Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

LỄ ĐỨC MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI 8/12




Trong Tông sắc Ineffabilis Deus ngày 8-12-1854, ĐTC Piô IX đã công bố Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Nhân giáp 150 năm ban hành Tông sắc (1854-2009) thiết tưởng cũng nên tìm hiểu qua về Tín điều quan trọng này.

Tin Mừng theo Thánh Luca trình thuật việc sứ thần Gabriel vào nhà Trinh nữ và nói : Mừng vui lên, hỡi đấng đầy ân sủng, Đức Chúa Trời ở cùng bà. Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói : Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa Vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại người sẽ vô cùng tận. Bà Maria thưa với sứ thần : Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng. Sứ thần đáp : Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa (Lc 1 28-35).

Lược sử hình thành Tín điều : Vào thế kỷ XII, đan sĩ Eadmer người Anh rao giảng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Thế kỷ XIV, Duns Scot hình thành học thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, dựa trên các bài giảng của các Cha Dòng Phanxicô. Trong suốt mười năm (1320-1330) tại Parme, Reggio Emilia và Crémone (Ý), các cha dòng Phanxicô tổ chức các lễ hội kính trọng thể Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Trong dân gian truyền tụng việc bầu cử ban nhiều ơn thiêng của Đức Mẹ. Bernard de Clairvaux, Peter Lombard, Thánh Bonaventure và Thánh Thomas d'Aquin đều đưa ra học thuyết Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Theo Thánh Bernard de Clairvaux, hồn xác Đức Mẹ thánh thiện trước khi được thiên thần truyền tin. ĐTC Sixte IV (1414-1484) từng là Tổng quyền Dòng Phanxicô đã ấn định ngày 8-12 hàng năm kính Đức Bà thụ thai.
Vì vậy thành phố Lyon (Pháp) tổ chức vào ngày 8-12 lễ hội ‘‘Ánh sáng Đức tin’’ (Fêtes des Lumières). Khoảng thế kỷ VIII, người Roma mừng lễ bà Thánh Anna mang thai Đức Mẹ và ngày 8-9 là sinh nhật Đức Mẹ. Từ thế kỷ XIV, các nhà thần học chủ trương Đức Mẹ không mắc tội tỗ tông. Công đồng Trente đã xác nhận Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Từ thế kỷ 17, nhiều họa phẩm Đức Trinh Nữ hiện trên mặt trăng, bận áo choàng tung bay, có nhiều thiên thần nhỏ đứng chầu, chân giẫm đầu con rắn.


                                 

24 năm trước tông sắc Ineffabilis Deus : Ngày 27-11-1830, nữ tu Catherine Labouré (dòng Nữ tử Bác ái) thuật lại rằng trong giờ nguyện gẫm tối, Đức Trinh Nữ hiện ra, đứng trên quả địa cầu, giẫm trên con rắn, đeo trên tay 15 chiếc nhẫn tỏa ánh sáng chiếu soi địa cầu. Chung quanh là hàng chữ : Ô Marie, conçue sans péché, priez pour nous qui avons recours à vous : Lạy Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin cầu cho chúng con kêu cầu cùng Mẹ. Đức Mẹ còn phán rằng: Đây là ơn phúc Ta rộng ban cho những ai đến cầu xin Ta. Đức Mẹ cắt nghĩa những chiếc nhẫn không chiếu sáng tượng hình những ơn không kêu cầu. Phía sau ảnh tượng là chữ M : Maria đan trên cây Thánh Giá. Phía dưới có hai hình trái tim : Thánh Tâm Chúa Giêsu đội mạo gai và Trái Tim Đức Mẹ có mũi gươm đâm ngang.

12 vì sao của Tượng ảnh Đức Mẹ làm phép lạ sau này trở thành biểu tượng của Liên hiệp Âu châu. Ngày 18-8-1950, Hội đồng Âu châu lập ủy ban tổ chức trưng cầu ý kiến về một huy hiệu tượng trưng các giá trị siêu nhiên và tinh thần vốn là di sản chung của các nước thành viên. Huy hiệu này phải vừa đơn giản, lại vừa dễ nhận ra, hài hòa, thẩm mỹ và quân bình. Arsène Heitz vẽ 12 ngôi sao hình tròn trên nền xanh dương. Trong phiên họp khoáng đại ngày 8-12-1955 (nhằm lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội), Nghị viện Âu châu chấp thuận biểu tượng này. Cờ hiệu màu xanh 12 ngôi sao chính thức tung bay tại Paris ngày 13-12-1955.


4 năm trước ngày công bố Tín điều : Năm 1846, Công nghị IV họp tại Baltimore đã quyết định tôn vinh Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội là Thánh Bổn mạng của nước Mỹ. Công nghị này do sáng kiến của Đức Cha Pierre-Jean-Mathias Loras (1792-1858), sinh quán ở Lyon (Pháp). Ngài có trong số những nhà truyền giáo có công lập Giáo hội Công giáo tại Hoa Kỳ.

4 năm sau ngày công bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời : Từ 11-2 đến 16-7-1858. Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, truyền cho Bernadette Soubirous đọc kinh lần chuỗi cầu cho kẻ có tội. Ngày 2-3 Đức Mẹ bảo Bernadette hãy đến xin các linh mục xây một thánh đường ở linh địa này. Vào ngày lễ Truyền tin (25-3-1858), Đức Mẹ phán bằng thổ ngữ miền Gascogne : Que soy era immaculada Councepciou : Ta là (Đấng) Vô Nhiễm Nguyên Tội. ‘‘Thụ thai’’ (Conception) không phải là tên người, đối với Bernadette Soubirous là một từ ngữ chuyên môn hoàn toàn xa lạ. Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, khởi công năm 1866, đã được khánh thành ngày 15-8-1871.

Lễ Truyền tin (25-3) mừng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Tin Mừng theo Thánh Luca chép lại Bài ca Ngợi khen (Magnificat) (Lc 1 46-55), xin chuyển thể lục bát như sau :



Magnificat 

Hồn tôi réo rắt tung hô,
Trí tôi vời vợi cơ đồ rủ thương.
Phận tôi thấp kém trăm đường,
Muôn đời cất tiếng xiển dương cuộc trần.

Chúa tôi giáng phúc ban ân,
Danh Ngài thánh thiện từ nhân hải hà.
Ngài hằng che chở những ai,
Thành tâm kính sợ, miệt mài sót thương.

Chúa tôi sức mạnh oai phong,
Biểu dương tiêu diệt những phường tự kiêu.
Tòa cao sụp đổ tiêu điều,
Những ai khiêm hạ Thiên triều đỡ nâng.

Giầu sang rồi cũng thanh bần,
Những ai nghèo khó Ngài ban phúc đầy.
Lời Ngài phán hứa xưa nay,
Cháu con tổ phụ ơn dầy tháng năm. 


Paris, tháng 12-2008

Kỷ Niệm 154 Năm Công Bố Tín Điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội
Lê Đình Thông


(Nguồn : giaoxuvnparis.org)

Chủ Nhật, 7 tháng 12, 2014

NGƯỜI PHU QUÉT LÁ


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT THỨ II MÙA VỌNG - NĂM B 



NGƯỜI PHU QUÉT LÁ
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
Trong Tác phẩm “ Người phu quét lá”, ĐGM Nguyễn Khảm đã ví von, đời Linh mục như người phu quét lá: “Người phu quét lá bên đường. Quét cả nắng chiều quét cả mùa thu” (Ns.Trịnh Công Sơn).
Người phu quét lá, hàng ngày dù mưa dầm hay nắng hạn, vẫn luôn có mặt từ sáng sớm tinh sương trên mọi nẻo đường thành phố để dọn đường sạch sẽ cho ngàn ngàn con người sắp đi qua. Linh mục, mỗi ngày cũng dọn đường tâm hồn cho con người đi đến với Thiên Chúa và để Thiên Chúa đến với con người.
Trong ý nghĩa đó, có thể nói Gioan Tiền Hô cũng là “Người phu quét lá” dọn đường cho Chúa Cứu Thế đến với nhân loại.
Bước vào Mùa Vọng, chúng ta gặp lại Gioan Tiền Hô, vị ngôn sứ đi trước dọn đường và dọn lòng người để đón Đấng Cứu Thế. Thực thi sứ vụ dọn đường, Ngôn Sứ Gioan luôn gắn bó với Thiên Chúa và sống gần gũi với con người. Lời Chúa, Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa, Gioan nghe đã trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.
Các chương từ 40-55 trong sách Tiên tri Isaia, được gọi là Sách An Ủi dân Israel. Sau khi Giêrusalem bị thất thủ, dân phải đi đầy sang Babylon, Thiên Chúa dùng Tiên tri Isaia loan báo cho dân ngày giải thoát. Vì vậy tiếng hô: “hãy mở một con đường cho Đức Chúa” (Is 40,3) là câu hoàn tất lệnh truyền của Thiên Chúa trước đó: “Hãy an ủi, an ủi dân Ta. Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong” (Is 40,2). Lời rao giảng của Gioan Tẩy Giả hoàn tất các lời hứa của Thiên Chúa: “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con.” (Mc 1,2). Và mở đường cho ơn cứu độ phổ quát. Trước khi là một sứ điệp loan báo, Tin Mừng là một biến cố, một con người cụ thể, Đức Giêsu Kitô: Con Thiên Chúa hằng sống (Mc 15,39).
Thánh Máccô đã thấy rõ nơi Gioan Tẩy Giả là người thực hiện các điều mà Is 40,3 loan báo, là người giúp chuẩn bị lòng dân đón chờ Đấng Cứu Thế. Sứ điệp mà ông kêu gọi mọi người dọn lòng chuẩn bị đón Chúa đến chính là: sám hối và canh tân cuộc sống.Lòng ăn năn thống hối đích thực không hệ tại nơi những tình cảm chóng qua, hay những nghi thức bên ngoài nhưng phải phát xuất từ chính nội tâm bên trong, từ chính niềm tin mong đợi Chúa đến.
Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền Hô. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ. (x. Mt 14,3012; Mc 6,17-19). Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.
Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gioan chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú. Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với Thiên Chúa.
Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.
Phụng vụ Chúa nhật II Mùa Vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị con đường cho Chúa Cứu Thế ngự đến. Chúa đến là niềm vui cho toàn thể nhân loại. Nhưng để được hưởng niềm vui này, mỗi người cũng như toàn thể nhân loại phải biết dọn đường cho Người.Dọn đường là nỗ lực hoán cải bản thân, tẩy trừ tội lỗi trong đời sống; đồng thời trong xã hội, cũng cần sự hoán cải tập thể, để tình yêu và chân lý, công lý và hòa bình được ngự trị.
Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả. Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.
Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh. Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.
Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời. Abraham khởi đầu sứ mạng mới bằng việc lên đường từ giã thành Ur để sang đất hứa. Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài. Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường. Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa. Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem. Và sau cùng Ngài lên đường về nhà Cha.
Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa. Tin Mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo Ngài.
Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng. Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ. Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu. Sửa đường theo Gioan là sám hối. Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có. Những gì cong queo hãy san cho thẳng. Những gì cao cao, cần bạt xuống thấp. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa. Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.
Con đường mà Gioan nói tới đây chính là đường vào cõi lòng. Con đường nội tâm của mọi người. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế.
Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý. Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến. Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người. Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng. Như con đường cho Chúa đi qua. Như căn nhà cho Chúa ngự tới. Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào. Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có nổi đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu. Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì. Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác. Tâm hồn Mẹ bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi. Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.
Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về. Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn. Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ. Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh. Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng, tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát… Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.
Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Những con đường, thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông. Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý. Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn. Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.
Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú. Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân. Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân. Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.
Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức. Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người. Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.
Cả cuộc đời Gioan chỉ một tâm nguyện là làm “Người phu quét lá” dọn lòng người khác cho Chúa đến. Mỗi người chúng ta cũng theo mẫu gương của Gioan trở thành “Người phu quét lá” cho chính tâm hồn mình, cho gia đình mình và rồi cho người khác nữa. Dọn đường cũng chính là lên đường theo Chúa Cứu Thế, cho nên dọn đường cho Chúa vừa là một hồng ân vừa là trách nhiệm đòi hỏi mỗi người thi hành nghiêm túc trong cuộc sống hàng ngày của mình.





Thứ Bảy, 6 tháng 12, 2014

CHƠI CÙ




Để làm cù có thể chọn rất nhiều loại gỗ như: gỗ cây thị, gỗ lim, gỗ lát…
nhưng tốt nhất vẫn là gỗ từ thân cây ổi găng, vì gỗ ổi găng vừa chắc, dễ tìm lại vừa dễ đẽo. 




Để làm một chiếc cù vừa cỡ tay cầm của trẻ con, 
người ta thường chọn thân cây ổi có đường kính khoảng 10cm là thích hợp nhất.




Người đẽo cù phải biết cách tính toán căn chỉnh sao cho chiếc cù phải tròn và thật cân đối.



Một chiếc cù tốt khi đánh phải cân đối và xoay được lâu.

.



Trẻ con người Mông chơi cù (tu lu) rất đa dạng, có thể chơi 1 mình.



Hoặc hai người đấu với nhau.
Vào ngày hội, có thể cả một nhóm bạn cùng tham gia chơi cù.



Ảnh của  Việt Cường - Thân Thiện 
(Nguồn : vietnam.vnanet.vn)


                Nguyễn Đức Thụy
                         



Thứ Sáu, 5 tháng 12, 2014

PHÁO ĐẤT

                           

Pháo đất, còn gọi là pháo nổ, pháo nang theo câu nói hay được dùng khi chơi, là một trò chơi dân gian của trẻ em Việt nam sử dụng một loại pháo làm bằng đất.
Trò pháo đất đã có lịch sử lâu đời, các câu truyện lưu truyền ở đồng bằng Bắc Bộ cho biết pháo đất được hình thành trong quá trình đắp đê ngăn lũ. Hay truyền thuyết về lịch sử hội thi pháo đất ở xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình kể rằng năm 1288, trong khi đang đi đánh trận Bạch Đằng, con voi của Trần Hưng Đạo sa lầy ở khúc sông Hóa chảy qua đây. Nhân dân quanh vùng đã dùng đất ném xuống sông cho voi thoát lên. Từ đó, khi nông nhàn, nhân dân thường tụ tập diễn lại cảnh này và dần dần hình thành nên hội thi pháo đất. Cổ xưa hơn, truyền thuyết của người dân ở xã Hồng Phong, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương nói rằng trò chơi này có ở đây từ thời Hai Bà Trưng khi nữ tướng Lê Chân dùng pháo đất với mục đích nghi binh và chơi trong những ngày hội hè nhằm xua tan âm khí, dịch bệnh.

Công cụ để chơi pháo đất được làm từ các loại đất có độ quánh cao như đất sét, đất thịt... Pháo thường có dạng như hình cái chảo không có tay cầm hoặc hình bầu dục có thành dày hơn đáy với kích thước linh hoạt và nhiều khi phụ thuộc vào lượng đất nguyên liệu mà trẻ em kiếm được. Ở các lễ hội thi, pháo đất được chế tác rất to, gọi là mâm pháo và có thể dùng từ 20kg đến 50kg đất. Sân chơi thường là một mặt bằng càng phẳng càng tốt để vành pháo có thể tiếp xúc khít nhằm gây tiếng nổ to. Đất được sử dụng để nặn pháo nhiều lần do đó mặt bằng được làm sạch bụi để bụi không làm khô đất.

  • Kỹ thuật làm pháo đất: đất được làm tăng độ dẻo và nhuyễn bằng cách nhào nặn nhiều lần để khi nặn thì độ bền của thành hoặc đáy ở những chỗ có độ dày giống nhau tương đối đồng đều. Trường hợp đất quá khô phải cho thêm nước khi nhào, nặn. Độ dày của đáy phải ở mức độ phù hợp với diện tích của nó thì khi nổ mới tạo thành tiếng kêu to và vết phá ở đáy vừa phải. Vành của pháo đất phải được làm sao cho nó tạo thành một mặt phẳng có thể úp khít xuống mặt sân chơi. Ở những hội thi, khi làm pháo lớn, người ta làm vành pháo giống như cạp của rổ.
  • Kỹ thuật nổ pháo: người chơi cho pháo nổ bằng cách cầm pháo theo cách đáy pháo tiếp xúc với lòng bàn tay rồi ụp mạnh xuống để vành pháo tiếp xúc với bề mặt sân chơi. Kỹ thuật này đòi hỏi độ chính xác cao để mặt phẳng của vành pháo tiếp xúc đều với bề mặt sân chơi mới có thể tạo ra tiếng nổ to, nếu góc tiếp xúc không chuẩn, pháo sẽ vón thành một cục đất chứ không nổ. Khi pháo đập xuống mặt sân chơi, áp suất cao của không khí trong lòng pháo khi bị nén sẽ phá vỡ đáy của nó tạo thành tiếng nổ.
Luật chơi pháo đất rất đơn giản, những người chơi sẽ được chia những phần đất đều nhau để làm quả pháo đất của mình. Những người chơi sẽ lần lượt cho pháo nổ, pháo của ai nổ to được coi là thắng cuộc. Ở các cuộc thi, pháo đất ngoài nổ to phải kèm theo yêu cầu vết phá ở đáy pháo càng rộng càng tốt và/hoặc vành pháo sau khi nổ phải tách rời ra và nằm vắt ngang thân mà không bị đứt đoạn. Pháo đất cũng có thể chia nhiều người chơi thành hai phe và cử đại diện cho pháo nổ.

  • Để thử độ dẻo, nhuyễn của đất, trẻ em thường đứng thẳng và vo tròn đất vật liệu lại rồi thả cho rơi tự do xuống nền sân chơi. Nếu đất sau khi rơi xuống tạo thành một hình tròn có độ dày tương đối đồng đều thì được coi là đã đạt chất lượng.
  • Trước khi cho pháo đất của mình nổ, trẻ em thường hô to pháo nổ, pháo nang, cả làng chịu chưa? rồi hà hơi vào miệng pháo đất trước khi cho nổ. Động tác hà hơi nhằm cầu mong cho pháo đất của mình nổ to. Trong trường hợp cuộc chơi được chia làm hai phe, sau khi một bên đã hô như trên, khi đến lượt, bên kia sẽ hô "chưa chịu!" hàm ý pháo của mình sẽ nổ to hơn.
  • Trẻ em khi chơi với nhau thường quy định phần thưởng là người thua cuộc sau mỗi lần cho pháo nổ phải dùng một lượng đất vật liệu mà khi dàn mỏng ra có thể phủ kín diện tích đáy pháo đã bị phá vỡ của người thắng cuộc để "đền" cho người đó. Nếu nhiều hơn hai người chơi có thể thỏa thuận người xếp cuối cùng "đền" cho người thứ nhất, người xếp ngay trước người cuối cùng "đền" cho người thứ hai... Những người thua cuộc nhiều lần sẽ rơi vào tình trạng đất vật liệu ít dần dẫn đến pháo không thể nổ to được nữa và phải bỏ cuộc.
  • Đất làm pháo khi tàn cuộc chơi hay được trẻ em dùng để nặn các con giống, bi đất... để tiếp tục những trò chơi mới.

Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, một số địa phương (Thái Bình, Hải Phòng, Hải Dương tổ chức lễ hội thi pháo đất. Đất làm pháo được lựa chọn và luyện công phu. Quả pháo đất rất to, thường nặng từ 30-50 kg, có vành và phải nhiều người khiêng khi cho pháo nổ. Ngoài tiếng nổ to, pháo đất thắng giải còn phải đáp ứng một số yêu cầu khác như lỗ thủng, vị trí của vành pháo sau khi nổ...Pháo đất Ninh Giang


Nếu bạn có dịp tới thăm Ninh Giang (Hải Dương) vào mùa xuân, ở bất kỳ một thôn xóm nào tại đây, bạn sẽ được xem hội pháo. Không phải hội pháo với những nét đặc trưng của Hội pháo Đồng Kỵ hay Hội pháo Bình Đà nổi tiếng một thời mà là hội pháo đất đã trở thành truyền thống ở Ninh Giang mỗi dịp xuân về. Pháo ở Ninh Giang không làm bằng giấy mầu xanh đỏ với những gam thuốc nổ ghê người mà chất liệu chính của nó là đất. Tuy nhiên, không phải thứ đất nào cũng có thể làm được pháo mà phải là thứ đất gan gà, được chọn lọc và làm kỹ cả tuần lễ trước khi hội pháo diễn ra. Đất này sẽ được người ta giã nhuyễn như bột làm bánh dầy và khi vào hội, những khối đất vuông vức dẻo quánh ấy sẽ được những cô gái xinh đẹp nhất của làng gánh đến sân chơi.

Ngày hội pháo diễn ra, cả làng nô nức kéo nhau tới sân chơi và không khí lúc này đã thật sự đúng nghĩa của một ngày hội làng. Mọi người tới đây, ngoài việc vui chơi còn để thi thố tài năng làm pháo. Những người tham gia hội pháo ở đủ mọi lứa tuổi khác nhau nhưng họ đều có một điểm chung là khéo tay, khỏe mạnh và bình tĩnh. Họ sẽ tham gia thi đấu theo từng loại pháo, tùy vào trọng lượng của đất. Cái nhỏ nhất bao giờ cũng nặng 10 kg và lớn nhất là 50 kg với hình thù đặc chưng kiểu lá riềng (hình thuyền). Pháo làm xong giống như một chiếc thuyền con, vành pháo to tròn bằng lốp xe đạp thồ, bản pháo là phần trong. Tuy nhiên, quyết định sự thắng thua là nghệ thuật gieo pháo. Người chơi sẽ nâng pháo lên bằng hai tay của mình, giữa tiếng reo hò, tiếng trống mõ cổ vũ dậy trời. Lúc này người chơi phải thật bình tĩnh, tính toán chính xác độ cao cũng như độ xoáy để khi gieo pháo, pháo phải rơi sao cho tất cả vành pháo cùng một lúc tiếp xúc với mặt sân. Bởi nếu không cẩn thận, pháo quá to, đất lại dẻo mềm, vành pháo sẽ bị rũ xuống. Nếu pháo ở cao quá, tiếng nổ thì to nhưng sức phá mạnh, vành pháo tung ra sẽ bị đứt đoạn. Và người thắng phải là người biết tìm điểm cao, thấp tùy theo độ dài của vành pháo để khi pháo rơi vành pháo tung dài, duỗi thẳng, không bị đứt đoạn mà lại nằm vắt lên bản pháo với tiếng nổ vừa vang, vừa ấm. Tuy nhiên, đoạt giải không chỉ nằm ở việc pháo nổ to mà còn tùy thuộc vào tổng cộng tất cả số đo chiều dài vành pháo. Chính vì thế, thắng lợi sẽ được quyết định hay không là ngay từ khâu làm đất. Chỉ cần sơ sót một chút, để một hạt sỏi nhỏ hoặc một sợi tóc lẫn trong đất pháo thì khi pháo nổ sẽ bị đứt đoạn, điểm sẽ không được tính. Bên cạnh đó, thành công còn quyết định ở cả nghệ thuật làm pháo và gieo pháo...

Khi kết thúc hội pháo, người đoạt chức vô địch - người được chơi chiếc pháo cuối cùng, còn gọi là chiếc pháo rút dây - sẽ quyết định độ dài cả dải pháo của đội mình và đội bạn. Người này thường là phải được chọn lựa rất kỹ ngay từ giải địa phương và khi ban tổ chức công bố người thắng cuộc, người vô địch sẽ được khoác lên người một chiếc áo đỏ, được mọi người công kênh, tung hô. Tiếp đó là tất cả tranh nhau xé chiếc áo đỏ thành từng mảnh, phát cho các cháu nhỏ để lấy phước, lấy lộc đầu năm mới.

Hội pháo của Ninh Giang trước đây thường được kéo dài trong suốt 3 tháng liền với phần thưởng là trâu, bò, gạo cuốn hút cả già, trẻ, gái, trai trong hàng tổng, hàng huyện. Tuy nhiên, đến bây giờ thì nghi lễ đã được rút ngắn lại, chỉ tổ chức vào các ngày chủ nhật sau Tết và phần thưởng cũng không lớn như trước nữa. Tuy nhiên, với người dân ở Ninh Giang thì mỗi khi mùa xuân đến là tất cả mọi người lại nô nức chuẩn bị cho hội pháo đất, không phải vì giải thưởng mà vì sức hấp dẫn của loại hình nghệ thuật truyền thống đã hình thành từ nghìn năm nay.

Hãy đến Ninh Giang một lần vào dịp đầu xuân để cùng tham gia hội pháo đất với người dân trong vùng, bạn sẽ thấy được ngay sức hấp dẫn của nó. Đứng trong tiếng reo hò, theo dõi cuộc chơi, bạn sẽ hiểu vì sao pháo đất - một trò chơi rất bình dân - lại được duy trì lâu đến như vậy và trở thành trò chơi cổ truyền của con người Ninh Giang.


(trochoidangianvietnam.blogspot.com)



phaodat1-5720-1392526598.jpg





 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo đất được nặn từ đất dẻo lấy ở đồng ruộng, làm sạch các tạp chất, nhào kỹ đánh thành từng quả đất có trọng lượng từ 30 – 80kg. Nặn pháo là khâu rất quan trọng, đòi hỏi người nặn phải có kinh nghiệm sao cho viền pháo, rãnh pháo đều nhau.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Quả pháo hoàn thiện chờ gieo.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo lớn nặng tới hơn 80kg cần nhiều người nâng để pháo thủ gieo.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Đối với loại pháo lớn, pháo thủ phải là người có thể lực tốt.  Khi gieo, pháo thủ phải chân mở bằng vai, dồn lực vào hai gối, hai nách khép, sau đó dùng lực của hai cánh tay để tán pháo, rồi mới gieo xuống. Để gieo pháo tốt, pháo thủ phải rèn luyện rất công phu cả về sức khỏe và kinh nghiệm.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Loại pháo cỡ nhỏ chừng 30 kg, chỉ cần một người nâng, pháo thủ gieo trong tư thế quỳ một chân.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Pháo gieo xuống đất phát ra tiếng nổ lớn, có khi tưởng chừng to như tiếng sấm.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Vành pháo văng rộng ra hai bên trong tiếng reo hò của mọi người.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Quả pháo hay là quả sau khi gieo vừa tạo ra tiếng nổ lớn, vành dính liền và văng rộng sang bên.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Thông thường chấm thi pháo cho các đội dựa vào khoảng cách giữa hai đầu của vành pháo bung ra.
 'Pháo thủ' gieo pháo đất như sấm tại Hải Dương
 Hội pháo đất luôn náo nhiệt, hứng khởi từ đầu cho tới lúc kết thúc.
Theo Infonet


Thứ Năm, 4 tháng 12, 2014

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ DIỀU THẾ GIỚI

Ước mơ được bay lên bầu trời như chim đã ấp ủ trong lòng nhân loại kể từ khi con người biết ước mơ và được hình tượng hóa rõ nét trong văn học với các nhân vật có đôi cánh bằng lông chim hoặc như hình tượng Tôn Ngộ Không của Trung Quốc "cân đẩu vân" đi vạn dặm trong chớp mắt...

Sau bao nỗ lực không thành công suốt hàng nghìn năm nhưng con người vẫn không chịu an phận là không thể bay được như chim. Phải đợi mãi đến đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nghành cơ khí chế tạo máy đã cho ra đời động cơ đốt trong chạy xăng mạnh mẽ và gọn nhẹ hơn thì việc bay lên khỏi mặt đất mới trở nên khả thi hơn.

Năm 1903 anh em nhà Wright  đã thực hiện được ước mơ bay của con người qua thử nghiệm thành công chiếc máy bay có động cơ đầu tiên đánh dấu sự ra đời của nghành hàng không thế giới. (hình 2)Tuy nhiên trước đó đã có rất nhiều chuyến bay được thực hiện và vô số vật dụng bay được chế tạo. Một trong số đó chính là chiếc/con/cái Diều.

Diều ra đời khi nào? ở đâu? thì đến nay không ai biết chắc chắn nhưng người ta dễ dàng trông thấy chúng xuất hiện trong văn hóa và lịch sử của nhiều dân tộc quốc gia trên thế giới. Nhiều nơi Diều đã được tôn thờ như biểu tượng tôn giáo, được sử dụng làm công cụ chiến tranh, là vật chuyển tải tâm linh, hay đơn giản chỉ như là  món đồ chơi giải trí.

Lưu trữ bằng văn bản đầu tiên nói đến thả diều là:"Mặc Tử làm diều gỗ, ba năm mới làm xong, bay một ngày là hỏng." Chiếc diều gỗ do Mạnh Tử này có lẽ là cánh diều sớm nhất trên thế giới được ghi nhận. Trong một cuốn sách cổ Trung Quốc (sách Tiềm xác thư – thiên Nguyên vật) có ghi lại rằng khoảng 200 trước Công nguyên khi tướng quân Hàn Tín của nhà Hán đã thả bay một chiếc diều qua bức tường thành mà ông đang tấn công để đo chiều dày của nó trước khi đào một đường hầm xuyên qua bên dưới bức tường.


Người ta tin vào giả thuyết rằng từ Trung Hoa diều dần được xuất hiện ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đông Nam Á, Ấn Độ và toàn châu Á vào cuối của thiên niên kỷ đầu tiên, nó đóng vai trò quan trọng ở nhiều quốc gia và nền văn hóa khác nhau. Mỗi vùng phát triển một phong cách đặc trưng của diều và mục đích văn hóa cho thả diều.


Trong triều đại Silla của Hàn Quốc (vào khoảng thế kỷ VI), Tướng quân Gim Yu-sin được lệnh đánh dẹp một cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, quân đội của ông không chịu xung trận vì họ nhìn thấy một ngôi sao lớn từ trên trời lao xuống đất (thiên thạch) và cho đó là một điềm xấu. Để lấy lại kiểm soát, Tướng quân đã sai làm một chiếc diều lớn mang theo một quả cầu lửa thả lên trời vào buổi tối. Quân lính nhìn thấy và tin rằng ngôi sao đã quay trở lại bèn tập hợp lại và đánh bại các phiến quân.


Diều đến Nhật Bản qua những nhà sư Phật giáo từ thế kỷ thứ VII bằng việc thả diều nhằm mục đích xua đuổi tà ma và cầu vụ mùa tươi tốt. Tại Nhật Bản, khi một cậu bé ra đời sẽ được tổ chức một buổi lễ quan trọng trong đó người ta sẽ thả những con diều khổng lồ bay qua nhà cậu bé cho rằng may mắn sẽ đến với cậu trong cả cuộc đời. Cho đến tận ngày nay vào dịp Lễ Hội Bé Trai – Koinobori hay còn gọi là Tango No Sekku(vào ngày 5/5 ÂL) người Nhật Bản vẫn giữ phong tục thả diều để cầu may. Dưới thời kỳ Edo (Thế kỷ XVII-XIX) diều được phổ biến đến độ chính quyền Tokugawa chỉ cho phép tầng lớp Samurai được thả diều còn lại cấm đối với người dân vì lo ngại rằng họ sẽ bỏ bê công việc làm ăn. Diều còn được người Nhật sử dụng như một công cụ trong chiến tranh khi người ta dùng nó như cờ lệnh hay thậm chí làm những chiếc khổng lồ có thể mang theo các chiến binh để vượt lên tường thành. (hình 3)
Tại Thái Lan diều được thả bay vào thời điểm gió mùa để cầu mong những cơn gió thổi đi những đám mây mưa và bảo vệ mùa màng khỏi lũ lụt. Diều được sử dụng để chữa cháy và đánh cá ở nhiều nơi tại Mã Lai. Các hình thức của diều đánh cá đầu tiên đơn giản là một chiếc diều lớn buộc với dây tre tốt đầu kia có một cái móc câu thả xuống nước - một hình thức vẫn được sử dụng hiện nay.

Bằng chứng sớm nhất về diều ở Ấn Độ là các bức tranh nhỏ từ thời Mogul (khoảng thế kỷ XV). Nội dung chính tả cảnh một chàng trai khéo léo điều khỉển diều của mình thả tin nhắn cho người yêu bị cấm cung trong nhà.


Ở Việt Nam diều cũng được xuất hiện rất sớm qua câu chuyện xưa giải thích về tục thi thả diều ở làng Bá Dương Nội ( Hoài Đức – Hà Nội) gắn với Thành hoàng của làng là Nguyễn Cả - tướng quân của Đinh Bộ Lĩnh ( thế kỷ X). Bức tranh chăn trâu thả diều trong tranh đông hồ cũng đã được ông cha ta thể hiện trên bản in khắc gỗ từ cách nay không dưới 400 năm. (Hình 4)
Người châu Âu được cho là biết đến diều muộn hơn khi nhà nhà thám hiểm người Ý Marco Polo mang nó về từ sau chuyến đi của mình tới châu Á khoảng thế kỷ XIII. Cho đến thế kỷ thứ XVIII ở châu Âu, diều hầu như chỉ là một đồ chơi của trẻ em. Cuối cùng các nhà khoa học và phát minh bắt đầu nhận ra tiềm năng của nó. Năm 1749 nó được sử dụng đầu tiên trong một thí nghiệm khí tượng bằng cách sử dụng một chiếc diều để đo nhiệt độ ở các độ cao khác nhau. Một vài năm sau đó, Benjamin Franklin (Mỹ) đã thành công trong việc chứng minh tính chất điện của sét bằng cách thả bay một chiếc diều được thiết kế đặc biệt buộc bằng dây thép vào trong một cơn giông . (Hình 5)

Diều cũng  đã được sử dụng như là một công cụ để kéo. Một trong những ứng dụng kỳ lạ nhất là năm 1826, giáo viên tiểu học George Pocock (Anh) được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống mà theo đó hai cánh diều lớn đã bay song song để kéo theo một chiếc xe đi với vận tốc 20 dặm/giờ. Bởi thời điểm đó người ta đánh thuế đường theo số ngựa kéo nên việc này giúp ông được miễn thuế. (hình 6)

Năm 1898, Marconi (1874 – 1937) người Italia (nhận giải Nobel vật lý năm 1909) đã thực hiện việc truyền tín hiệu không dây (vô tuyến) đầu tiên thành công bằng cách sử dụng một chiếc diều để nâng dây anten lên độ cao hơn 100m. Tiềm năng về sức nâng của diều được áp dụng ngày càng nhiều đã thu hút các nhà khoa học phát minh thêm những hình thức mới. Một trong những phát minh quan  trọng là của Samuel Franklin Cody (Mỹ) khi ông thiết kế chiếc diều hộp cải tiến có thể nâng một chiếc giỏ mây lớn chở người lên độ cao 2000ft một cách dễ dàng. Sau đó phát minh này được ứng dụng cho quân đội như là một phương pháp quan sát đối phương.(hình 7)
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, có nhiều phi công bắn rơi trên biển nên người ta đã trang bị cho họ loại diều hộp có thể gấp xếp lại để sử dụng như là phương tiện để báo hiệu cứu nạn. (hình 8)
Sự phát triển của diều công nghệ cao (hi- tech) ngày nay phần lớn là nhờ vào hai nhà khoa học Mỹ: Kỹ sư hàng không Francis Rogallo (1912 – 2009) được cấp bằng sáng chế thiết kế của "cánh mềm " (flexible wing) là tiền thân của các thiết kế được ứng dụng trong tàu lượn và diều thể thao hiện đại.  Ý tưởng của ông đã được  NASA ứng dụng và phát triển trong hàng không vũ trụ và tên lửa hành trình suốt những năm 60 của thế kỷ trước. (hình 9)

          Parafoil đầu tiên được phát minh bởi Domina Jalbert, trong đó kết hợp các tính năng của một chiếc dù, quả bóng bơm hơi, cánh lượng khí động học gồm nhiều khoang chứa không khí (aerofoil) và diều. Khung cánh chắc chắn này được tạo ra hoàn toàn từ không khí được nén đầy trong khoang vải giữ cho hình dạng aerofoil cố định trong suốt quá trình bay. Parafoil là tiền thân dù hiện đại, dù lượn và diều kéo. (Hình 10)

Nhiều năm trở lại đây người ta đã ngày càng quan tâm hơn đến việc thả diều. Các loại vật liệu mới như ripstop nylon, sợi thủy tinh, và graphite carbon giúp diều mạnh mẽ hơn, nhẹ hơn, nhiều màu sắc hơn, và bền hơn. Năm 1972, Peter Powell (Mỹ) đã giới thiệu một loại diều 2 dây có thể điều khiển theo ý muốn của người chơi và công chúng bắt đầu thả diều không chỉ để cho vui, mà còn như một môn thể thao. Những người đam mê cảm giác trải nghiệm có thể bay biểu diễn chính xác, nhanh hơn, hoặc thực hiện các thủ thuật lượn vòng phức tạp. Thi đấu giữa các cánh diều với nhau hoặc biểu diễn theo điệu nhạc đã trở thành phổ biến.

L.T.B
(Nguồn : dieuvietnam.com)



"LẲNG LƠ NHƯ TIẾNG SÁO DIỀU LÀNG TA"






“ Lẳng lơ như tiếng sáo Diều làng ta “

(Kính Tặng tất cả các nghệ nhân diều sáoViệt Nam)

Không thể chọn từ nào đắt giá hơn để nói về tiếng sáo diều các vùng quê đồng bằng Bắc Bộ, nên xin phép cố nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy cho trích lời trong bản tình ca bất hủ của ông để làm đầu đề cho bài viết này.


Lẳng lơ từ trong truyền thuyết.


Thuở thanh bình ấy, mặt đất và bầu trời gần nhau lắm, gần đến mức tiếng sáo thổi nơi trần gian có thể vang vọng đến chị Hằng. Cứ mỗi chiều hè, khi nghe tiếng sáo được vút lên từ các cánh diều là các tiên nữ ,từng bầy ,từng bầy ,bay từ thượng giới xuống trần gian hưởng thú vui nơi hạ thế , mà có nàng đã quên đường về. Sau này Ngọc Hoàng tức giận, muốn Trời là trời, Đất là Đất, thế là Đất và Trời cứ cách xa nhau, khiến tiếng sáo không thể mời các tiên xuống vui hội mà dần chỉ mang tiếng tơ long của ai đó, gửi tới những người đẹp, mà nay chỉ còn được gặp trong mộng.

Lẳng lơ đến dân gian.


Chúng ta đều biết, diều sáo là nét đặc trưng của đồng bằng Bắc Bộ ,cái nôi của nền văn hóa lúa nướcViệt Nam . Những cư dân nông nghiệp thuở trước quan niệm rằng diều bay là biểu tượng của mối quan hệ giữa trời và đất ,cao và thấp, khô ráo và ẩm ướt, có điều hòa âm dương và đó cũng là những dự cảm về thời tiết của người nông dân. Tiếng sáo phát ra trên không trung , vi vu, trong lành lại xua đuổi tà khí và bệnh dịch . Hơn nữa đây còn là thú chơi thanh tao, cao thượng thể hiện tư chất của người nông dân, tuy quanh năm lam lũ nhưng tâm hồn trong sáng, giản dị , luôn mơ ước chiếm lĩnh tầm cao phúc thượng có yếu tố tâm linh giao cảm giữa thiên nhiên và con người .  Sau những giờ lao động nhọc nhằn trên đồng ruộng, có lẽ thú vui thả diều thực sự là những giâyphút thoải mái của người nông dân. Họ không chỉ   gắn bó với với vùng đất quê hương ,mà còn biết hướng lên bầu trời xanh thẳm gửi gắm ước mơ vào một không gian khoáng đạt của thiên nhiên.

Từ bao đời nay ,hình ảnh chú bé ngồi trên lưng trâu, thổi sáo thả diều trong tranh dân gian Đông Hồ đã được coi như biểu tượng của sự thanh bình trên đất nước Việt Nam . trong tâm thức của người Việt , thả diều còn hàm chứa khát vọng về tự do, xua đi những gì xui xẻo , cầu mong thuận buồm xuôi gió trong làm ăn  cũng     như trong cuộc sống .
Thả diều không chỉ là một trò chơi ,mà còn là một phong tục có nhiều  ý nghĩa sâu xa . Tục thả diều chủ yếu được thực hiện sau ngày mùa ,cầu mong tạnh ráo , để thu hái , đồng thời tự thưởng cho mình những giây phút thảnh thơi , mắc võng bên rặng tre nghe tiếng sáo diều vi vu.


Thật lãng mạn ,khi dưới đêm trăng hạ , trên trời là bản hợp xướng của các tiếng sáo, sáo ồm , sáo trung, sáo mẹ, sáo con của đủ kích cỡ các loại diều . Phải thật khuya ,lúc gió ổn định , diều được kéo xuống chỉ để lại vài cái có tiếng sáo hay , hát qua đêm cho mọi người cùng thưởng thức.


Bởi thế , ở câu lạc bộ diều Song Vân ( TânYên – Bắc Giang ) mới có câu thơ hay , xin mượn các bác thay lời kết :
 
Làm diều đeo sáo hai bên cánh
Nối đất với trời một sợi dây
Tiếng sáo vi vu như bản nhạc
Vang vọng gần xa, thật đắm say

 
                                                                                      Cao Quan
                                                                                                 (Nguồn : dieuvietnam.com)


Mời nghe nhạc phẩm : 
Tình Ca Tiếng Nước Tôi  - Phạm Duy 





Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

ĐỒ CHƠI DÂN GIAN


Tôi sinh ra và lớn lên trên một vùng quê yên bình thuộc Bắc Bộ. Với lũ trẻ cùng trang lứa như tôi, những món đồ chơi xa xỉ đắt tiền như ngày nay là điều không mơ tưởng. Những món đồ chơi dân gian dường như đã đi vào kí ức, nhưng vẫn theo chân tôi đến suốt cuộc đời.
Tôi nhớ những ngày hè oi ả, cả lũ trẻ trong làng dắt nhau lên triền đê thả diều. Cánh diều no gió cứ thế bay cao, vi vu tiếng sáo diều như cuốn hút, mê hoặc con mắt của lũ trẻ quê.

[​IMG]

Những ngày hội làng hay dịp lễ tết, lũ trẻ quê tôi thường xúm đông xúm đỏ quanh những nghệ nhân nặn tò he. Qua bàn tay tài hoa của họ, từ những viên bột nếp tưởng chừng đơn giản đã hóa nên muôn dạng hình thù. Từ những nhân vật trong chuyện cổ tích như Cô Tấm, Thạch Sanh, Tôn Ngộ Không... hay những con giống thân quen với cuộc sống hằng ngày...đều được sống dậy với nhiều màu sắc xanh đỏ bắt mắt. Cái thứ đồ chơi này rất hay vừa có thể để chơi, đến khi chơi chán nó cứng lại cho vào nồi cơm hấp lên lại ăn ngon lành. Tò he không chỉ là món ăn tinh thần của trẻ thơ mà nó là biểu tượng của văn hóa làng quê Việt Nam trên khắp các vùng miền của Tổ quốc.

[​IMG]
[​IMG]


Rồi những chú cào cào lá tre, những con rối bằng rơm, những viên bi đất nung, cù gỗ, đèn lồng giấy, mặt nạ...cũng là những thứ đồ chơi đơn giản, dân giã mà lũ trẻ quê chúng tôi có.

[​IMG]

[​IMG]

[​IMG]

[​IMG]

Xã hội ngày nay càng văn minh hiện đại, những món đồ chơi dân gian ngày càng ít xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày. Thay thế vào đó là những món đồ chơi bằng nhựa của Trung Quốc vừa độc hại lại tốn kém. Các bậc phụ huynh nên hướng con em mình tự làm và chơi những món đồ chơi dân giã hoặc những món đồ chơi tự chế từ những vật liệu đơn giản quanh cuộc sống chúng ta. Vừa làm tăng tính sáng tạo, khả năng học hỏi của bé vừa giúp bảo vệ môi trường tránh những sản phẩm độc hại từ nhựa tái chế. Con tôi đã được 7 tuổi nhưng cháu đã làm được rất nhiều món đồ chơi mà chỉ qua học hỏi ở các chương trình tivi. Tôi nghĩ các bậc phụ huynh nên hạn chế cho các cháu chơi những món đồ chơi Trung Quốc, rất độc hại vì làm bằng nhựa tái chế hơn nữa nhiều món đồ chơi mang tính chất kích động, không tốt cho sự phát triển tư duy của trẻ. Chắc chắn với những món đồ chơi tự làm các bé sẽ thấy thích thú hơn, tư duy phát triển tốt hơn mà lại góp phần bảo vệ môi trường tránh độc hại cho sức khỏe của bé.
hoanang1102
(Nguồn :gsm.vn)