Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

ĐẠO THIÊN CHÚA HAY ĐẠO CÔNG GIÁO ?


Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn


Hỏi: xin cha giải thích: Đạo Thiên Chúa là gì và khác Đạo Công Giáo như thế nào?

Trả lời:

Trong thực tế, nhiều người đã lầm lẫn khi dùng cụm từ “Đạo Thiên Chúa” hay "Thiên Chúa Giáo" để chỉ Đạo Công Giáo (Catholicism) tức là Đạo thánh mà chính Chúa Kitô đã rao giảng và thiết lập Giáo Hội trên nền tảng Tông Đồ như phương tiện để loan truyền và mang ơn cứu độ của Chúa đến cho mọi dân mọi nước cho đến ngày mãn thời gian.
Đó là Đạo cứu rỗi mời gọi mọi người đón nhận để được sống hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa trong Vương Quốc tình yêu của Ngài.

Xét về từ ngữ (terminology) thì danh xưng Đạo Thiên Chúa nghe có vẻ hợp lý vì mục đích tôn thờ Thiên Chúa là Chủ tể vạn vật và vũ trụ. Nhưng nếu đi sâu vào nôi dung thần học, thì danh xưng này không phân biệt rõ đối tượng và mục đích tôn thờ của các tín hữu có cùng niềm tin vào Thiên Chúa (God) nói chung và Chúa Cứu Thế Giêsu nói riêng. Các tín hữu này hiện đang phân tán trong các Giáo Hội hay Đạo có danh xưng khác nhau như sau:

1- Do Thái Giáo (Judaism), hay còn gọi là Đạo Mai Sen (Mosaic Religion) là Đạo tôn thờ Thiên Chúa Yahweh, là Cha của các Tổ Phụ Abraham, Isaac và Israel (Jacob). Ngài cũng là Đấng, qua tay ông Mai Sen, đã giải phóng cho dân Do Thái thoát ách thống khổ bên Ai Cập và mang họ vượt Biển Đỏ trở về quê hương an toàn.Và cũng qua trung gian ông Mai-sen, Thiên Chúa đã truyền cho dân Do Thái và cho cả nhân loại ngày nay Mười Điều Răn như giao ước phải thi hành để được chúc phúc và được sống với Thiên Chúa là tình thương. Tín hữu DoThái thuộc Đạo này cho đến nay vẫn chỉ tôn thờ một Thiên Chúa Yaweh độc nhất mà thôi (monotheism). Họ không có ý niệm gì về một Thiên Chúa Ba Ngôi (The Holy Trinity) vì họ không nhìn nhận Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống thế làm Người để cứu chuộc nhân loại. Họ cũng không biết gì về Chúa Thánh Thần, mặc dù Kinh Thánh Cựu Ước có hé mở chút ánh sáng về Ba Ngôi Thiên Chúa qua trình thuật Ba người khách lạ đến thăm ông Abraham và được ông niềm nở đón tiếp dù không biết họ là ai. (Stk 18:1-15) .

Cũng vì không nhìn nhận Chúa Cứu Thế Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa và Phúc Âm của Người nên Kinh Thánh của Do Thái Giáo chỉ có phần Cựu Ước mà thôi.

2- Công Giáo La Mã (Roman Catholicism) chính là Kitô Giáo, tức là Đạo Cứu Rỗi do Chúa Kitô khai sinh với việc Người xuống trần gian làm Con Người, đi rao giảng Tin Mừng, chữa lành và cuối cùng chết trên thập giá để hoàn tất công cuộc cứu chuộc cho loài người khỏi chết vì tội.
Đạo Công Giáo tôn thờ Thiên Chúa Ba Ngôi cùng một bản thể (substance) và uy quyền như nhau. Thiên Chúa của Đạo Công Giáo là Thiên Chúa của Chúa Kitô (Christian God) và cũng là Thiên Chúa của các Tổ Phụ Do Thái. Do đó, Kinh Thánh của Giáo Hội Công Giáo gồm cả hai phần Cựu Ước (Old Testament) và Tân Ước (New Testament)với tổng cộng 72 Sách thánh mà Giáo Hội Công Giáo dạy tín hữu phải đọc để nuôi dưỡng đời sống đức tin nhờ nghe Lời Chúa để biết sống theo đường lối của Người.

3- Chính Thống Giáo là Nhánh Kitô Gíáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ năm 1054 vì một số bất đồng về tín lý, phụng vụ và quyền bính. Cho đến nay, nhánh này vẫn chưa hiệp nhất trọn vẹn được với Giáo Hội Công Giáo La Mã dù cả hai bên đã có nhiều thiện chí và cố gắng để xích lại gần nhau. Công Giáo và Chính Thống đều có chung nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession) nên có chung các bí tích hữu hiệu như nhau, mặc dù vẫn chưa thể hiệp nhất được vì một trở ngại duy nhất là vấn đề quyền bình của Đấng thay mặt Chúa Kitô để cai trị Giáo Hội. Đó là quyền bính của Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Rôma, mà anh em Chính Thống chưa công nhận.

4- Tin Lành (Protestantism) là Nhánh Kitô Gíáo đã ly khai khỏi Công Giáo và Chính Thống Giáo sau những cuộc cải cách (reformations) do Martin Luther chủ xướng tại Đức năm 1517, lan qua Pháp với John Calvin, Thụy sĩ với Ulrich Zwingli .

Nhưng chính nội bộ nhánh này sau đó cũng đã phân chia thành hàng ngàn các nhánh nhỏ khác nhau như Baptists, Methodists, Lutherans, Presbyterians, Episcopalians, Pentecostals, Quakers, Church of Christ v.v. Họ cũng tôn thờ một Thiên Chúa và tin Chúa Kitô là Cứu Chúa (Savior) cũng như lấy Kinh Thánh làm nền tảng cho niềm tin và sứ vụ giảng dạy (Preaching ministry), nhưng khác biệt với Công Giáo và Chính Thống Giáo về nhiều điểm căn bản liên quan đến thần học, bí tích, phụng vụ, quyền bính và kinh thánh (họ giải thích kinh thánh theo cách hiểu riêng của họ). Thêm vào đó, cũng như Chính Thống Giáo, các nhánh Tin lành đều không công nhận vai trò và quyền bính tối cao của Đức Giáo Hoàng La Mã.Một điểm quan trọng nữa cần nói thêm là các nhánh Tin lành này đều không có nguồn gốc Tông Đồ (Apostolic succession) nên họ không có các bí tích hiệu như Công Giáo Giáo và Chính Thống trừ phép rửa mà đa số họ có.

5- Anh Giáo (Anglicanism) tức nhóm Kitôgiáo đã tách khỏi Công Giáo La Mã vì sự bất mãn liên quan đến vấn đề hôn nhân của Vua Henry VIII trong thế kỷ 16. Henry đã tuyên bố ly khai khỏi Công Giáo La Mã và tự phong làm thủ lãnh nhánh ly khai này. Nhóm này có tên chung là Anglican Communion, tức là Anh Giáo, hoàn toàn khác với Giáo Hội Anh Quốc (The Church of England) là Giáo Hội Công Giáo của nước Anh hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo La Mã (Rome)

Nhưng cách nay gần hai năm, một biến chuyển mới trong liên hệ giữa Anh Giáo và Giáo Hội Công Giáo là có một nhóm khá đông các tín hữu Anh giáo cũng với giáo sĩ của họ đã xin gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Để đón mừng và tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm cựu Anh Giáo này, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-Tô 16, ngày 9-11-2009 đã cho công bố Tông Thư "Anglicanorum coetibus" (Các tín hữu Anh Giáo) theo đó Tòa Thánh cho phép thiết lập các Giáo Hạt tòng nhân trong ranh giới của một số Giáo Phận Công Giáo ở Anh Quốc và xứ Wales để cho các cựu tín hữu Anh giáo được cử hành các nghi thức phụng vụ và bí tích theo nghi thức của truyền thống Anh Giáo đã được Tòa Thánh phê chuẩn.

Mới nhất, ngày 15-1-2011 vừa qua, ba cựu giám mục Anh giáo đã được tấn phong linh mục Công Giáo tại Thánh Đường Westminster, Luân Đôn. Và một trong ba tân linh mục này, cha Keith Newton đã được cử làm Quản hạt tòng nhân Đức Mẹ Walsingham, một Quản hạt tòng nhân đầu tiên mới được thành lập ngày 15-1 vừa qua để đón nhận các cựu tín hữu Anh Giáo gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Sở dĩ có việc truyền chức cho các cựu giám mục Anh Giáo là vì Giáo Hội Công Giáo không công nhận Anh Giáo có bí tích Truyền Chức hữu hiệu, nên các cựu linh mục và giám mục Anh Giáo, nếu muốn, đều phải xin thụ phong linh mục Công Giáo trước và sau này có thể có linh mục được chọn làm giám mục Công Giáo.

Lại nữa, vì Anh Giáo cho các linh mục và giám mục của họ kết hôn, nên sau khi được thụ phong linh mục Công giáo, họ vẫn được phép tiếp tục sống với vợ con.

Ngoài ra, còn phải kể thêm một tôn giáo lớn nữa cũng tôn thờ Thiên Chúa mà họ gọi là Đấng Allah. Đólà Đạo Hồi (Islam) do Muhammad sáng lập vào năm A.D. 622. Từ ngữ Islam trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “Tuân phục ý muốn của Thiên Chúa = (Submission to the will of God) nhưng Đạo này khác xa Đạo Do Thái, Công Giáo và các Nhánh KitôGíáo nói trên về nhiều mặt. Thí dụ họ chỉ coi Chúa Giêsu là một người thường, một tiên tri như Abraham, Moses, Noah v.v và kinh thánh của họ là kinh Koran.

Như vậy, không có đạọ nào gọi là Đạo Thiên Chúa (Deism) đúng nghĩa với danh xưng này cả vì trong thực tế thì tất cả các Nhánh hay Đạo mang các danh xưng riêng biệt trên đây đều tôn thờ Thiên Chúa (God) nhưng với nội dung thần học khác nhau, kể cả khác biệt về phương thế thể hiện sự tôn thờ đó (Liturgy). Nói khác đi, các Nhánh Kitô giáo và Do Thái giáo nói trên, tuy cùng tôn thờ Thiên Chúa, nhưng rất khác nhau về quan điểm thần học, bí tích, phụng vụ, mục vụ và quyền bình. Do đó, không thể gọi Đạo Công Giáo là Đạo Thiên Chúa cách chung được vì như vậy sẽ lẫn lộn với các đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều điểm như đã nói trên đây.

TẠI SAO PHẢI GỌI KITÔ GIÁO LA MÃ LÀ ĐẠO CÔNG GIÁO?

Để trả lới câu hỏi này, chúng ta cần nhớ lại từ đầu Thiên Chúa (God) chỉ tỏ mình ra cho dân Do Thái và chọn dân này làm dân riêng mà thôi: “Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươisẽ là sở hữu riêng của Ta.” (Xh 19:5)
Như thế, trước khi Chúa Giêsu xuống thế làm Con Người, chỉ có dân Do Thái được biết Thiên Chúa Yahweh là Cha các Tổ Phụ của họ, là Đấng đã giải phóng họ và ban cho họ Mười Điều Răn làm Giao ước (Covenant) mà thôi. Ngoài Dân Do Thái ra, các dân khác đều là dân ngoại (gentiles) vì không biết Thiên Chúa Yahweh của dân Do Thái.

Nhưng sau khi Chúa Giêsu giáng sinh ở Bethlehem, Chúa đã tỏ mình ra cho các dân ngoại qua ánh sao lạ ở Phương Đông, mời gọi ba đạo sĩ dân ngoại đầu tiên đến thờ lạy Chúa (x. Mt 2:1-12). Sự kiện này đã nói lên nét phổ quát (universality) của ơn cứu độ. Nghĩa là ơn này được dành cho hết mọi dân tộc, không chỉ riêng cho dân Do Thái. Vì thế, trước ngày về trời Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông Đồ: “anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.” (Mt 28:19).

Đây là lý do vì sao Đạo của Chúa Kitô (Christianity) được gọi là Đạo Công Giáo vì mục đích phổ quát của ơn cứu độ mà Chúa đã mang đến cho nhân loại qua Hy Tế thập giá của Người. Vì thế từ ngữ “Công giáo” ở đây có nghĩa là chung, là phổ quát (universal), dành cho hết moi người không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa. Như vậy từ ngữ “công giáo” (catholicam = catholique = catholic…..) không hề có nghĩa là công cộng (public) như có người không hiểu biết gì nhưng đã có ác ý dịch ẩu Đạo Công Giáo sang tiếng Anh là Public Religion. Dịch như vậy cũng tương tư như người mới học tiếng Anh đã tự ý dịch nước đá (ice) là “water stone”! Cũng vậy, nếu biết tiếng Anh đủ và có đọc sách vở viết bằng Anh ngữ về các thuật ngữ (terms) của Kitô Giáo, thì tội tổ tông, người Anh Mỹ gọi là Original sin, người Pháp gọi là Péché originel, người Tây Ban Nha gọi là `Pecado original’ chứ không ở đâu có từ ngữ “father’s sin” để chỉ tội tổ tông cả. Dịch kiểu này thì người Anh Mỹ không thể nào hiểu đúng ý của người dịch được.

Tóm lại, danh xưng phải chính xác về các vần đề tôn giáo để tránh hiểu lầm hay xuyên tạc mục đích. Cụ thể, Đạo Công Gíao (Catholicism) là Đạo mà chính Chúa Giêsu đã khai sinh và giảng dạy để mang ơn cứu độ của Thiên Chúa đến cho mọi người thành tâm thiện chí muốn đón nhận để được cứu rỗi và sống đời đời. Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội duy nhất Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục rao giảng và chuyển chở ơn cứu độ đó đến cho những ai muốn tiếp nhận. Giáo Hội này được đặt dưới quyền lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng là Người duy nhất nối tiếp Sứ vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giám mục trong toàn Giáo Hội.

Đó là những nét đại cương để phân biệt Đạo và Giáo Hội Công Giáo với các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng đang hoạt động bên ngoài Giáo Hội Công Giáo.


Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

XIN THƯƠNG XÓT CON LÀ KẺ TỘI LỖI


Chúa Nhật 30 thường niên  - Năm C


QUÌ GỐI XUỐNG 

Suy niệm của Lm. Vũ Minh Nghiễm,  
CSsR
01/02/2005
Lc 18: 9-14

           Cũng như Chúa nhật trước, Chúa nhật hôm nay Đức Kitô dạy chúng ta phải biết cầu nguyện như thế nào. Chúa Nhật trước, Ngài dạy chúng ta phải noi gương bà góa nghèo kia mà cầu nguyện cho kiên trì. Hôm nay Ngài dạy chúng ta phải noi gương người thu thuế mà cầu nguyện cho khiêm nhượng.

           Chúng ta biết rằng người Do thái cầu nguyện một ngày 3 lần : 9 giờ sáng, 12 giờ trưa, và 3 giờ chiều. Lời cầu nguyện được coi là hiệu nghiệm hơn hết là lời cầu nguyện dâng trong Đền thờ.

           Hôm nay Chúa dạy dưới hình thức dụ ngôn. Có hai người Do thái cùng lên Đền thờ cầu nguyện. Một người là biệt phái (mà chúng ta quen gọi là Pha-ri-siêu. Người kia là người thu thuế (chúng ta thường gọi là Pu-bli-ca-nô). Nhóm Pha-ri-siêu được gọi là biệt phái, vì họ tự đứng biệt lập ra thành một phái riêng. Họ là hạng người được coi là đáng kính, đạo đức. Trong dân chúng, họ là lớp người ưu tú. Họ giữ luật Chúa rất tỉ mỉ. Nhưng do chỗ giữ luật tỉ mỉ, và được kẻ khác coi là thánh thiện, mà có những người trong nhóm, họ sinh ra tự cao tự đại đối với những người chung quanh.

          Trong dụ ngôn hôm nay, một người biệt phái như vậy lên đền thờ cầu nguyện cùng một trật với một người thu thuế. Hạng người sau nầy bị dân chúng coi như ngược lại với người biệt phái. Người biệt phái được coi là thánh thiện, thì người thu thuế bị coi là tội lỗi.

          Hồi đó, dân Do thái bị người Rôma đô hộ. Chính phủ độ hộ không tự tổ chức thu thuế lấy, như chúng ta thấy ở Hoa kỳ chẳng hạn. Nhưng họ cho đấu thầu. Đã thầu thì ai thầu cao nhứt, sẽ được độc quyền thu thuế. Dĩ nhiên hạng người thu thuế nầy bị dân chúng gớm ghét và coi là hạng người tội lỗi. Tội lỗi phép công bằng. Tội bóc lột, làm giàu trên xương máu đồng bào. Tội làm tay sai cho chính quyền ngoại bang Rôma.

          Vậy hôm nay có hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Một là biệt phái, một là thu thuế.

          Người biệt phái đứng thẳng người lên cầu nguyện rằng: 

“Lạy Chúa con cám tạ Chúa, vì con không giống như những người khác, gian tham, bất công, ngoại tình. Không giống như tên thu thuế đứng kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng cúng vào đền thờ một phần mười tất cả các hoa lợi của con.”

           Luật Do thái chỉ buộc ăn chay một năm một lần trong ngày lễ Đền tội. Nhưng có người đạo đức ăn chay trường, mỗi tuần hai lần, trong ngày thứ Hai và ngày thứ Năm. Chúng ta biết rằng hai ngày nầy là hai ngày chợ tại Yê-ru-sa-lem. Nhiều nơi, như tại các vùng quê bên Việt Nam ta, không có những nơi bán thức phẩm thường xuyên, không có các siêu thị sẵn sàng mỗi ngày. Dân chúng chỉ nhóm chợ một vài ngày trong tuần. Một vài ngày trong tuần, họ mang rau cỏ, trái trăng, thịt cá, lúa gạo... ra chợ bán. Và ngày đó mới ngày chợ.

          Ở Yêrusalem, hai ngày mà người Do thái đạo đức quen ăn chay cũng là hai ngày chợ. Dân chúng lên nhóm chợ chung quanh đền thờ rất đông. Những người ăn chay lên đó, đi qua giữa đám đông, mặt mày xanh xao tiều tụy, áo quần lếch thếch. Ai cũng phải chú ý đến họ. Và trong số nầy, có ông biệt phái của dụ ngôn hôm nay.

           Người Do thái phải dâng vào đền thờ một phần mười hoa lợi ruộng đất của mình. (Tl 14:22). Ông biệt phái hôm nay thì dâng vào đền thờ một phần mười về tất cả mọi thứ hoa lợi, dầu những thứ hoa lợi Luật không buộc đóng thuế.

           Ông quả là tốt lành, đại lượng. Ông chỉ có cái tội nầy là tự phụ, khoe khoang và khinh người. Ông lên đền thờ nói là cầu nguyện, nhưng không phải cầu nguyện cùng Chúa, mà cầu nguyện với chính mình. Nói cách khác, không phải để chúc tụng ngợi khen Chúa, mà để chúc tung ngợi khen mình.

“Lạy Chúa, con không tham lam, bất công, ngoại tình. Con không như tên tội lỗi thu thuế kia đâu. Con ăn chay mỗi tuần những hai lần. Con dâng vào đền thờ một phần mười tất cả mọi thứ hoa lợi của con.”

          Rõ ràng ông không van xin ơn gì cùng Chúa cả. Ông chỉ chúc tụng mình. Ông lên đền thờ là để dùng nhà Chúa làm diễn đàn, tự tuyên dương công trạng. Ông tự cho mình là người thánh thiện, tự trưng bày công nghiệp và nhân đức của mình, với mục đích là thóa mạ, phỉ báng, lên án người cùng lên đền thờ cầu nguyện với mình.

          Ông biệt phái hôm nay giống hệt thầy Rabbi Simeon ben Jocai. Có lần thầy đã tuyên bố: “Nếu trên thế giới có hai người công chính, thì đó là tôi và con tôi. Nếu chỉ có một người công chính, thì người đó chính là tôi.”

           Có người biệt phái nào dám khoe khoang trước bàn thờ Chúa như ông biệt phái hôm nay chăng? Dẫu sao Đức Yê-su đã muốn làm nỗi bật giáo huấn của Ngài để chúng ta khó quên dễ nhớ. Lời cầu nguyện chỉ dâng lên cho Chúa, không dâng lên cho ai khác. Lại càng không được dâng lên cho chính mình, như kiểu ông biệt phái hôm nay. Đó là tôn thờ mình. Kẻ tôn thờ mình thì phạm tội kiêu căng, trùm của Bảy mối tội. Đã phạm tội kiêu căng thì lời cầu nguyện ấy không thể đẹp lòng Chúa được.

            Còn người thu thuế, nhân vật thứ hai trong bài dụ ngôn hôm nay, thì sao? Anh đứng cuối cửa đền thờ, cúi mặt xuống, đấm ngực, thưa lên cùng Chúa:

“Lạy Chúa, xin thương con là đứa tội lỗi.”

          Anh tự biết mình là người tội lỗi, khốn nạn. Nhưng anh cũng biết Thiên Chúa là Đấng nhân lành, đầy tình thương xót. Và anh kêu cầu lòng thương xót Ngài thứ tha cho anh. Anh không dùng ngôn từ quyền thế của người cậy có công lênh, nhưng dùng lời lẽ khiêm nhu của người muốn cải thiện.

        Và Đức Yêsu đã kết luận rằng :

“Khi về nhà, người thu thuế trở nên công chính. Còn người biệt phái thì trước sao sau vậy?”

        Hơn nữa, ông mắc thêm tội. Tội tôn thờ chính mình. Tội kiêu căng, khinh miệt kẻ khác ngay trước mặt Thiên Chúa.

        Bài dụ ngôn hôm nay dạy chúng ta những điều sau đây về sự cầu nguyện.

        Trước hết, 

         *  Khi cầu nguyện, đối tượng tôi phải so sánh là chính Thiên Chúa, chứ không phải ai khác, hoặc chính mình tôi. Nếu thay vì nhìn vào chính mình, tôi nhìn vào Thiên Chúa là Đấng tốt lành cao cả vô cùng, tôi mới thấy mình thấp kém, hèn hạ, tội lỗi như thế nào.

        Một đấng thánh vĩ đại như Thánh Phaolô mà đã tự nhận mình là kẻ thấp kém nhất (1 Cor 15:9), vì “yếu đuối” (2 Cor 12:9) đã bắt đạo và ngạo ngược(1Tm 1:13; Gl 1:13). Thánh Vincente Phaolô, một ngôi sao chói lọi trong công việc bái ái từ thiện, mà tự gọi mình là người “thấp hèn nhứt trên thế gian.”

        * Cầu nguyện không phải là dâng kiến nghị đòi hỏi, nhưng là cậy trông và phó thác  vào Chúa Quan phòng, đại lượng vô song, khôn ngoan vô cùng.

        Thứ đến, 

       * Khi cầu nguyện, tôi không được tự cho mình là hơn kẻ khác. Tôi phải luôn luôn nhớ rằng tôi thuộc về đoàn lũ đông đảo những kẻ có tội, được Con Đức Chúa Trời đổ máu ra trên thập giá để cứu chuộc cho.

         Người tự cao tự đại không thể cầu nguyện được. Cửa thiên đàng hẹp và thấp, chỉ quì xuống, đi bằng đầu gối, mới vào được.

        Tại đền thờ thánh Phêrô ở Rôma, có một bức tượng Chúa chịu nạn do Thorvaldsen (1770-1844), nhà điêu khắc Đan mạch nổi tiếng thực hiện. Ngày kia, một du khách đến viếng bức tượng. Ông ta nhìn mãi, rồi lắc đầu nói: 

- Tôi nghe đồn bức tượng nầy nổi tiếng là đẹp lắm. Nhưng tôi chẳng thấy gì là đẹp cả.

        Một người quì sau lưng ông, nói:

- Ông phải quì gối xuống mới thấy đẹp.

        Ông du khách quì gối xuống. Bây giờ ông mới khám phá ra vẻ đẹp lôi cuốn của bức tượng Chúa chịu nạn.

        Muốn đến gần Chúa, muốn được Chúa dủ tình thương xót, tôi cũng phải quì gối xuống mà van xin.
                                                                                         (Nguồn : vietcatholic.net)



Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

HÃY CHỨNG MINH LÀ BẠN KHỔ

Có một đề thi dành cho các thí sinh đau khổ thuộc mọi lứa tuổi như sau: 
“Bạn hãy chứng minh là bạn khổ.”
Thí sinh thứ nhất, một người đàn ông chừng sáu mươi, chứng minh:
 “Tôi lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo. Bố mẹ tôi quanh năm ‘bán mặt cho đất – bán lưng cho trời’. Vì nhà nghèo nên tôi phải nghỉ học sớm để đi làm kiếm tiền mưu sinh. Nghĩ mà tủi thân!..”.
Thí sinh thứ hai, một phụ nữ trẻ, dẫn chứng: 
 “Tôi là người kém sức khoẻ.  Từ nhỏ đã hay đau yếu.  Mỗi lần trái gió trở trời là tôi lại xụt xịt. Rất khó chịu!...”
Thí sinh thứ ba, một thanh niên tuổi chừng hăm mấy, viết ngay không chần chừ: 
 “Tôi chẳng có tài cán gì.  Giữa đám đông bạn bè, tôi chẳng biết ca hát.  Mấy đứa bạn cứ trêu chọc bảo tôi giọng ngang như cua bò. Bực tức và chán nản!...”
Thí sinh thứ tư toan đặt bút xuống viết thì khựng lại.  Rồi anh suy nghĩ có vẻ rất căng thẳng.  Cuối cùng, quyết định nộp giấy trắng.

     Kết quả cuộc thi: Ba thí sinh đầu tiên được 1 điểm an ủi vì đã có… công viết. Còn thí sinh thứ tư thì phải lên gặp thầy để trình bày rõ lý do tại sao lại để giấy trắng.
     Trong giờ sửa bài, giáo sư nhận xét chung: 
+ Các bạn không được điểm cao vì bài các bạn không thể hiện được những suy nghĩ sâu sắc.  Các bạn chỉ liệt kê những điều không như ý xảy ra trong cuộc đời.   Ai cũng làm được như thế.  Thực ra nó không đủ chứng minh rằng các bạn khổ vì góc nhìn đó quá hẹp. 
Rồi giáo sư quay sang thí sinh thứ tư và hỏi:
 + Tại sao bạn để giấy trắng? 
 - Thưa giáo sư, thoạt đầu tôi cũng có khuynh hướng vội vàng liệt kê như các bạn kia. Nhưng tôi chợt giật mình… 
+ Sao bạn lại giật mình? 
- Dạ, xin cho phép tôi đứng lên trước mọi người để trình bày được dễ dàng hơn.

     Thế rồi cậu khập khiễng bước lên trên.  Quay xuống nhìn mọi người, cậu nở một nụ cười thân thiện. Người ta thấy mặt cậu một bên bị nám đen.  Cậu nói: 
- Hồi tôi còn nhỏ, bố mẹ phải đi làm ngoài đồng, chỉ có chị tôi và tôi ở nhà.  Một hôm, chị đang nấu cơm thì bị cháy nhà.  Như quý vị thấy, tôi bị phỏng nặng, bây giờ vẫn còn dấu cháy trên mặt.  Năm tôi lên bảy, bố tôi qua đời.  Một buổi tôi đi học, một buổi tôi phải đi bán vé số ở khu chợ gần nhà để phụ mẹ.  Cách đây ít năm, trên đường đi nhà thờ về, có một chú kia nhậu say lái xe tông vào tôi khiến chân tôi bị tật từ hồi đó.  Bây giờ mỗi khi trời trở lạnh, chân tôi cũng khá đau.  Gần đây, tôi thú thật là tôi yêu một người con gái, nhưng tôi thế này thì làm sao xứng với người ta được!
     Trong phòng lúc ấy có nhiều người.  Giọng cậu yếu ớt nhưng ai cũng nghe rõ vì bầu khí lặng im đến lạ thường. 
+ Nhưng sao bạn không viết những điều đau khổ này vào bài thi? 
 - Dạ không, vì tôi giật mình. Tôi giật mình khi tôi chợt nhớ lại lời của bạn tôi trong nhà thờ hôm Chúa Nhật.  Anh ấy nói với mấy người nghèo khổ rằng: “Anh em thật có phúc.” Thế là tôi khựng lại để suy nghĩ.  
Rồi tôi nhận ra: 
để chứng minh tôi thực sự khổ thì tôi phải chứng minh cho được rằng tôi không có gì để hạnh phúc.  
Mọi người càng chăm chú. Vị giáo sư lên tiếng:

+ Hay!  Xin lỗi bạn, tôi không phải là Kitô hữu, vậy cho tôi hỏi anh bạn gì gì đó của bạn nói như thế nào về việc may phúc khiến bạn thay đổi cách nhìn như thế?
- Dạ thưa giáo sư, bạn tôi tên là Giêsu. 
Anh ấy nói: “Mắt anh em thật có phúc vì được thấy những điều đang thấy, tai anh em thật có phúc vì được nghe những điều đang nghe. Nhiều người mong mỏi được như anh em mà không được.” (Mt 13:16-17).
 Thưa giáo sư, lúc ấy tôi chợt nhìn thấy và nghe được nhiều điều may mắn trong cuộc sống của tôi. Tôi có mẹ có chị.  Nhà chúng tôi tuy chẳng kín cổng cao tường nhưng đùm bọc nhau ấm áp.  Tôi có trái tim biết rung động.  Tôi có lòng quảng đại.  Tôi có lương tâm.  Tôi có bạn bè nói chuyện.  Tôi có nhiều người cầu nguyện cho tôi.  Tôi được đi học.  
Tôi có trí khôn để nhận ra trong cái xui có cái hên, tức là trong nghịch cảnh có ân sủng.  
Ví dụ: Vì lớn lên trong cảnh khó khăn, tôi thấy mình biết cảm thương với người nghèo hơn.  Vì mang tật nguyền trên mình, tôi hiểu được nỗi đau của tha nhân.  Vì thấy mình giới hạn, tôi đặt niềm tin vào Chúa nhiều hơn.  À, cuối tuần nào tôi cũng được cùng mẹ và chị đi Lễ với bà con chòm xóm để nghe Lời Chúa.  Vì thế tôi không thể chứng minh là tôi khổ.

                                                                                     (Thinh và Nga)


Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

SỐNG LÀM SAO Ở ĐỜI ?




Trong cuộc sống của bạn, không ai có nghĩa vụ phải cư xử tốt với bạn, trừ cha mẹ.
Còn với những người tốt với bạn, bạn nên trân trọng và biết ơn điều đó.
Nhưng bạn cũng cần phải có chút đề phòng, bởi mỗi người khi làm bất cứ việc gì đều có mục đích riêng của họ.
Hãy nhớ, họ tốt với bạn không đồng nghĩa với việc họ phải quý mến bạn!

Không có ai là không thể thay thế, không có vật gì thuộc hoàn toàn sở hữu của bạn.
Vì thế, nếu sau này người bạn yêu thương không còn ở bên,
hay họ không còn là nơi bạn có thể đặt niềm tin, bạn cũng đừng bi lụy!
Sinh mệnh con người thực sự ngắn ngủi, bạn đừng để mỗi ngày trôi đi vô ích!
Người ta tham vọng sống lâu nhưng bạn chỉ cần sống hạnh phúc mỗi ngày.
Hãy trân trọng và yêu lấy cuộc sống hiện tại của bạn!

Trên đời này không có gì là nhất cả,
tình yêu chỉ là cảm giác bất chợt đi qua cuộc đời bạn,
nhưng nó sẽ theo thời gian và lòng người mà thay đổi.
Nếu như người đó rời xa bạn, bạn hãy học cách chờ đợi!
Hãy để thời gian rửa sạch vết thương,
hầu tâm hồn bạn lắng lại, rồi nỗi đau của bạn cũng sẽ dần biến mất!
Bạn đừng mơ ước một tình yêu hoàn hảo,
cũng đừng thổi phồng nỗi đau khi nó không còn!

Bạn có thể bắt mình phải giữ chữ tín,
nhưng không thể yêu cầu người khác làm thế với mình.
Bạn có thể yêu cầu bản thân phải đối đãi tốt với người,
nhưng bạn không thể kỳ vọng người ta sẽ làm ngược lại.
Khi bạn tốt với họ, họ không có nghĩa vụ phải tốt lại với bạn.
Hãy nhớ điều này, nếu không, bạn sẽ luôn gặp ưu phiền trong cuộc sống!

Chỉ những ai có duyên phận mới trở thành người thân của nhau.
Cho dù trong cuộc sống bận rộn bạn ít khi gặp mọi người,
nhưng bạn hãy trân trọng từng khoảnh khắc khi còn bên họ,
hãy dành cho họ thời gian để yêu thương bạn hơn!


Thứ Tư, 23 tháng 10, 2013

HỌC CÁI GÌ ?



1. Thứ nhất, “học nhận lỗi”. 
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.

2. Thứ hai, “học nhu hòa”
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.

3. Thứ ba, “học nhẫn nhục”
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn, vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.

4. Thứ tư, “học thấu hiểu”
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?

5. Thứ năm, “học buông bỏ”
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống, lúc cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!

6. Thứ sáu, “học cảm động”
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động là tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề; trong cuộc đời mấy mươi năm của tôi, có rất nhiều câu chuyện, nhiều lời nói làm tôi cảm động, cho nên tôi cũng rất nỗ lực tìm cách làm cho người khác cảm động.

7. Thứ bảy, “học sinh tồn”
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh; thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu đễ với người thân.


(Theo Người Đưa Tin)


Thứ Ba, 22 tháng 10, 2013

THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC HAI " BÊN "

                                                        Thánh nữ TÊRÊSA AVILA 
                                                                 Lễ kính 15/10 
Têrêsa thành Ávila 
sinh: 28 tháng 3 năm 1515 - mất: 4 tháng 10 năm 1582) là một nữ tu sĩ Dòng Cát Minh (Dòng Camêlô), một nhà thần học nổi tiếng người Tây Ban Nha của Giáo hội Công giáo Rôma, bà gắn cả đời mình với cuộc sống chiêm niệm và lời cầu nguyện tinh thần.
Điều đáng chú ý ở bà là một nhà cải cách Dòng Cát Minh, người sáng lập ra Tu viện Cát Minh cho các nữ tu. Bà sáng tác những tác phẩm như: Con đường đi đến toàn thiện, Lâu đài nội tâm, Quyển sách của những nền tảng. 
Năm 1622, bốn mươi năm sau khi qua đời, bà chính thức được Giáo hoàng Gregory XV phong thánh. Năm 1970, bà được Giáo hoàng Phaolô VI nâng lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh.
                                               (wikipedia.org)

Thánh Nữ Têrêsa Avila. Bà đã thấy Hỏa Ngục, và tả lại rùng rợn như sau:
(Trích chương 32 của tác phẩm Thánh Têrêsa Avila, Tiểu Sử và Tự Thuật.)

.....
"Trong đời tôi, tôi đã chịu những đau đớn dữ dội nhất, chẳng hạn như giây thần kinh co rút trong suốt thời kỳ tôi bị tê bại, mà theo các bác sĩ, đó là những đau đớn tột bực, và còn nhiều thứ đau đớn khác nữa, mà một số do chính ma quỷ gây nên cho tôi, như đã nói. Nhưng tất cả những đau đớn ấy không là gì cả, so với thứ đau đớn tôi cảm thấy trong lúc ở hỏa ngục. Càng không thể nói gì về nỗi kinh hoàng bởi biết rằng những đau đớn ấy sẽ kéo dài vô tận và không bao giờ nguôi ngoai. Dẫu vậy, tất cả những đau đớn này vẫn không là gì so với cơn hấp hối của linh hồn.
Linh hồn như bị bóp nghẹt, khắc khoải, kinh hoàng và sầu khổ vô hạn, một thứ sầu khổ tuyệt vọng và cùng cực không thể diễn tả. Nói rằng nỗi đau đớn ấy giống như linh hồn bị liên lỉ xé rời khỏi xác thì còn quá êm dịu, vì nói như thế có thể có nghĩa là một người nào khác đoạt lấy sự sống của mình; còn trong trường hợp này, chính linh hồn tự xé nát mình ra từng mảnh.".....



THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC 
Lm. Giuse Đinh Lập Liễm 

I. THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC Ư ?

          Khi nói đến Thiên đàng Địa ngục, nhiều người cho là chuyện viển vông, mơ hồ, lãng mạn… thậm chí có người cho là mê tín dị đoan.  Nhưng trong thực tế vẫn có người tin, có người sống với niềm tin ấy đến nỗi dám hy sinh mạng sống mình để bảo vệ niềm tin đó, và để chiếm hữu được Thiên đàng.

          Rarindra Prakarsa là một nhiếp ảnh gia người Indénosia đang sống  và đang sáng tác ở Jakarta. Ông có biệt tài sử dụng ánh sáng và mầu sắc tương phản đẹp đến huyền ảo trong các ảnh nghệ thuật, đặc biệt là ảnh trẻ con chơi đùa.

          Trong số 425 ảnh của ông, có một tấm ảnh miêu tả trẻ con Indénosia đang chơi trò chơi rồng rắn ở một làng quê. Tấm ảnh này nhắc chúng ta  nhớ tới trò chơi xa xưa của trẻ con Việt nam kèm với lời đồng dao :

                                      Thiên đàng địa ngục hai quê
                             Ai khôn thì về, ai dại thì sa.
                                      Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha
                             Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn.
                                      Linh hồn phải giữ linh hồn
                             Đến khi mình chết được lên thiên đàng.

          Qua ý nghĩa bài đồng dao này chúng ta đoán được  xuất xứ của nó là các trò chơi xuất phát từ các làng Công giáo.

          Câu thứ hai, có nơi nói khác đi một chút : thay vì “Ai khôn thì về, ai dại thì sa” lại đọc là “Ai khôn thì lại, ai dại thì qua”. Theo đó thì “Ai khôn thì lại” : lại là đến, đến thiên đàng. “Ai dại thì qua” : Qua là tới, tới địa ngục.

          Thực ra  khôn khéo hay vụng dại tùy vào cách sống. Sống sao cho linh hồn khỏi sa địa ngục là khôn ngoan. Sống mà linh hồn không được lên Thiên đàng là khờ dại…

          Trong cuốn “Góp nhặt cát đá” (Shasekishu) truyện 31, thiền sư Muju kể rằng : một người đến xin thiên sư Hakuin (1686-1768) thiên đàng và địa ngục có thật không.
          Sư hỏi :
          - Anh là ai ?
          Đáp :
          - Tôi là samurai.
          Sư ra giọng mỉa mai :
          - Kiếm sĩ ư ? Trông chẳng khác tên ăn mày.
          Tức giận, kẻ ấy đưa tay sờ vào đốc kiếm. Sư không buông tha :
          - Anh mà đủ gan cắt đầu ta ư ?
          Lập tức kiếm bèn tuốt ra. Sư ngửa cổ, bảo :
          - Đây, hãy mở cửa địa ngục.
          Bừng ngộ, kẻ kia liền tra kiếm vào vỏ, cung kính chắp tay xá .  Sư nói luôn :
          - Cửa Thiên đàng vừa mở.

II. LỜI DẠY CỦA CHÚA GIÊSU

          Chúa Giêsu nói rất nhiều tới Thiên đàng, nhưng Ngài dùng những từ khác để nói về Thiên đàng, chỉ có một lần Ngài nói rõ ràng  với người trộm lành :”Ngay hôm nay, con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta” (Lc Lc 23,43).

          Còn về địa ngục (hay hỏa ngục) thì Chúa Giêsu nói rất nhiều, ví dụ :”Thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục” (Mt 5,29; 18,9).

          Chúng ta có thể xem tiếp ở (Mt 5,22; 18,28; 25,15; Mc 9,43).

          Trong dụ ngôn người phú hộ và người nghèo Lazarô,  Chúa Giêsu nói đến số phận của hai người đều khác nhau : người nghèo khó Lazarô được đưa vào trong lòng ông Abraham tức là Thiên đàng, còn người phú hộ kia phải vào âm phủ chịu cực hình.

          Như vậy, Chúa Giêsu chỉ xác định là có sự hiện hữu của Thiên đàng và hỏa ngục, còn Ngài không mô tả thiên đàng hỏa ngục như thế nào.

          Chúa Giêsu không mô tả về Thiên đàng, có lẽ như vậy sẽ tốt hơn cho chúng ta để chúng ta sống trọn vẹn tự do và nhân phẩm của mình. Tuy nhiên, Ngài đã cho biết Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta. Tại sao ?  Vì Chúa muốn chúng ta được ở bên Chúa, được Chúa chăm sóc và chia sẻ hạnh phúc với Ngài :”Lạy Cha, Con muốn rằng con ở đâu thì họ cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).  Cần phải có điều kiện nào ? Rất đơn giản :”Đây là điều răn Thầy truyền cho các con là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,17).

          Đứng về huấn quyền của Giáo hội, chúng ta cũng không biết gì thêm. Giáo hội cũng chỉ cho chúng ta biết những nét tổng quát chứ không có chi tiết cụ thể, đến ngay thánh Phaolô được đua lên đến tầng trời thứ ba  mà cũng không thể diễn tả bằng lời nói hay chữ viết được (x. 2Cr 13,3).

          Chúng ta chỉ biết mấy nét về Thiên đàng trong sách Giáo lý Công giáo :

Ai chết trong ân sủng và tình nghĩa với Thiên Chúa, ai hoàn toàn được thanh luyện sẽ sống muôn đời với Đức Kitô, họ luôn luôn giống Thiên Chúa, vì họ đã thấy Ngài như Ngài hiện hữu, mặt đối mặt (1Ga 3,2)… Mầu nhiệm này vượt quá mọi hiểu biết và mọi biểu trưng : sức sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu thiên quốc, nhà Cha, Giêrusalem trên trời, thiên đàng : “Điều mắt chúng ta chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa hướng tới, đó là nhưng gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai yêu mến Ngài” (1Cr 2,7-10) (GLCG  số 1023-1029).

          Ngoài ra chúng ta có thể biết được  vài nét về Thiên đàng qua thị kiến của thánh nữ Faustina được ghi trong nhật ký của thánh nữ :

“Hôm nay ngày 27 tháng 11 năm 1936, tôi được ở trên Thiên đàng cách thiêng liêng.  Tôi thấy những sự đẹp đẽ không thể diễn tả, và những hạnh phúc đang chờ chúng ta sau khi chết.  Tôi thấy các tạo vật đang dâng lời ca tụng và tôn vinh Chúa không ngừng. Tôi thấy hạnh phúc trong Chúa lớn lao chừng nào, hạnh phúc lan ra mọi thụ tạo, làm cho họ sung sướng. Rồi tất cả vinh quang, ca ngợi dâng lên từ hạnh phúc này trở về nguồn là Chúa, nhập vào chiều sâu của Chúa, chìm vào cuộc sống trong Chúa Ba Ngôi, mà không bao giờ có ai hiểu hết hoặc đo lường hết được.

Nguồn mạch hạnh phúc này không thay đổi trong bản tính nó, nhưng lại luôn luôn đổi mới trong cách diễn tả, nó lan tràn ra hạnh phúc cho mọi linh hồn.  Giờ đây tôi hiểu lời thánh Phaolô đã nói :”Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa cảm thấy những gì Chúa đã dọn sẵn cho kẻ kính mến Người”.

          Chúa cho tôi hiểu rằng, chỉ có một sự có giá trị vô cùng trong mắt Người, đó là “lòng yêu mến Chúa” : Yêu, yêu và yêu. Không gì có thể so sánh  với một tác động kính mến Chúa cách tinh ròng (Thánh Faustina, Nhật ký Tình Thương, số 777).

III. MUỐN VỀ THIÊN ĐÀNG.

          1. Niềm hy vọng của chúng ta.

          Chúng ta biết rằng Thiên đàng là phần thưởng Chúa dành cho con cái của Ngài sau một thời gian lưu đầy nơi trần thế, đã làm trọn nhiệm vụ được giao phó một cách tốt đẹp.  Chúng ta dám tin chắc như thế, vì chính Chúa Giêsu đã hứa cho chúng ta trước khi bước vào cuộc tử nạn :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó” (Ga 14,1-3).

          Nắm chắc được tư tưởng đó, thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Philipphê rằng :”Quê hương chúng ta ở trên trờ, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).

          Trần gian này chỉ là nơi tạm trú, chứ không phải là quê hương. Đã là tạm trú thì chỉ ở một thời gian vắn và chỉ ở nơi thường trú thời gian lâu dài.  Chúng ta sẽ rời thế gian này để về quê hương thật và vĩnh cửu nơi Cha chúng ta đang ở đấy. Vì thế, Thiên đàng là của chúng ta, mọi nỗ lực của chúng ta phải  hướng về đó.

                                      Truyện : Thiên đàng là của con.

          Một cô gái bị cám dỗ rất nặng nề về sự tuyệt vọng. Với những tội lỗi của mình, cô nghĩ rằng cô đã có chỗ trong hỏa ngục đời đời, không còn hy vọng gì được Thiên Chúa yêu thương và hưởng phúc Thiên đàng nữa. Ngày kia, thánh Philipphê Nêri đến thăm cô. Sau khi nghe cô thổ lộ tâm hồn, thánh nhân nói :
          - Thật là tai hại, con gái yêu của ta, khi con tin rằng con đã được dành cho lửa đời đời, Thiên đàng mới là của con.
          Cô gái tội nghiệp nức nở thưa :
          - Cha ơi, con không thể tin được điều ấy.
          - Đó là vì con khờ dại. Cha sẽ chứng minh cho con thấy. Chúa Giêsu đã chết cho ai ?
          Cô gái đáp :
- Cho người tội lỗi.
- Đúng lắm, thế bây giờ con nghĩ con là một vị thánh sao ?
Cô gái vừa khóc vừa trả lời :
- Không, con là một kẻ đầy tội lỗi.
          - Như vậy, chính vì con mà Chúa Giêsu đã chết, và chắc chắn Chúa chết  là để cho con được vào Thiên đàng. Vậy thì Thiên đàng là của con, bởi con đã gớm ghét tội lỗi, con đừng nghi ngờ chi nữa.

          Những lời của thánh Philipphê Nêri bắt đầu thấm vào tâm hồn cô gái. Và từ lúc ấy, lời nói “Thiên đàng là của con” đã không ngừng an ủi cô và khiến cô không mất lòng tin tưởng vào tình thương yêu vô biên của Chúa nữa.


          Về vấn đề này, thánh Anphongsô cũng khuyên nhủ chúng ta là những người tội lỗi  bất xứng :

          “Nếu vì lỗi lầm mà bạn có nhiều lý do để sợ chết bao nhiêu, thì bạn lại càng có hy vọng được sống muôn đời bấy nhiêu nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, công nghiệp ấy có thể cứu bạn mạnh hơn  cả ngàn vạn lần  tội lỗi làm cho bạn hư đi.  Như thế với lòng tin tưởng, chúng ta hãy chạy đến ngai tòa ân sủng để được hưởng lòng khoan dung.  Ngai tòa ấy chính là thập giá, nơi Chúa Giêsu ngự như trên một ngai vàng, để ban phát lòng nhân từ cho bất cứ ai chạy đến với Ngài “ (Thánh Anphongsô).

          2. Nhưng phải có điều kiện.

          Việc Chúa Giêsu về trời đem lại cho chúng ta ánh sáng và hy vọng.  Nếu không được ánh sáng phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu soi sáng, con người chỉ có thể thấy gần mà không thể thấy xa, chỉ biết chú mục vào cuộc sống phù du đời này  mà lãng quên cuộc sống mai sau, chỉ biết vun quén của cải vật chất tạm bợ trần gian  mà không tích lũy cho kho tàng vĩnh  cửu, chỉ biết kiếm tìm lạc thú chóng qua mà lãng quên hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời… Họ chối bỏ Trời, quay lưng lại với Thiên Chúa, khước từ thế giới thiêng liêng.

          Niềm thao thức khát khao của chúng ta phải là ngước nhìn lên, nhìn lên quê hương vĩnh cửu chứ không phải chỉ tìm những cái gì là là mặt đất. Chính thi sĩ R. Tagore đã nhắc cho chúng ta tư tưởng đó :

                                      Như đàn hạc hoài hương
                                      Bay thẳng về tổ ấm
                                      Trên đỉnh núi vút cao
                                      Nguyện đời con phiêu diêu
                                       Qua vùng trời thăm thẳm
                                      Lên tận chốn Thiên đường.
                                        (Tagore, Gitanjali, 103)

          Nhưng ao ước là một chuyện và thực hiện được ao ước ấy lại là chuyện khác.  Nói như người dân quê Việt nam :”Muốn ăn hét phải đào giun” hay : “Muốn ăn khoai phải vác mai đi đào” vì “Không có ai ngồi mát ăn bát vàng”.   Muốn lên Thiên đàng thì cũng phải làm sao chứ không tự nhiên mà có.

          Về vấn đề này Chúa Giêsu đã nói rõ :”Không phải cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa !  là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21; Lc 6,46; 13, 26-27).

          Muốn vào Nước Trời thì phải thi hành ý muốn của Cha trên trời, nhưng ý muốn của Cha trên trời là gì ?  Chúa Giêsu không nói rõ, không cho chúng ta biết thêm chi tiết. Ngài để cho chúng ta tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

          Phải chăng ý muốn của Chúa Cha là theo như lời Chúa Giêsu dạy :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình. Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16, 24-27).

          “Từ bỏ mình” tức là đừng lấy thân xác  làm mục tiêu cho mọi phấn đấu, mọi nỗ lực của ta : cụ thể là không dành toàn bộ công sức, thời gian, tài năng, trí tuệ để phụng sự thân xác.

          “Vác thập giá mình” là chấp nhận khổ chế, cụ thể là khước từ những đỏi hỏi vô độ của thân xác – sự khước từ nào cũng là một thập giá, đều để lại đau thương -  để dành thì giờ và nghị lực cho sự phát triển tâm linh.

          Chúa Giêsu đã chấp nhận đời người theo hướng đó và Ngài đã đạt tới vinh hiển khải hoàn. Ngài cũng muốn chúng ta đầu tư theo hướng Ngài đã đầu tư, bước đi theo con đường Ngài đã bước, để chúng ta được vinh hiển như Ngài.

Cứ nhìn vào hiện tại thì biết số phận của chúng ta trong đời sống mai hậu, bởi vì chúng ta đang xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian, như thánh Phaolô đã nói :”Gieo giống nào thì gặt giống ấy” (x. 1Cr 15,38) như người Việt thường nói :”Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu” : trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu.

          Về vấn đề này, chúng ta thấy có một vị sư già thuyết pháp cho các Phật tử bằng những hình ảnh rất hay :

           “Các Phật tử hãy nhìn vào một cây cao và to ở phía sau sân nhà chùa kia. Phần thân cây, đang nghiêng cùng hướng với vòm lá cây xanh um của nó. Khi có một trận động đất, hoặc một cơn giông bão ập tới, đương nhiên cây đó sẽ bị tróc gốc và ngả đùng xuống theo hướng nghiêng mà nó đang đứng đấy. Cũng vậy, nhìn vào việc làm tốt xấu của một người trong đời sống hiện tại, chúng ta sẽ đoán ra được sau khi chết linh hồn họ sẽ bay đi về đâu. Trồng cây ớt, phải hái trái ớt mà ăn. Không thể nào trồng cây me chua mà đòi ăn cho được trái ngọt ngon lành…”

                   Hạnh phúc Thiên đàng chẳng qua chỉ là thành quả của những nỗ lực phấn đấu của chúng ta ở trần gian này, là những gì chúng ta đã xây dựng ngay ở dưới đất, là những gì chúng ta đã gửi về trời khi chúng ta còn sống.

                                       Truyện : Ngôi nhà xinh đẹp

          Một bà giầu sang đến cửa Thiên đàng. Thánh Phêrô chỉ cho bà một căn nhà rất xinh đẹp và bảo :”Đây là nhà tài xế của bà”.
          Bà ta mừng rỡ và nghĩ thầm :”Tài xế như thế, chắc nhà mình sẽ lộng lẫy hơn nhiều”.
          Nhưng, bước xa hơn một chút, thánh Phêrô chỉ túp lều nhỏ xíu và bảo :”Nhà của bà đấy”.
          Hụt hẫng và ngỡ ngàng, bà ta vội kêu to :”Đâu được, thưa ngài làm sao con có thể ở trong đó được.
          Thánh Phêrô ôn tồn giải thích :”Rất tiếc con ạ, vật liệu con gửi lên đây chỉ đủ để xây túp lều như thế.
          Thiên đàng không có nếu con không xây,
          Hỏa ngục chẳng thấy nếu con không sắm.
          Con đừng nhọc công để đi tìm  đàng sau cuộc đời này một Thiên đàng, nếu ngay cuộc sống trần gian này con chẳng thấy Thiên đàng ló dạng. Định mệnh cuộc đời đâu phải là một lá bài may rủi. Ai cũng chết nhưng số phận khác nhau.

          Bông thẹn, cỏ may, cúc hay hồng… đều là hoa

          Vòng hoa đẹp xấu là do con kết

          Thiên đàng có được là do con sống,
          Giầu hay nghèo cũng một kiếp người,
          Muốn Thiên đàng phải sống thánh.

          Thiên đàng không trên trời cao và hỏa ngục không ở lòng sâu đất thấp – mà ở ngay chính lòng con, con có quyền chọn cho mình chứ không phải Chúa”.

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt 

(Nguồn : simonhoadalat.com)         



"Lạy Chúa Giêsu xin tha tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi sa hỏa ngục.  Xin đem các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là các linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn."