phải dừng lại ngay và chờ nước từ từ rỉ ra. Nếu nóng vội đào sâu hơn chắc chắn
sẽ gặp nước mặn.
+ Hi vọng là
nó không mặn để có thể uống được, chứa chúng bằng các loại vật dụng. Nếu không
thành công thì lặp lại từ bước 1 và tiếp tục hi vọng.
- Nói chung việc
lấy nước từ bờ biển khá khó khăn. Bạn vẫn phải tìm cách để tìm được mạch nước
hay nguồn nước.
+ Tìm những
nơi có dấu hiệu của nước như sông suối cạn, đào lỗ hoặc giếng ở gần đó. Cách
này tuy mất sức nhưng tỉ lệ kiếm được nước với số lượng nhiều khá cao.
+ Đi ngược lại về
phí nguồn của những con sông, suối cạn. Bạn có thể tìm thấy được nước vẫn còn
đang tiếp tục chảy, những mạch nước vẫn đang rỉ nước hoặc ít ra là bùn nhão.
Bọc lớp bùn nhão này vào trong một tấm vải và vắt chúng thật mạnh. Nước (bẩn)
sẽ rỉ ra. Thu thập một lượng đủ để lọc và sử dụng trong lúc cần thiết.
+ Trong trường hợp
bạn ở vùng núi đá, tìm đến những nơi có rêu xanh mọc nhiều và phát triển.Rất
nhiều trường hợp nước rỉ ra từ các kẽ nứt trên đá. Những khu vực khô cằn mà
xuất hiện nhiều phân chim thì cũng nên tìm kiếm ở các khe nứt và hốc đá, bạn sẽ
tìm thấy nước tinh khiết và có thể uống được ngay. Trong trường hợp nước ở
trong khe sâu mà không có ống hút hay dụng cụ như muôi, ly nhỏ để lấy nước bạn
có thể nhét vào đó một tấm vải sạch để nó thấm nước sau đó vắt nước từ đó ra
một vật để đựng.
Theo dõi hành vi của động vật
Vẫn là tìm kiếm nguồn
nước nhưng bằng mắt thường thì việc tìm kiếm theo kiểu cầu may như trên cho tỉ
lệ thành công không được cao. Ta có thể nhờ các loại động vật bản địa “ chỉ
đường” giúp đến nơi có nước vì chúng đã sống ở đây lâu dài. Dù là côn trùng thì
chúng cũng vẫn cần nước để sống, và tất nhiên chúng sẽ nhớ được đường đến nơi
có nước.
- Khu vực có tổ ong
là khu vực có nguồn nước, tìm kiếm quanh đó.
- Một chú rùa sa
mạc thường sống quanh quẩn ở nơi có nước, chú ý hướng di chuyển của nó.
- Các loài thú càng
lớn thì càng cần nước. Loài voi cần nước không chỉ để uống mà còn để đầm mình.
Đi theo dấu chân của chúng chắc chắn sẽ dẫn đến nơi có nước. Chú ý loài voi khá
hung dữ và dè chừng con người. Chúng cũng khá thông minh chứ không hiền lành
như trong phim đâu. Cẩn thận đừng chọc phá đến chúng.
Các loài thú khác cũng
dẫn đến nơi có nước. Chúng thường đi tìm nước uống vào lúc sáng sớm và chiều
tối. Vào những thời điểm này đi theo chúng hoặc đơn giản hơn là lần theo dấu
vết di chuyển, lối mòn nhiều năm rất dễ nhận biết của chúng để tìm thấy nước.

Các loài thú bản địa là chuyên gia tìm kiếm
nguồn nước.
- Chim chóc thường tập
trung ở những nơi có nước. Để ý những nơi chim chóc tập trung thành đàn lớn.Nếu
ở xa không thể nhìn được nơi bầy chim tập trung thì nhìn lên bầu trời, chú ý
những nơi có nhiều chim chóc bay vòng vòng và sà xuống. Tìm kiếm nơi nào tập
trung nhiều phân chim cũng là một cách khác.
Chú ý những loài chim
săn mồi như chim đại bàng, chim cắt, chim ưng … thường lấy chất lỏng trong máu
con mồi thay cho nước. Đi theo chúng thường không có kết quả.
Các loài chim biển như
hải âu, bồ nông, nhạn biển, mòng biển … có tuyến lọc muối riêng nên chúng
không cần đến nước ngọt. Đây là nguyên nhân có thể tìm thấy chúng cách xa đất
liền hàng trăm dặm. Và dĩ nhiên chúng không chỉ ta nơi nào có nước ngọt.
Thổ dân sa mạc sahara
cho rằng: Những con chim bay đến nơi có nước thì bay nhanh, bay thẳng. Còn nếu
bay từ những nơi có nước về thì bay nặng nề, đập cánh mạnh mẽ và thường xuyên
phải đậu lại để nghỉ ngơi. Tuy nhiên tôi nói ra cách này chỉ để các bạn tham
khảo và nếu sử dụng thì đòi hỏi bạn phải là người có kinh nghiệm và kĩ năng
quan sát tốt.
Nói chung loài chim là
loài vật có nhiều công dụng giúp đỡ ta nhất khi lạc ngoài hoang dã. Trong đó là
khả năng tìm kiếm nguồn nước. Chúng có số lượng nhiều, sống ở hầu hết mọi nơi
trên trái đất, không nguy hiểm và không khó nhận thấy như những loài thú khác.
Nước từ thực vật
Nếu quá khó khăn trong
việc tìm kiếm nước từ các phương thức như ở trên thì việc lấy nước từ thực vật
là một cách làm khá tốt và đơn giản. Hàng ngày, việc ăn vào cách loại thức ăn,
hoa quả có chứa nhiều nước cũng là một cách để bạn cung cấp nước cho cơ thể.
Tuy nhiên ở đây tôi xin đề cập đến những vấn đề nâng cao hơn là việc đơn giản
chỉ ăn các loại hoa quả. Đó là kiếm được nước uống được từ thực vật. Tất nhiên
việc này cũng có những điều cấm kị riêng. không phải nước từ loại cây, loại quả
nào cũng có thể ăn, uống được. Hãy cẩn thận chỉ sử dụng những loại cây nào mình
đã biết rõ.
- Từ hoa quả: các loại hoa quả thường chứa nhiều nước.Nếu ăn
với số lượng nhiều thì cũng đủ cung cấp nước cho cơ thể hoạt động. Quả dừa chứa
rất nhiều nước mát và dinh dưỡng, các loại quả như dưa hấu, thốt nốt cũng chứa
nhiều nước.

Bản thân hoa quả chứa nhiều nước và các loại
vitamin.
Chú ý vì không ít các
loại hoa quả độc không tên mà bạn chưa biết. Thậm chí nhiều loài còn chưa có
tên khoa học. Chúng sẽ làm bạn ngộ độc thậm chí là giết chết bạn nếu ăn phải.
Vậy hãy chắc chắn ăn và uống những gì mình đã biết rõ về nó. Điều này tôi sẽ
nói rõ hơn ở phần sau : “ Thực vật nguy hiểm".
- Nước từ các loại dây leo: Các loại dây leo tươi tốt trong tự nhiên chứa
bên trong nó nhiều nước. Nước từ các loại dây leo này thường có mùi hơi ngái
nhưng hầu hết là tinh khiết và uống được trực tiếp từ thân cây. Một số loại gây
ngứa cổ khi uống nhưng hầu hết là không có độc. Khi sử dụng chúng thì cần chú ý
một chút.

Một cách giải khát của người đi rừng.
Cắt đứt một dây leo ở
phần sát mặt đất, kê đầu đó vào bình chứa sau đó cắt đứt phần trên cao của dây
leo để dây leo hở ở 2 đầu. Dốc ngược nó xuống thì nước sẽ chảy vào bình.
Khi hết nước làm tương tự với đoạn dây leo khác. Các loại dây leo nhỏ như dây nho vẫn cho một lượng nước đáng kể.
Khi hết nước làm tương tự với đoạn dây leo khác. Các loại dây leo nhỏ như dây nho vẫn cho một lượng nước đáng kể.
- Nước mưa đọng
lại từ trong các hốc cây to, cây đại thụ: Những hốc cây do kiến hay ong đục thủng là một
nơi chứa nước sạch khá lâu do ít có ánh mặt trời chiếu vào. Lấy nước từ đó ra
bằng ống hút hay các tấm vải sạch.
- Một bụi tre
xanh là một nguồn nước tuyệt vời: nước mưa đọng lại trong các đốt tre bị kiến đục thủng. Khi gặp một
bụi tre , hãy lắc mạnh từng cây tre và tìm kiếm những cây tre nào phát ra âm
thanh óc ách. Nó đang chứa nước.
Bản thân cây tre cũng
chứa rất nhiều nước. Do cấu trúc mao mạch của cây tre nên việc lấy nước từ nó
ra cũng không khó khăn cho lắm. Tìm những cây tre non và xanh nhất.Cắt đứt phần
ngọn, uốn cong nó xuống và buộc lại như hình bạn sẽ thấy nước nhỏ giọt xuống từ
vết cắt. Hứng nó một thời gian, qua 1 đêm bạn sẽ có khoảng 2,5 lít nước sạch.

Nước lấy từ cây tre dù
bằng cách nào đi nữa thì cũng đều tinh khiết, không màu, không mùi và sử dụng
luôn được. Một bụi tre xanh là một nguồn nước tuyệt vời.
- Nước từ cây chuối: Cây chuối là một loại cây thường gặp và trong
thân nó chứa nhiều nước. Nó có một bộ rễ cực khỏe trong việc hút nước. Nó cũng
thường mọc ở nơi đất ẩm ướt. Ta không lấy nước trực tiếp từ nó như đối với cây
tre mà sử dụng nó như một loại máy bơm hay máy lọc nước ( xem hình )
+ Cắt ngang thân
cây chuối, cách phần gốc dưới mặt đất khoảng 20-30 cm
+ Khoét một lỗ
hình bát ở phần còn lại. Chú ý khoét theo hình bát, chừa phần bẹ chuối xung
quanh lại để đựng nước, khoét sâu cho đến khi đụng đến phần củ chuối dày, xốp
màu trắng thì dừng lại.
+ Để nguyên
như thế khoảng 1 giờ sau thì nước sẽ tự trào lên đầy kín “bát” . Múc nước ra
vật chứa và lại chờ nước trào lên. Lặp lại bước trên cho đến khi cây chuối khô
kiệt nước.
+ Một cây chuối có
thể làm liên lục như vậy 4-5 ngày. Lượng nước nó cung cấp là không hề ít.
+ Loại nước này có
vị hơi chát nhưng uống trực tiếp cũng ko sao. Ngoài ra có thể lọc nó để loại bỏ
vị chát.
- Nước từ cây dừa: Quả dừa cho nước uống rất tốt, đó là điều hiển
nhiên nhưng nếu bạn gặp một cây dừa không có quả. Vẫn có cách lấy nước từ thân
cây dừa bằng cách sau:
Níu ngọn (phần giáp
cuống hoa với buồng hoa ) cắt cụt phần đầu. Phần buồng hoa này khá ngắn nên cắt
ít thôi. Sau khi cắt thì níu cong xuống và buộc cố định lại. Hứng nước nhỏ giọt
xuống bên dưới hoặc lấy túi Nylon buộc vào phần bị cắt đó. Với cách này mỗi cây
dừa sẽ cho bạn 1 lít nước mỗi đêm.
Một số loại nhựa dừa còn
được dùng để làm đồ uống, rượu và chế biến thành đường. Nói chung dùng để uống
thì không có vấn đề gì.
- Cây thốt nôt: Được trồng nhiều ở phía nam Việt Nam và khá
nhiều nước trong vùng nhiệt đới. Đây là một loại cây khác “ đặc sản” vì quả của
nó thơm ngon. Ăn ngọt và mát như thạch. Quả già có thể làm mứt hoặc giã ra lấy
bột làm bánh. Thân cây chứa nhiều nước có vị ngọt và mùi thơm. Loại nước này có
thể để lên men làm rượu hoặc để chế biến đường cát.
Cây thốt nốt.
Để lấy nước từ cây thốt
nốt, Bạn có thể làm tương tự như với cây dừa, cắt một đoạn ở đầu đọt hoa, buộc
túi Nylon và vít nó trĩu xuống. Để như thế 1 đêm bạn sẽ có 1 lít nước có vị
ngọt để giải khát.
- Cây xương rồng: Cây xương rồng mọc khá nhiều ở sa mạc và hoang
mạc khô cằn. Bản thân nó không cần nhiều nước để phát triển nhưng lại chứa rất
nhiều nước trong thân. Đặc biệt là giống xương rồng khổng lồ saguaro mọc nhiều
ở châu Mỹ ( Ở kỳ 2 có một bạn độc giả nói cây xương rồng saguaro trong thân có
nhiều chất độc mà khi ta ăn phải sẽ nguy hiểm đến tính mạng. Mình đã tìm hiểu
rất kĩ những tài liệu về loài cây này và hỏi cả ý kiến của Ben. Mình xin xác
nhận lại : đây là loại xương rồng chứa nhiều nước nhất và hoàn toàn không độc.
Quả của nó còn ăn khá ngon nữa.Có thể sử dụng được nước trong thân nó một cách
an toàn).

Xương rồng saguaro có thể cao trên 15m.
Để lấy nước trong cây
xương rồng, bạn hãy chọn những cây tròn. Mọng nước và cao vừa tầm. Cắt ngang
thân cây, dùng que hay gậy quậy nát phần ở giữ nó sẽ cho bạn một loại chất nhờn
giống như thạch. Ăn có vị mát và không đến mức khó ăn lắm. Dùng nó để giải khát
rất tốt.
Cách khác là bạn có thể
cắt phần lõi đó ra thành từng miếng nhỏ. Bọc nó vào một miếng vải sạch và ép,
vắt nước từ trong đó chảy ra. Kiên trì thì bạn cũng có một số lượng nước tạm đủ
để dùng trong sa mạc.
- Các loại cây khác: Các loại cây trên là những loại cây mọc rộng
rãi trên khắp thế giới hay ít ra bạn có thể bắt gặp họ hàng của chúng ở khắp
nơi trên thế giới, hãy linh hoạt tận dụng chúng trong những tình huống tương
tự.
Chú ý một số loại cây sau thường cho rất nhiều nước: Cây cọ (palm), cây dừa (coconut), cây mía,cây
song, cây mây , cây mộc lan, cây bao báp, cây kapac, cây Rui, cây Bụng Báng,
cây Đùng Đình (mọc ở miền trung Việt Nam và các nước nhiệt đới)...
Những cây kapac trưởng
thành cao khoảng 15 mét và cho liên tục 150-170 lít nước từ thân nó.
Nhưng nếu bạn đen đủi
đến mức không thấy bất kì những gì như tôi nói: không thấy khe nước, không thấy
nguồn nước,không ao hồ, không thấy các loài chim thú, không có sương mù, không
có những loài cây quả như kể trên mà chỉ có những cây bụi thấp lè tè không mọng
nước. Chẳng còn cách nào khác bạn đành phải vắt nước có lẫn nhựa cây ra để sử
dụng nếu không muốn chết. Những cây loại này thì phần mọng nước nhất nằm ở gần
rễ. Nghiền rễ của chúng để vắt lấy nước hoặc sử dụng cho việc chưng cất mà tôi
nói ở phía dưới.
Nhìn có vẻ không mấy triển vọng nhưng chúng cũng
có thể cung cấp nước.
Nước từ băng tuyết
Đun chảy thành nước khá
tinh khiết. Tránh việc sử dụng trực tiếp dẫn đến mất nhiệt và khô họng. Uống
nước quá lạnh còn làm tăng cảm giác khát nước.
Lọc và khử trùng nước
Ở nơi hoang dã, bạn có
thể chế tạo những hệ thống lọc nước mini đơn giản nhưng có tác dụng lọc các
chất cặn bã, chất bẩn làm cho nước trở nên trong và sạch hơn (chưa nhắc đến
việc khử trùng nhé )
- Dùng một chiếc lon
bia, ống tre, các loại chai lọ …hay bất kì thứ gì bạn có thể kiếm được.
- Đục nhiều lỗ nhỏ ở
phía đáy, nhét cỏ hoặc vải xuống phần đáy.
- Tiếp theo là một lớp
mỏng cát sạch.
- Nếu có thể bạn
cho vào tiếp một lớp than hoạt tính. Than hoạt tính có thể tạo ra bằng cách đun
các loại gỗ cứng như gáo dừa (không phải xơ dừa nhé ), gộc tre trúc. Cắt vụn
các loại gỗ này và đốt vừa đủ trong lửa cho đến khi bở bột. Đập vụn ra và làm
lớp lọc tiếp theo. Loại than này gần được coi là than hoạt tính.
Than hoạt tính có công
dụng rất lớn lao trong việc lọc nước.Chúng có thể lấy đi các chất độc, kim loại
nặng, khử mùi và hoàn toàn không gây hại đến cơ thể chúng ta.
- Nếu không có than
hoạt tính thì có thể dùng một lớp cát dày để lọc. Tuy nhiên tính năng lọc nước
kém hơn.
Sử dụng loại ống lọc
nước mini này để lọc những loại nước bẩn mà bạn kiếm được từ ao hồ, giếng đào
có chứa nhiều bùn đất, chất cặn bẩn.
Khử trùng:
Nước sau khi đã được lọc sạch hơn thì ta có thể khử trùng. Cách đơn giản và
hiệu quả nhất là khử trùng nước bằng cách đun sôi. Đun nước sôi từ 5-10 phút là
có thể loại bỏ được tất cả những vi sinh vật trong nước.
Trong trường hợp ngoài
hoang dã, bạn không thể kiếm được một chiếc nồi kim loại để đun nước thì ta có
thể đun nước trong ống tre, thậm chí là trên các tấm vải chống thấm nước dày,
các loại da thú, mai rùa.
Đun nước trên các tấm da
thú hay các tấm plastic, tấm vài chống thấm nước bằng cách như sau:
- Đào một lỗ nhỏ
trên mặt đất, chuẩn bị những viên sỏi, đá nhỏ bằng quả trứng gà.
- Phủ tấm da thú
lên trên cái lỗ, dằn đá xung quanh cho chắc chắn, ta có một cái nồi ngầm dưới
mặt đất.
- Đổ nước đầy
“chiếc nồi” này.
- Nung nóng các
viên đá nóng và lần lượt bỏ vào nồi cho đến khi nước sôi.
Đây là một cách đun nước
hiệu quả nếu trong tay bạn không có một chiếc nồi nào. Bạn cũng có thể dùng
cách này để nấu ăn trong các trường hợp tương tự.
Một cách đơn giản để đun sôi nước trên da thú
Đồ dùng để đựng nước
Bằng sự nhanh trí của
mình, hãy tận dụng tất cả những gì có xung quanh bạn để đựng nước. Đây là một
công đoạn khá quan trọng bởi bạn tìm thấy nước mà không có gì để đựng, để vận
chuyển thì mọi chuyện cũng bằng hòa.
Nó có thể là các loại
vật liệu lấy từ thực vật như ống tre trúc, gáo dừa (sọ dừa), vỏ quả bầu, làm từ
gỗ …
Cũng có thể nó được lấy
từ động vật như sừng trâu bò, túi ruột tượng làm từ dạ dày cách loài thú lớn
may lại, mai rùa …
Từ chính những vật dụng
chúng ta có sẵn: chai lọ sau khi dùng xong, vải chống thấm, túi nylon, bao cao
su …
Nước từ phương pháp
chưng cất hay ngưng tụ
Phương pháp chưng cất
hay ngưng tụ hơi nước là phương pháp lấy nước kì công hơn một chút. Bù lại ta
có thể thu được loại nước cực kì tinh khiết. Phương pháp này cũng được sử dụng
khi tất cả các cách phía trên không làm được (sự thật thì trường hợp đó cũng
rất khó xảy ra).
Từ nước biển hay nước
bẩn, ô nhiễm nặng. Bạn có thể thu được nước sạch bằng cách chưng cất như hình
dưới đây:
- Đun nước mặn hay
nước ô nhiễm trong nồi 1.
- Nồi 1 được bít
chặt và thông sang nồi 2 bằng một cái ống.
- Phần ống bên nồi 2
được quấn vải tẩm nước có tác dụng làm lạnh ống. Bản thân nồi 2 cũng được nhúng
nước thì càng tốt.
- Hơi nước từ nồi 1 sang
nồi 2 gặp lạnh sẽ ngưng tụ lại.
- Liên tục làm lạnh cho
nồi 2 và ống, bạn sẽ nhanh có nước ngưng tụ hơn.
Ngưng tụ nước
Cây cối trong quá trình
quang hợp sản sinh ra khá nhiều hơi nước. Sử dụng một túi nylon để lấy hơi nước
sinh ra. Cách này cho nước không được nhiều nhưng nước tinh khiết và có thể
dùng ngay được.
- Tìm một bụi cây
nhỏ, lá xanh tốt. Đào một lỗ nhỏ ngay cạnh cây để chứa nước. Lót dưới đó một
tấm nylon sạch để đựng nước.
- Trùm một tấm
nylon khác ra ngoài toàn bộ cây, dằn đá xung quanh cho kín.
- Dưới tác động của
ánh nắng mặt trời, cây quang hợp sản sinh ra hơi nước, đọng lại dưới tấm nylon
và ngưng tụ lại, chảy xuống cái hố lót nylon để đựng nước mà ta tạo ra.
Một cách khác tương tự để lấy hơi nước từ cây
xanh.
Bạn tìm thấy những con
sông toàn bùn, những nguồn nước ô nhiễm nặng hay nước nhiễm phèn, nhiễm mặn,
nước biển. Thậm chí ngay cả những thứ trên bạn cũng không thể tìm được ( trong
sa mạc chẳng hạn ) . Bạn chỉ có thể có một vài cái cây bụi thấp, vài cây xương
rồng nhỏ, cỏ dại … Bạn vẫn có thể lấy nước từ chúng bằng phương pháp ngưng tụ.
Phương pháp này có lẽ còn hiệu quả hơn việc ngưng tụ hơi nước từ lá cây như ở
trên.
- Đào ở những khu vực
đất ẩm ướt, bùn hoặc bất kì chỗ nào có ánh mặt trời chiếu tới.Đường kính 1 mét,
sâu cũng khoảng 1 mét.
- Đặt dưới đáy một chiếc
xô, ca, chậu, mai rùa hay bất kì những gì có thể đựng nước.
- Phủ lên miệng hố một
tấm nylon trong suốt (kể cả không trong suốt cũng được ).Dằn đá xung quanh cho
chắc chắn và kín.
- Đặt một viên đá nhỏ ở
giữa để tấm nylon trũng xuống ngay phía trên vật đựng nước
- Sức nóng của ánh
nắng mặt trời sẽ làm đất ấm bốc hơi đọng lại trên tấm nylon và nhỏ vào vật đựng
nước. Với cách này bạn có thể tạo ra 2 lít nước trong những ngày nắng to.
Với trường hợp ở sa mạc
khô cằn,hoang mạc hoặc những nơi không có đất ẩm. Bạn có thể lót dưới hố thân
cây, lá cây, rễ cây … những phần mọng nước của cây được băm nát cũng tạo được
độ ẩm .
Trường hợp nước mặn hay
nước ô nhiễm, bạn có thể đổ trực tiếp xuống hố để làm đất ẩm thì càng tốt.
Tổng kết
Tầm quan trọng của nước
đối với sự sống như thế nào thì có lẽ tôi không cần phải nhắc lại. Phía trên là
những cách tạo ra nước uống được từ trong thiên nhiên mà tôi tập hợp từ rất
nhiều tài liệu, kể cả những kiến thức thực tế của những người chuyên nghiệp. Nó
đã khá chi tiết và bao gồm cả những cách có vẻ khó thực hiện thậm chí phi thực
tế. Nhưng một lúc nào đó, khi thiên nhiên không cho phép bạn lựa chọn thì có
lẽ, đó là cách duy nhất mà bạn có thể làm để duy trì sự sống. Chính nó sẽ
khiến bạn có thêm sức mạnh và lòng tin để mưu tính những tham vọng lớn lao hơn
là việc giữ cho mình sống sót.
( Genk.vn tổng hợp từ nhiều nguồn trên net)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)