Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2015

ĐỀN THỜ

SUY NIỆM
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY - NĂM B    8/3/2015
Những người quản lý đền thờ, lúc ban đầu, có thể đã tổ chức bán chiên bò, chim bồ câu, hay đổi tiền đổi bạc với tinh thần phục vụ, với ý hướng ngay lành là để giúp cho người lên đền thờ có sẵn lễ vật, khỏi phải mang theo từ xa. Cũng là một thứ dịch vụ, thế nhưng đồng tiền lại là một cái dốc, có thể nói được là êm ả và người ta cũng có thể bị tuột trên cái dốc này một cách êm ả không hay biết.
Có biết bao nhiêu việc khởi đầu là phục vụ, là cứu trợ, là bác ái, là từ thiện, là tôn vinh Chúa và mưu ích cho các linh hồn, cho xã hội. Nhưng rồi theo hơi men của đồng tiền đã biến thành chuyện kinh tài thuần tuý, chạy theo lợi nhuận, mưu cầu địa vị, thanh danh hay quyền lực riêng cho mình. Lợi nhuận sẽ kéo theo gian dối, chèn ép, bất hoà và bất công.
Và như chúng ta đã thấy, đền thờ, mặc dù vẫn được coi là nơi thiêng liêng, nơi để con người hướng tâm hồn lên trên những cái quen được gọi là trần tục, chóng qua, nơi giúp con người tìm gặp cái vô giá, cũng có thể biến thành chợ búa, thành hang trộm cướp, nơi người ta cãi cọ nhau, giành giật nhau.
Trước cảnh tượng như vậy, cùng với lòng nhiệt thành đối với nhà Chúa, Ngài đã lấy dây thừng làm roi để xua đuổi phường buôn bán và quân đổi tiền ra khỏi đền thờ. Ngài đổ tung tiền của họ xuống đất và xô nhào bàn ghế của họ.
Với chúng ta cũng thế, kể từ khi lãnh nhận bí tích Rửa Tội, tâm hồn chúng ta đã trở nên như một đền thờ, một gian cung thánh sống động, một nơi cho Thiên Chúa ngự trị. Thế nhưng, cùng với thời gian, lòng đam mê tiền bạc, của cải vật chất đã xô đẩy chúng ta vấp phạm hết tội này đến tội khác. Bởi vì như chúng ta thường nói: tiền bạc là một tên đầy tớ tốt nhưng nó lại là một ông chủ hà khắc, khả dĩ bóp nghẹt những tình cảm cao đẹp nhất của chúng ta.
Đúng thế, vì đam mê chạy theo tiền bạc mà chúng ta sao lãng những bổn phận đối với Chúa. Vì đam mê chạy theo tiền bạc, chúng ta sẵn sàng gian tham, chèn ép và đối xử bất công với những người chung quanh. Vì đam mê chạy theo tiền bạc, chúng ta sẵn sàng ăn trộm, ăn cắp, ăn gian, ăn quỵt, cũng như ăn hối lộ. Tất cả những tội lỗi phát sinh từ lòng đam mê chạy theo tiền bạc ấy, đã biến tâm hồn chúng ta trở nên như một cái chợ, một hang ổ trộm cướp, chứ không còn phải là một gian cung thánh, một ngôi đền thờ sống động cho Chúa nữa.
Nếu như bây giờ Chúa bước vào trong tâm hồn chúng ta thì liệu, Ngài sẽ vui mừng hay là sẽ nổi nóng vì tất cả những sai lỗi đã làm cho tâm hồn chúng ta trở thành ô uế và nhơ nhớp?
(Nguồn : tonggiaophanhanoi.org)

Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2015

8 ĐIỀU QUAN TRỌNG CẦN DẬY DỖ TRẺ

Làm một bậc cha mẹ tốt là công việc quan trọng nhất trên thế gian đối với bất kỳ ai! Dạy trẻ em 8 điều sau đây sẽ giúp chúng cư xử đúng mực và biết tự chịu trách nhiệm cho chính bản thân chúng.
img1

1: Tự giặt đồ
Khoảng 12 tuổi là đến lúc chúng cần phải tự giặt quần áo của mình. Hướng dẫn chúng cách phân loại quần áo và sử dụng máy giặt và máy sấy, những việc này không không hề phức tạp hơn việc dùng máy tính, lướt web và chơi game online của chúng. Chúng cũng cần phải ủi quần áo khi cần thiết. Cho chúng hiểu mẹ không phải là người hầu cho con cái. Trẻ con nhỏ tuổi hơn có thể giúp đỡ bằng cách gấp và cất quần áo.

2: Nấu những bữa ăn đơn giản
Hãy nhớ lại lần đầu tiên bạn chuẩn bị bữa tối cho cả gia đình? Hãy để chúng tự nấu bữa tối để chúng biết được rằng việc đó mất thời gian và công sức thế nào.Dạy chúng biết cách nấu ăn sẽ rất hữu ích cho cuộc sống của chúng sau này. Nhờ vậy, chúng sẽ có thể tự nấu những bữa ăn ngon và có thể truyền lại cách nấu ăn cho gia đình tương lai của chúng.
Hãy bắt đầu bằng việc dạy trẻ lên kế hoạch để nấu một bữa ăn một tuần một lần, dạy chúng lên danh sách những thứ cần mua để tự đi chợ. Những điều này sẽ giúp chúng trở lên tự lập và làm tăng thêm lòng tự trọng của chúng.

3: Kiếm tiền tiêu vặt
Hãy để chúng có một công việc cho dù đó là một việc nhỏ. Một đứa trẻ sẽ biết trân trọng những đồng tiền kiếm được một cách chân chính và biết chi tiêu một cách hợp lý. Khoản tiền này cũng có thể dưới hình thức một khoản tiền nhỏ mà cha mẹ thưởng cho những đứa trẻ để chúng làm những việc vặt trong nhà như: dọn dẹp phòng, cắt cỏ, rửa xe, đổ rác, hay là nhận và chuyển thư cho những người hàng xóm. Điều này dạy chúng có tính tự lập và tinh thần trách nhiệm trong công việc sau này.

4: Chọn bạn mà chơi
Những kinh nghiệm đầu đời có thể có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới cuộc sống sau này của chúng. Cha mẹ không thể kiểm soát kỹ càng những mối quan hệ của trẻ nhỏ. Nhưng cha mẹ ít nhất cũng có thể làm gương cho con cái: Hãy tôn trọng và quan tâm tới người khác, tiếp thu những ý kiến trái ngược, bao dung và cởi mở.Khi trẻ gặp những khó khăn trong các mối quan hệ thì cha mẹ cần phải ủng hộ và thông cảm với chúng nhưng hãy để cho chúng hiểu rằng việc đó chỉ là một sự phát triển bình thường ở độ tuổi của chúng, và là những kinh nghiệm học hỏi tuyệt vời.

img2

5: Dạy cho trẻ hiểu rằng chúng không phải là trung tâm của vũ trụ
Thanh thiếu niên đặc biệt phải hiểu rằng một gia đình có môi trường hài hòa cần phải có sự thỏa thuận về công việc. Ví dụ, khi bọn trẻ muốn bố mẹ đưa đến sân bóng rổ vào cuối tuần mà bạn lại cần phải làm thêm cả những việc khác nữa. Để thu xếp ổn thỏa việc này thì bạn cần đưa ra một thỏa thuận – bạn sẽ đồng ý đưa bọn trẻ đến sân bóng rổ nhưng đổi lại chúng cần phải làm thêm một số việc trong nhà .

6: Học phép xã giao
Chỉ cho trẻ biết những cách ứng xử cơ bản và những phép xã giao. Trẻ em thường bắt chước từ gia đình, do đó, cách dạy dỗ tốt nhất chính là cách xử sự của cha mẹ chúng đối với những người trong gia đình và những người ngoài xã hội ở mọi thời điểm. Những cử chỉ đẹp thì không bao giờ bị lỗi thời. Ví dụ khi ông bà (hoặc bất kỳ người nào) gửi một món quà sinh nhật, thì hãy nhớ gọi điện thoại hoặc gửi lời cảm ơn tới họ. Khi đi thăm bạn bè hoặc đến nhà người khác thì cần ăn mặc gọn gàng, sạch sẽ và mang theo một món quà nhỏ cho bà chủ nhà. Đứa trẻ không nên la hét ầm ĩ ở nơi công cộng.

7: Học cách sống hòa thuận với những người khác và có kỹ năng giao tiếp tốt
Ai không thể sống hòa thuận với những người khác thường là một người không thích nghi được với xã hội. Học cách nghĩ tới người khác trước, khiêm tốn và sẵn sàng học hỏi – lắng nghe. Học cách chấp nhận những thử thách và làm một người khoan dung, tin cậy. Điều quan trọng là phải có tinh thần tập thể và học cách thấu hiểu và tha thứ.

8: Bày tỏ sự cảm kích và học cách bày tỏ "thái độ biết ơn"
Dạy cho trẻ đánh giá đúng mực những thứ xung quanh chúng, dạy cho chúng những ví dụ về lòng biết ơn đối với những thứ chúng học hỏi và nhận được. Thái độ này sẽ giúp ích cho cuộc sống lâu dài của chúng sau này.
(Theo Kangzhongguo)


Thứ Sáu, 6 tháng 3, 2015

VAI TRÒ CỦA GIA ĐÌNH TRONG VIỆC HÌNH THÀNH NHÂN CÁCH TRẺ


 Bất cứ ai cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình. Gia đình bao gồm những người sống chung dưới một mái nhà, ăn chung một bếp, có lợi ích kinh tế chung và có trách nhiệm với nhau trong cuộc sống. Gia đình vừa là nơi đáp ứng nhu cầu riêng tư vừa thực hiện chức năng phát triển nòi giống và là trường học đầu tiên hình thành, phát triển nhân cách con người. Tuy vậy, quá trình trưởng thành và hình thành nhân cách của mỗi người là khác nhau, ngay cả với anh em trong một nhà.
 
Giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định tạo nên tài năng và tính cách của mỗi con người. Sự nuôi dạy con trẻ sát nhất là gia đình, tiếp đến là xóm giềng và xã hội. Nhân cách con người bắt đầu hình thành từ lúc còn nằm trong bụng mẹ cho đến khi trưởng thành vẫn chưa dừng lại. Lứa tuổi ấu thơ là giai đoạn quan trọng trong quá trình hình thành nhân cách của trẻ. Nhân cách mặc dù chưa được thể hiện rõ ràng nhưng thông qua hành vi bắt trước hành động của người lớn trẻ em bắt đầu thâu nhận tất cả các tương tác nhân – sinh – quan để hình thành nhân cách của mình.
 
Trong mỗi gia đình vai trò của bố mẹ có vị trí quan trọng. Theo truyền thống Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình. Người cha là trụ cột, là biểu hiện của nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noi theo Còn người mẹ là chỗ dựa, là hạt nhân tâm lý chủ đạo, nguồn lửa sưởi ấm yêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận cho các con. Cho nên gia đình là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho trẻ em.
Trẻ được sinh ra từ lòng mẹ, được nuôi dưỡng từ dòng sữa mẹ, được nghe lời ru ấm áp của mẹ để đi vào giấc ngủ. Mẹ là người đầu tiên trẻ được tiếp xúc khi cất tiếng khóc chào đời, là người dạy trẻ từ lời ăn tiếng nói, hướng dẫn trẻ những bước đi đầu tiên. Bên cạnh quan hệ cha mẹ - con cái còn có quan hệ vợ chồng. Đây là quan hệ cơ bản, đan xen giữa khía cạnh tự nhiên – sinh học, kinh tế và tâm lý đạo đức. Văn hóa trong gia đình nói chung, quan hệ vợ chồng nói riêng đều có sự ảng hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên trong gia đình. Bầu không khí tâm lý – đạo đức của gia đình tác động trực tiếp đến nếp nghĩ, lối sống của trẻ. Mọi xung khắc của các cá nhân trong gia đình, nhất là giữa bố và mẹ, đều ảnh hưởng đến con cái. Trong nếp nghĩ của trẻ nhỏ luôn lưu giữ hình dáng, lời ăn tiếng nói của cha mẹ.

 
Trong gia đình, ngoài các mối qua hệ nói trên còn có mối quan hệ giữa ông bà và các cháu, anh chị và các em. Mối quan hệ này càng bền chặt thì càng làm phong phú thêm đời sống tinh thần của các cá nhân trong gia đình. Các bậc lớn tuổi phải làm gương, tự điều chỉnh hành vi của mình thì mới đáp ứng được vấn đề đạo đức, văn hóa và các mối quan hệ đặt ra trong phạm vi gia đình. Người xưa nói “rau nào sâu đó”, lối sống của cha mẹ và những người trong gia đình ảnh hưởng rất lớn đến trẻ em.
 
Trở thành một người có nhân cách tốt khi trưởng thành hoàn toàn không dễ. Không thể chủ quan khi cho rằng “cha mẹ sinh con trời sinh tính” mà câu nói “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” rất đúng đối với trẻ. Giáo dục con cái không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những công việc cụ thể, mọi hành vi, thái độ, lối sống của người lớn có có tác động trực tiếp tới việc hình thành, phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ em sẽ không tôn trọng người lớn nếu nó như chúng thấy cha mẹ mình thể hiện sự thiếu tôn trọng lẫn nhau.
 
Khi cha mẹ dạy con phải lễ phép với bố, mẹ nhưng chính họ lại không tôn trọng cha, mẹ của mình (ông bà của trẻ) thì chắc chắn trẻ sẽ chẳng bao giờ lễ phép với cha, mẹ và cả ông, bà. Những bậc cha mẹ luôn quan tâm đến con cái sẽ chú trọng đến việc giáo dục hình thành nhân cách cho trẻ, dạy con không được nói dối người lớn, phải thật thà và biết nhìn nhận khuyết điểm, biết cám ơn khi được cho quà. Nhưng cũng có nhiều gia đình thiếu quan tâm đến việc giáo dục con cái, người lớn đối xử với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động thiếu văn hóa…, những hành động xấu đó đã phản chiếu vào tâm hồn non nớt của trẻ em, làm cho các em trở lên cộc cằn, thô lỗ. Môi trường gia đình có vai trò quyết định đến sự phát triển của trẻ em. Những mâu thuẫn, lục đục trong gia đình hay gia đình tan vỡ đã đẩy nhiều trẻ em rơi vào tình trạng hụt hẫng về mọi phương diện, nhiều em không đủ ý chí để vượt qua khó khăn này đã rơi vào những bệnh như trầm cảm, rối loạn tâm lý hoặc bỏ nhà đi lang thang, phạm tội.
 
Yếu tố gia đình chịu trách nhiệm đối với quá trình xã hội hóa ban đầu của cá nhân, ảnh hưởng đến việc hình thành phẩm chất, nhân cách gốc của trẻ. Nếu ngay từ đầu các phẩm chất đó bị sai lệch, trẻ sẽ dễ sinh hư. Ông bà ta xưa cho rằng muốn con cái trở thành thương nhân thì nên ở gần chợ, muốn con hay chữ thì ở gần trường học, nếu gần trộm, gần cướp thì sớm hay muộn cũng trở thành cướp. “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”, câu tục ngữ mang tính giáo dục đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Sống trong các gia đình có bố mẹ hoặc người lớn khác có hành vi thiếu văn hóa, đạo đức thậm chí có cả những hành vi phạm tội, như bố mẹ bất hòa hay đánh chửi nhau, nghiện rượu, nghiện ma túy, trộm cắp, tham ô…thì những gương xấu này làm cho trẻ em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các thói hư tật xấu và dễ bị lôi kéo rồi dần dần vi phạm pháp luật. Chỉ có những trẻ có ý chí kiên cường, có lòng tự trọng cao, sớm đánh giá được đúng sai mới tránh được những ảnh hưởng xấu đó. Cũng có nhiều trường hợp bố mẹ là người tốt, có đủ kiến thức nhưng không chú ý đúng mức đến việc giáo dục con cái hoặc không có điều kiện gần gũi trẻ, có người ỷ lại cho nhà trường, một số mải làm ăn, kiếm sống hoặc phải đi công tác trong thời gian dài;
 
Có gia đình bố mẹ ly hôn, có con ngoài giá thú, một trong hai người chết…dẫn đến việc con cái bị bỏ rơi, thiếu sự dạy dỗ và tình thương của cha mẹ, không được dạy dỗ và chăm sóc chu đáo trẻ sẽ có tâm lý lệch lạc, tự do ngang bướng, bất cần. Chúng dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi kéo… Có những gia đình bố mẹ thiếu hiểu biết hoặc không kiềm chế được nên đã coi việc đánh đập hoặc dùng nhục hình với trẻ như là quyền của họ. Khi trẻ có lỗi, cha mẹ đã buồn bực, lo lắng và trút đòn roi lên đầu con cái.
Nhiều đứa trẻ bị bạo hành đã nghĩ gia đình không còn yêu thương, che chắn và bảo vệ mình nữa. Chính cách xử sự này của bố mẹ đã khiến trẻ bị khủng hoảng về tâm lý, tự ti, khó hòa nhập, trẻ trở lên hung hãn, lì lợm, xa lánh mọi người và căm ghét gia đình. Trong hoàn cảnh đó trẻ dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, khống chế thực hiện những hành vi trái pháp luật. Con hư còn bởi cách dạy. Sự quá nuông chiều, thỏa mãn mọi nhu cầu của con cái, thói quen đòi gì được nấy.

 
Bên cạnh sự nuông chiều, cha mẹ bao bọc mọi việc khiến trẻ hình thành tính ỷ lại, dực dẫm, sống ích kỷ, lười nhác, không ý thức về trách nhiệm, quen được phục vụ, hưởng thụ. Đến một lúc nào đó, khi gia đình không thỏa mãn được hoặc không có điều kiện phục vụ thì con cái trở nên bất mãn, thậm chí thù ghét bố mẹ, chúng thường bỏ nhà đi bụi, tụ tập với bạn bè hư. Nhiều trẻ trộm cắp tài sản của chính bố mẹ mình hoặc của người khác để thỏa mãn những nhu cầu không chính đáng như đua đòi ăn diện, đánh bạc, hút chích…
Ngày nay, với những biến đổi của nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường văn hóa gia đình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống xã hội. Với ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã kích thích nhu cầu ham muốn vật chất, ít chú trọng đời sống tình cảm tinh thần, tình trạng xung đột gia đình dẫn đến đổ vỡ và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia đình không được bền vững. Do đó chúng ta cần đặc biệt chú trọng giải quyết vấn đề gốc rễ là giáo dục con trẻ trong gia đình.

 
Giáo dục gia đình có tác động hình thành nhân cách cho trẻ. Đó là kinh nghiệm sống của cha mẹ truyền dạy cho con cháu qua hành vi ứng xử trong gia đình. “Dạy con từ thuở còn thơ”, các bậc cha mẹ cần thường xuyên giáo dục con trẻ thái độ, cử chỉ, ăn nói lễ phép, tôn kính người trên, tôn sư trọng đạo, nhường nhịn lẫn nhau để khi trưởng thành con cái biết ơn sinh thành, nuôi dưỡng, chăm sóc ông bà, cha mẹ.
 
Cha mẹ cũng cần uốn nắn, phê phán, ngăn chặn thái độ, cử chỉ bất nhã, bất hiếu của con cái. Kết hợp giữa giáo dục truyền thống và hiện đại, phát huy mặt tích cực của Nho giáo, Đạo giáo trong quan hệ lễ nghĩa tương kính. Mặt khác, dần dần xây dựng nếp sống khoa học trong gia đình: rèn cho con nền nếp học tập và đức tính tốt, như tự suy nghĩ, tìm tòi, sinh hoạt đúng giờ, gọn gàng ngăn nắp. Cha mẹ cũng cần giáo dục các nội dung văn hóa khác cho trẻ, như văn hóa lao động, văn hóa sinh hoạt, văn hóa tiêu dùng, văn hóa giao tiếp…Tập luyện cho con ý thức, thói quen lao động chân tay hàng ngày để nâng cao sức khỏe, loại trừ thói xấu lười nhác, ỷ lại, dựa dẫm, cẩu thả…qua đó giúp con mình hình thành nhân cách, sớm ý thức được mình vì mọi người và mọi người vì mình trong gia đình. Cần có kế hoạch, thời gian dành cho vui chơi, học tập của con phù hợp với sinh hoạt của gia đình.
 
Về văn hóa tiêu dùng, về tiền bạc và những tiện nghi sinh hoạt khác, cha mẹ cần giáo dục con ý thức tiết kiệm và quý trọng đồng tiền làm ra từ lao động chân chính. Các thói xấu như ham tiền, kiếm tìền bằng mọi giá, đua đòi, ăn chơi cần được sớm ngăn chặn, vì điều này dễ dẫn các em vào con đường hư hỏng. Giáo dục cho con ý thức, nếp nghĩ, cử chỉ lời nói lễ phép, khiêm tốn, trang phục, trang sức hợp gia cảnh từng nhà và truyền thống đạo đức của dân tộc, đó là văn hóa giao tiếp.


Gia đình có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách mỗi con người. Nếu nhân cách của con người bao gồm hai mặt đức và tài, thì gia đình là nơi nuôi dưỡng đạo đức và gieo mầm tài năng. Các bậc cha mẹ cần nhận thức đúng trách nhiệm của mình để giữ gìn hạnh phúc gia đình, xây dựng gia đình văn hóa: no ấm, bình đăng, tiến bộ và hạnh phúc.

Nguồn tin: Th.S Nguyễn Thị Kim Hồng
(Nguồn : phunudanang.org.vn)




  • Thứ Năm, 5 tháng 3, 2015

    GIÁO DỤC NHÂN CÁCH


    Nguyễn Xuân Xanh





    Bởi vì tất cả những gì vĩ đại và cao cả đều được tạo ra bởi cá nhân trong sự phấn đấu tự do.[…] Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tất cả những tài sản vật chất, tinh thần và đạo đức mà chúng ta nhận được từ xã hội xuất phát từ những nhân cách đơn lẻ qua vô số thế hệ.[...] Chỉ cá nhân đơn lẻ mới tư duy và qua đó mới tạo ra những giá trị mới cho xã hội. (Albert Einstein)



    Thời đại réo gọi “nhân cách”, nhưng sự réo gọi hoài công, cho đến khi chúng ta để cho trẻ em như những nhân cách sống và học; cho phép chúng có ý muốn riêng, nghĩ những ý nghĩ riêng, tạo ra kiến thức riêng, xây dựng phán đoán riêng; nói tóm lại, cho đến khi chúng ta chấm dứt bóp chết các nguyên liệu của nhân cách mà chúng ta hy vọng muốn gặp trong đời một cách hoài công. (Ellen Key)


    Nhân cách, ở diện rộng, là nền tảng của mọi quốc gia, và giáo dục là chiếc lăng kính tỏa ra nhiều màu sắc của nhân cách. Không có nhân cách, không có khoa học, nghệ thuật. Giá trị của nhà nước, xét lâu dài, là giá trị của các cá nhân cấu thành, như John Stuart Mill viết. Muốn có một đất nước mạnh, độc lập, tự khẳng định, phải có những cá nhân mạnh, độc lập và tự khẳng định, thông qua sự tự rèn luyện trong giáo dục. Đó là điều kiện tiên quyết. Một quốc gia được đại diện trong cộng đồng thế giới bằng những ai? Bằng những nhân cách lớn và những tài sản tinh thần của họ. Không có những nhân cách lớn, không thể có nhà nước lớn, không có diện mạo tốt đẹp của quốc gia để được kính phục trong cộng đồng các dân tộc. Einstein cũng từng nói: “Sự lớn lao trong khoa học thực chất chỉ là một vấn đề cá tính”, của nhân cách, của những cái đặc thù tiềm tàng trong người không giống đám đông, để có thể đạt tới những thành tựu vĩ đại. Nhân cách, tính độc lập, là điều kiện tiên quyết của phát triển cá nhân và quốc gia.


    Nước Đức thế kỷ 19, trong niềm đau tận cùng của sự sụp đổ trước Napoleon, đã cải cách toàn diện giáo dục, từ tiểu học, trung học đến đại học, để khôi phục giá trị con người đã bị đánh mất dưới chế độ phong kiến, quân chủ, và bị bỏ quên trong nền kinh tế lạc hậu. Họ tìm lại những nhân cách lớn, và những giá trị lớn của tinh thần để bù đắp những tổn thất lớn vật chất. Và thực sự họ đã lớn trong cái “giáo dục con người”, Menschenbildung.

    Nước Nhật Minh Trị cũng đã du nhập tinh hoa của văn hóa phương Tây để xây dựng lại con người mới, bị kềm hãm bởi cái học cũ chỉ để phục vụ cho giới thống trị, xây dựng lại nhân cách và một nền văn hóa mới để quốc gia có đủ sức mạnh đương đầu với hiểm họa. Khuyến học, tên của quyển sách nổi tiếng của Fukuzawa, là tiếng kèn ra trận của sự duy tân nhằm thiết lập cái học mới phục vụ nhân dân và xã hội. Và dân tộc họ đã lớn, đã trưởng thành, ngang bằng với các dân tộc đi trước.

    Giáo dục cần tập cho học sinh có tinh thấn tự quyết (Selbstbestimmung), chứ không phải thích ứng, chạy theo, không nhắm lợi ích trước mắt hay nắm bắt các kiến thức, kỹ năng, mà phải được đánh thức các tiềm năng tinh thần to lớn bên trong. Giáo dục nhân cách là giáo dục để thành người đích thực, đương đầu trước những cám dỗ tầm thường hóa của tính thực dụng, hưởng thụ, phúc lợi, sung sướng về vật chất. Chúng ta hãy lấy thí dụ một tiếng nói nhân văn từ Max Planck mà khám phá lượng tử của ông đã đưa khoa học hiện đại thế kỷ 20 đến thuyết lượng tử ngày nay. Ông nhớ lại trường học nhân văn của ông bằng những lời ấn tượng có tính giáo dục như sau:
    “Tôi chào định mệnh đã cho tôi một nền giáo dục nhân văn. Các nhà cổ điển Hy Lạp và La Mã [là những hình ảnh] tôi không bao giờ muốn đánh mất khỏi trí nhớ tôi. Tôi tin chắc rằng, trong thời đại hiện tại, chủ yếu được định hướng theo những lợi ích bề ngoài, thì trường trung học nhân văn lại càng quan trọng hơn bao giờ hết. Vì thế cần phải cho tuổi trẻ biết rằng còn một loại ‘thưởng thức’ khác hơn là loại thưởng thức chỉ dựa trên lĩnh vực vật chất hay tiết kiệm thì giờ và tiền bạc.”

    Một người hạnh phúc, thỏa mãn, sẽ quá hài lòng với hiện tại để nghĩ nhiều về tương lai như Einstein nói, người đó sẽ dễ rơi vào “bẫy phát triển trung bình” và ngưng trệ, không vượt lên ưu việt, hay những vị trí tương xứng với tiềm năng của mình. Khoa học và nghệ thuật cần những nhân cách để xuất sắc. Học sinh cần có trải nghiệm với các nhân cách lớn thế giới.

    Giáo dục cần phải dạy cho học sinh biết mơ. “Cần phải mơ tưởng [ngay cả] điều không có thể, để thực hiện tất cả những gì có thể” như Goethe. Một giấc mơ, một lý tưởng sẽ luôn luôn là động cơ để con người đi tới những đích xa. Thiếu những thứ đó, con người như không có phương hướng, thiếu cái la bàn, thì làm sao làm tới một cái gì đáng nói? Có chỉ số IQ cao, điều đó tốt, nhưng khoan hãy tự hào, vì người sở hữu có thể phung phí, để thông minh của mình mai một, hay rơi vào những cái tầm thường. Nhà bác học Einstein không bao giờ nói ông thông minh. Nhà phát minh Edison cũng nói mình không thông minh. Chỉ có óc tò mò đặc biệt và kiên trì theo đuổi, “vừng ơi mở cửa” mới thành công.

    Giáo dục cần phải giúp con người khao khát khám phá chân lý. Khao khát này luôn luôn là động cơ phát triển của thế giới phương Tây, từ thời cổ đại Hy Lạp hơn hai nghìn năm rưỡi trước, bị ngủ đông bởi tôn giáo sau khi đế chế La Mã sụp đỗ, bị xâm nhập và cai trị của những người du cư (Hun), nhưng rồi bừng tỉnh sau đêm dài đen tối, không ngừng phát triển lên những cao điểm của khoa học, văn hóa, tạo ra cách mạng khoa học, cách mạng công nghiệp và khai sáng, thay đổi bộ mặt toàn thế giới.
    Phải khao khát mãnh liệt lắm để làm con người đi trên những bậc thang tiến hóa ngày càng cao. Nhà khai minh Đức Gotthold Ephraim Lessing thế kỷ 18 đã nói lên niềm khao khát cháy bỏng tự đi tìm chân lý bằng hình tượng:
    Nếu Chúa giữ kín tất cả chân lý trong tay phải của Ngài, và trong tay trái chỉ có một thứ là động cơ đi tìm chân lý, sống động, và không bao giờ tắt, dù có kèm theo điều kiện rằng tôi luôn luôn và mãi mãi có thể bị sai lạc,…., và rồi bảo hãy chọn lựa đi, thì với sự khiêm cung tôi sẽ ngã vào tay trái của Ngài và nói rằng: Hãy cho con tay này! Chân lý hoàn hảo chỉ dành cho Cha!
    Các chân lý nếu không do tự mình khám phá, chưa chắc có giá trị chân lý của mình. Đúng như thế đối với một thời đại, một quốc gia, và một con người. Sai lạc là hệ quả của ai đi tìm chân lý. Nhưng ngọn đuốc đi tìm chân lý không bao giờ tắt, và sẽ đưa những người tìm đến bến bờ, hết lớp này đến lớp khác, trong quá trình hoàn thiện không ngừng của nhân loại. Một đứa trẻ, một người trẻ, nếu họ đi nhầm trên con đường của chính họ, đối với tôi vẫn hơn những người đi đúng nhưng trên con đường xa lạ (không phải của họ)như Goethe nói.

    Nhưng muốn có giáo dục nhân cách, trước nhất cần phải dẹp bỏ những điều kiện có thể làm giảm nhân cách người thầy, hoặc ngăn chặn sự phát triển lành mạnh của họ. Điều đó bao hàm giải phóng thầy cô khỏi những sợi giây ràng buộc sinh nhai, trói buộc hành chánh, để họ có đầy đủ tự do để nghiên cứu và trao dồi nghiệp, để trở thành những tấm gương nhân cách sáng chói hơn.

    Người thầy trước nhất họ phải có không gian tự chủ để thể hiện tính cách và nghệ thuật giáo dục của họ, với sắc thái riêng, không bị ràng buộc vào những quy định cứng nhắc. Trước đôi mắt của học sinh và dư luận xã hội, người thầy là những người mang sứ mệnh cao cả đào tạo những con người có nhân cách và bản lĩnh cho quốc gia, thì họ không thể bị hạ thấp bởi cuộc sống bẫn chật.
    Không quốc gia truyền thống nào trên thế giới, kể cả miền Nam Việt Nam trước đây, nghèo hay giàu, có ngày vinh danh nhà giáo. Nhưng xã hội họ rất vinh danh nhà giáo. Sự vinh danh ấy nằm trong sự bảo đảm đời sống gia đình và con cái họ đàng hoàng, giải phóng họ khỏi những lo toan vật chất, tạo điều kiện trao dồi nghiệp vụ cho họ, và trong sự kính trọng cao độ mỗi khi nghe nói đến hai chữ nhà giáo. Hai chữ đó thiêng liêng, tượng trưng sứ mệnh cao cả khai trí trong người thầy như một trọng trách của xã hội và nhân dân giao phó. Không thể nào vinh danh nhà giáo mà lại để nhà giáo không đủ sống để họ phải kiếm sống ngoài giờ, gây ảnh hưởng không tốt đến giáo dục. Không thể nào nhà giáo là những người đào tạo các thế hệ con người cho quốc gia, làm ra sản phẩm, đem lại sự sung túc cho xã hội, mà lại thuộc tầng lớp nghèo khó.

    Thứ hai, cần trả tự do cho giáo dục, cho người thầy. Sự can thiệp quá sâu của nhà nước, chỉ gây thêm tác hại cho giáo dục. Lịch sử của các quốc gia phát triển là lịch sử của sự độc lập của giáo dục đối với tôn giáo và nhà nước. Điểu này đã diễn ra hơn 200 năm.
    Cá mâu thuẫn hiện nay thể hiện một sự khủng hoảng nghiêm trọng của giáo dục Việt Nam, không phải về năng lực tài chính, hay quản lý, mà về quan điểm. Chấm dứt khủng hoảng này, cây giáo dục mới xanh tươi trở lại, vị trí của người thầy mới được khôi phục trọn vẹn và giáo dục mới thăng hoa.
    Giáo dục quốc gia là một thánh đường, mà thầy cô là những người gìn giữ. Hãy có cách đối xử tốt hơn với thánh đường, và những người chăm sóc nó.

    Vài điều cuối muốn được chia sẻ với các bạn học trò: Người thầy nắm tay dìu dắt chúng ta đi một đoạn đường, tạo một căn bản kiến thức và khẩu vị nhân cách, gợi một số định hướng tương lai, nhưng phải buông tay đễ chúng ta tự bước vào “biển đời”. Còn lại là ấn tượng về những tấm gương của người thầy, và sự đọng lại tinh hoa của giáo dục khi chúng ta quên đi những gì đã học. Các năm đại học mở thêm một chân trời rộng lớn cho khoa học và nghệ thuật, những bậc thang cao hơn để tự chọn. Nhưng trong cái biển mênh mông của tri thức đó, ta là ai, con đường của ta là gì, cái gì phù hợp với trái tim ta. Không ít những người đi lạc đường, vì những đam mê nhất thời, dừng chân tại một bến đỗ quá lâu, vì ảo vọng, mà quên đi những cái đích xa hơn cần phải đến. Có những người phải mất mấy mươi năm mới trở lại con người thật của mình, tự vật lộn để xây dựng lại thế giới của mình.  Con người “phải là gì mới làm được cái gì”, như đại văn hào Goethe nói. Phải là cái gì, “cái gì khác biệt”, thể hiện qua nhân cách, tri thức và đức hạnh, thì chúng ta mới có những đóng góp quý báu diện rộng cho xã hội. Mỗi người chúng ta sinh ra vốn bị giam trong hang động vô minh của Platon, do đó không có tự do đích thực. Nhưng chúng ta linh cảm có những lối thoát, và khoa học là một công cụ trí thức đã từng bước chỉ ra lối thoát để hiểu vũ trụ và con người.
    Chỉ có sự phát triển bằng lao động cực nhọc và thông minh, chúng ta mới đạt đến sự giải phóng. Nhà văn Đức Peter Weiss, người rất yêu mến dân tộc VN trong giai đoạn khó khăn nhất, từng nói về mình: “Tự tôi, tôi không tự do, lao động của tôi là nỗ lực giải phóng”. Nó minh họa cho quá trình tìm lại ông. Ông lao động cực lực, làm nhiều nghề, từ vẽ, nghệ thuật, làm phim, rồi đến viết lách, trải qua bao nhiêu giai đoạn khó khăn của cuộc sống, để cuối cùng giải phóng được mình khỏi vô minh để trở thành một ngọn đuốc sáng rực, bằng cây bút. Van Gogh cũng thế, bằng cọ vẽ. Những trải nghiệm thất bại không phải là vô bổ, mà là những bậc thang vững chắc để nâng cao giai điệu giao hưởng cuối cùng vĩ đại. Nhà khai sáng Đức Lessing tin rằng, trong sự phát triển của con người, “con đường ngắn nhất không phải luôn luôn là đường thẳng”, nhưng cũng tin rằng, từ “tất cả những con đường sai lầm, người ta vẫn hình dung ra con đường đúng hướng về đâu”. Đó là niềm lạc quan của nhà khai sáng thế kỷ 18.

    Con người cần hai khoảng không gian tự do để phát triển nhân cách: tự do thứ nhất do sự không can thiệp từ ngoài vào đời sống giáo dục; tự do thứ hai là khoảng không nội tâm bên trong mà các nhà văn hóa Đức gọi là “vương quốc nội tâm” (inneres Reich), Einstein gọi là “tự do nội tâm” (innere Freitheit). “Tự do nội tâm này là món quà hiếm có của thiên nhiên ban cho, và là một mục tiêu đáng giá cho cá nhân.” Chính khoảng không gian này là miếng đất màu mỡ chứa đựng và nuôi dưỡng những hạt giống sáng tạo. Nó giống như khoảng không của thiền, suối nguồn của năng lượng sáng tạo. Đó là miếng đất mọi nhà khoa học và nghệ thuật lao động, ý thức hay không ý thức. Không có tự do nội tâm này, con người sẽ cằn cỗi, dễ bị đồng hóa với đám đông.
    Người Đức tự hào “Vương quốc nội tâm kia mà nền triết học của chủ nghĩa duy tâm Đức cũng như nền văn chương của trường phái cổ điển Weimar đã xây dựng, đã đi trước sự thành lập vương quốc chính trị [của Đức] hơn một trăm năm” (Wolf Lepenies). Cho nên họ mới vĩ đại.
    Nói tóm lại, muốn có quốc gia giàu mạnh, xã hội cần có nhiều nhân cách phát triển trong một môi trường tự do, trong nội tâm lẫn từ ngoại cảnh, như nhà cải cách giáo dục Wilhelm von Humboldt quan niệm. Một xã hội “sản xuất hàng loạt những cá nhân được tiêu chuẩn hóa không có sắc thái và mục tiêu riêng lẻ sẽ là một xã hội nghèo nàn mất khả năng phát triển”, như Einstein cảnh báo.

    Cuối cùng hết xin đựợc chia sẻ với các bạn học trò một sự kiện. Albert Camus, nhà văn lớn Pháp thế kỷ 20, sau khi nhận được giải Nobel văn chương năm 1957, viết ngay một lá thư cám ơn gửi đến người thầy đầu tiên của mình, thầy của trường tiểu học ở Belcourt, một khu phố nghèo thành phố Algier mà Camus đã lớn lên cùng với các gia đình di cư Pháp. Ảnh hưởng quyết định và lâu dài lên ông là người thầy ở đó, như ông viết trong tự thuật, đã biết tạo ra ý thức về nhân cách cho ông và các bạn học. Với người thầy,  đám học trò lần đầu tiên cảm thấy “chúng tồn tại, và là đối tượng của sự kính trọng cao nhất… chúng có đầy đủ nhân phẩm, xứng đáng để khám phá thế giới.” Calmus nói đến “Kính trọng”, và “Nhân phẩm” từ một đứa trẻ đường phố vô danh và không nguồn gốc. Đó chính là trải nghiệm quyết định của thời học sinh đã tạo cho ông ý chí học hỏi và ý thức về mình. Ông cho thấy tác động của giáo dục tôn trọng nhân cách là sâu sắc đến dường nào, đáng để các nhà giáo dục phải suy nghĩ.

    Nguyễn Xuân Xanh 
    (Nguồn : tiasang.com.vn)

    Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

    NGUYÊN TẮC GIÁO DỤC CON CÁI TRONG GIA ĐÌNH

    Giáo dục con trong gia đình có vai trò quan trọng trong quá trình lớn lên và hình thành nhân cách của trẻ.Trong thời đại đầy đủ tện nghi vật chất ngày nay, nhiều người trẻ bị cuốn vào nhịp sống nhanh và nhiễm các căn bệnh thời @. Bên cạnh đó, sự buông xuôi, bỏ mặc hay lúng túng, bất lực của các bậc làm cha  mẹ trong việc giáo dục con cái trở thành một đề tài rất được quan tâm
    Có những bậc làm cha mẹ thiếu chuẩn bị và thiếu kinh nghiệm, nên thường phản ứng theo bản năng. Hơn nữa, nhiều bậc làm cha mẹ có quan niệm cho rằng con cái là sở hữu riêng, nên họ có quyền quyết định phương thức giáo dục chúng. Đôi khi đó là cách thức tùy hứng và sai lầm. Cách giáo dục quá nuông chiều con hay quá nghiêm khắc đều để lại những chấn thương trong nhân cách trẻ.
    Thời gian gần đây, con số thanh thiếu niên vi phạm pháp luật ngày càng cao và càng mang tính nghiêm trọng. Điều này là một dẫn chứng thuyết phục để đặt lại vấn đề: giáo dục con trong gia đình cần tuân theo những nguyên tắc cơ bản nào, nhằm đạt hiệu quả trong việc giúp nhân cách trẻ được hình thành và phát triển cách tốt nhất.

     Chiều ngày 21/11/2009 tại Hội Trường Lầu I của  Trung Tâm Mục Vụ, Tổng Giáo Phận Tp HCM, hơn 200 tham dự viên gồm sinh viên, phụ huynh, các nhà giáo dục, Linh mục, Muc sư và rất nhiều nam nữ tu sĩ tham dự. Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng, giảng viên trường ĐHSP đã thuyết giảng về “Các nguyên tắc giáo dục con trong gia đình”.  Với kinh nghiệm sống thực tế và kinh nghiệm giáo dục phong phú, Cô đã xây dựng bầu khí lớp học rất sinh động, thân thiện và dễ hiểu. Bằng giọng văn dí dỏm và cách dẫn dắt thông minh, Cô đã hướng dẫn cộng đoàn dần dần khám phá ra 8 nguyên tắc cơ bản trong việc giáo dục con cái trong gia đình như sau:

    1.     Ý thức tầm quan trọng:
    ·         Cha mẹ phải nghiêm túc trong việc dạy bảo con cái
    ·         Ý thức được trách nhiệm làm cha mẹ là quan trọng và không thể thay thế. Điều này giúp các bậc làm cha mẹ không trao phó hay ỷ lại quá nhiều vào những người khác như nhà trường, người thân, người giúp việc....
    ·         Họ cần có định hướng để chủ động và phá huy tính sáng tạo nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất.
    ·         Ý thức được tầm quan trọng này, các bậc làm cha mẹ có trách nhiệm hơn và đủ ý chí chống trả lại những cám dỗ bằng mọi giá, để dành thời gian sống cùng và nuôi dạy con cái.
    ·         Các bậc làm cha mẹ cần trang bị, nâng cao kiến thức và khả năng giáo dục
    ·         Cha mẹ là người có quyền tác động đến sự phát triển và định hướng con người trong tương lai của con mình. Nếu giáo dục không có định hướng, đứa trẻ không phát huy được khả năng của mình. Tuy nhiên, nếu cha mẹ định hướng một cách chủ quan theo kỳ vọng và ý thích, đứa trẻ sẽ luôn cảm thấy căng thẳng, tự trách, suy sụp tinh thần và thể chất, oán hận và trách cứ cha mẹ. Bản thân người làm cha mẹ, sau một khoảng thời gian dài, cũng đau khổ nhận ra mình đã làm uổng phí thời gian, tuổi trẻ và sức lực của con cái
    ·         Để đạt hiệu quả, đòi hỏi việc định hướng phải dựa vào khả năng thực tế của đứa trẻ. Điều này giúp trẻ cảm thấy an toàn và được yêu thương .

    2.     Xác định mục tiêu giáo dục con:
    ·         Mục tiêu là ý định, là nguyện vọng, là điều muốn đạt được
    ·         Trên thực tế, có nhiều bậc làm cha mẹ không hề đặt mục tiêu trong việc giáo dục con cái. Họ có thái độ buông xuôi, bỏ mặc cho đứa trẻ “tự do phát triển”. Sự thiếu hiểu biết và thiếu trách nhiệm này, làm cho trẻ bị thiệt thòi. Đối lập với thái cực này, là có không ít bậc làm cha mẹ xác định mục tiêu theo ý riêng của mình. Họ mong đợi quá nhiều ở con cái. Sự kỳ vọng đó làm cho đứa trẻ cảm thấy căng thẳng, thiếu tự nhiên, thiếu tự tin, mệt mỏi, trầm cảm…..Tham vọng và đòi hỏi này dẫn đến sự mất mát nơi trẻ tính hồn nhiên, sự bình an trong đời sống nội tâm và đồng thời cũng ảnh hưởng lớn đến tinh sáng tạo và tự tin
    ·         Cha mẹ cần xác định rõ những mục tiêu ngắn hạn theo từng giai đoạn phát triển của trẻ và những mục tiêu lâu dài trong tương lai. Việc xác định các mục tiêu này cần dựa trên cơ sở đặc điểm cụ thể của từng đứa trẻ và điều kiện gia đình. Đồng thời cũng dựa trên sự hiểu biết, tôn trọng và làm gương sáng cho con cái.

    3.     Thống nhất tác động giáo dục:
    ·         Trong một gia đình có nhiều thế hệ, việc giáo dục con cái đòi hỏi sự tế nhị, khéo léo và thống nhất tác động giáo dục dựa trên cơ sở vì lợi ích của con cái.
    ·         Tác hại của cách giáo dục không thống nhất là gây cho trẻ nhiều hoang mang, làm giảm uy tín của người lớn và hình thành tính không trung thực nơi trẻ. Khi lâm vào tình trạng hoang mang, trẻ thường tìm cách xoay xở và làm theo quyết định của người có quyền lực cao nhất trong gia đình. Do đó, trẻ thường giả vờ và thiếu trung thực để đối phó với quyết định ngược lại của những người có quyền lực thấp hơn.
    ·         Gia đình cần thống nhất:
                                 i.      Quan điểm, mục tiêu trong việc giáo dục con cái
                                ii.      Phân công vai trò
                               iii.            Phương pháp sử dụng

    4.     Làm gương:
    ·         Giáo dục trẻ bắt đầu từ cái nôi gia đình và cha mẹ là những người thầy đầu tiên của chúng. Nhãn quan của trẻ con về thế giới xung quanh được hình thành, dựa trên những tiếp xúc và giao tiếp của chúng với những người chúng gần gũi. Con cái lệ thuộc, hay để ý và bắt chước cha mẹ. Do đó cha mẹ là người trực tiếp gieo vào tâm hồn trẻ những hạt giống yêu thương, trung thực, tốt bụng….hay giả dối, gây hấn, bạo lực….
    ·         Dạy con từ thưở còn thơ vì trẻ con có thể phân biệt được đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu. Để nhân cách trẻ được hình thành và phát triển tốt, trẻ con cần thấy được gương sáng nơi người lớn: chúng cần thấy được phản ứng của cha mẹ trước những hành động xấu xa. Chính bằng phản ứng và nhất là gương sáng của mình, cha mẹ đóng dấu lên tâm hồn trẻ niềm xác tín về cách hành xử và giải quyết vấn đề.
    ·         Nhân bất thập toàn. Không bắt buộc bậc làm cha mẹ phải là người hoàn hảo để làm gương sáng cho con. Tuy nhiên, họ cần có ý muốn hoàn thiện bản thân cách tốt nhất và thẳng thắn, có bản lĩnh để biết nhận lỗi và sửa sai một cách cụ thể. Qua đó, trẻ học được lòng can đảm, tính trung thực, sự cảm thông với những sai lầm của người khác và lòng bao dung. Điều này cũng có nghĩa là dạy chúng thấy những giới hạn trong thân phận con người. Chính vì thế mà chúng phải cảm thông trước những giới hạn và khuyết điểm của người khá

    5.     Tổ chức lối sống trong gia đình:
    ·         Tạo bầu không khí gia đình ấm áp và đầy tình thương
    ·         Xây dựng nếp sống sinh hoạt lành mạnh để trẻ có thời gian luyện tập nhân cách của mình.
    ·         Tổ chức lối sống trong gia đình giúp trẻ học hỏi tính kỷ luật, sự tôn trọng người khác…
    ·         Dạy con bằng hành vi và cách sống của cha mẹ có hiệu quả hơn bằng lời nói

    6.     Tôn trọng nhân cách:
    ·         Tôn trọng là bảo vệ sự phát triển hồn nhiên theo từng lứa tuổi và tạo điều kiện để nhân cách trẻ phát triển cách toàn diện
    ·         Cha mẹ cần lắng nghe, không áp đặt và chấp nhận những suy nghĩ, cảm xúc của chúng
    ·         Lắng nghe và tham dự vào cuộc sống hằng ngày của con cái. Không xúc phạm, vùi dập trẻ bằng những hình thức hữu hình và vô hình
    ·         Không làm tổn hại đến tinh thần và thể chất của trẻ (Ví dụ: ép học là làm tổn hại đến sự phát triển của trẻ và làm chúng đánh mất tuổi thơ của mình)
    ·         Sự trao đổi, đối thoại là điều cần thiết trong công tác giáo dục
    ·         Sự thiếu tôn trọng con cái dẫn đến những tác hại nghiệm trọng về thể lý và tâm lý. Đứa trẻ không được tôn trọng, nâng đỡ thường tỏ ra bi quan và thường co cụm trong bản thân. Như thế, chúng cũng khó lòng nghĩ đến người khác
    Ba câu hỏi như sau:
    1/ Vì sao cha mẹ phải làm gương? Để làm gương, cha mẹ có bắt buộc phải là người toàn hảo? Nếu cha mẹ đã từng sai sót, thì họ có thể làm gương cho con cái bằng cách nào?
    2/ Những biểu hiện thiếu tôn trọng sự phát triển nhân cách của con? Tác hại?
    3/ Những sai sót của cha mẹ trong việc biểu lộ tình thương yêu và sự nghiêm khắc đối với con cái? Tác hại của những sai sót đó?
       (12 tờ giấy khổ lớn, 12 cây bút lông đã được phát ra cho 12 người của 12 Nhóm.)
    Ba câu hỏi này nếu chỉ nhằm trả lời để chấm điểm thì có vẻ dễ dàng vì đã được nghe diễn giả triển khai. Nhưng vì là thảo luận, nên đã có những đúc kết rất phong phú đầy bất ngờ. Sau đây là lược ghi các nội dung chính:
    Câu hỏi 1: Cha mẹ phải làm gương cho con cái, vì “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Trẻ em thích bắt chước còn cha mẹ là người thày đầu tiên, là người trẻ tin cậy nhất do đó ảnh hưởng rất lớn trên con cái. Không ai hoàn hảo, nên khi sai lỗi, cha mẹ cần dũng cảm, chân thành nhận lỗi để hiện tượng không bị lập lại và giúp con phòng tránh. Từ sự dũng cảm đó, cha mẹ sẽ hoàn thiện chính mình, biết chấp nhận sự bất toàn nơi mình và kẻ khác, để dễ tha thứ và sửa sai.
    Câu hỏi 2: Việc thiếu tôn trọng sự phát triển nhân cách của con, có thể thấy rõ những biểu hiện và tác hại:
    Biểu hiện: la mắng con trước mặt người khác; luôn xem con là “trẻ con”; không tin tưởng dẫn đến không giao việc, hoặc giao việc nhưng nhiều nhắc nhở quá mức cần thiết; không lắng nghe con; thường la mắng khi con phạm lỗi dù chưa tìm hiểu nguyên nhân;  quen dùng bạo lực (tinh thần và thân thể); đánh giá thấp khả năng của con; áp đặt suy nghĩ của mình lên con; không thừa nhận con là thành viên bình đẳng trong gia đình; “dán nhãn” cho con; so sánh và hạ thấp con mình với con người khác.
    Tác hại: con cái bị mặc cảm, thu mình, ngại giao tiếp hoặc tìm sự tin tưởng nơi người ngoài hoặc thú vui thiếu lành mạnh ngoài gia đình khi có dịp.Từ đó tạo khoảng cách giữa cha mẹ và con cái; đánh mất sự tôn trọng và yêu thương đối với cha mẹ; gia đình trở nên tù ngục; con cái bất mãn với cha mẹ, trở nên lỳ lợm; sống miễn cưỡng; không phát huy những năng khiếu; tự ti, thấy mình vô dụng, lạc lõng, cô đơn ngay trong nhà mình;  ảnh hưởng đến tâm và sinh lý, mặc cảm và dễ sa đà vào các tệ nạn xã hội. Trẻ sẽ nói dối để đối phó và qua mặt cha mẹ. Tình trạng căng thẳng - “stress”, dẫn đến chống đối lại cha mẹ, khởi đầu là những xung đột trong ý nghĩ, tư tưởng, rồi chống đối ngầm và ra mặt ( tùy theo điều kiện và hoàn cảnh)
    Câu hỏi 3: Nuông chiều con, cho tiền vượt quá nhu cầu; vô tình hoặc cố ý dung túng các hành vi sai trái; phục vụ quá đáng, hãnh diện quá đáng đến như tôn sùng con cái. Hoặc nghiêm khắc quá mức như mệnh lệnh, áp đặt, bạo lực, khô khan, không biểu lộ tình thương...
    Tất cả những biểu hiện thái quá như vậy dẫn đến những tác hại; trẻ không hiểu rõ và tôn trọng đúng mức giá trị đồng tiền; thấy mình như “ông hoàng, bà chúa” ngay từ khi còn bé; con cái sẽ ỷ lại, vô kỷ luật dẫn đến dễ dàng phạm pháp. 
    Khi khen thưởng con không đúng, hoặc thưởng tiền mỗi khi làm xong việc bổn phận hoặc thiên vị giữa các đứa con cũng sẽ dẫn đến những tác hại không nhỏ: trẻ sẽ khó phân biệt giá trị đúng sai, trẻ sẽ làm bổn phận vì tiền thay vì chứng tỏ trách nhiệm và nghị lực, con cái trong nhà nảy sinh những đố kỵ, bất hòa.
    ***
    Sau khi đúc kết và phân tích những thảo luận của các nhóm, diễn giả đã bày tỏ sự phấn khởi trước nhiệt tình tham gia của mọi người, đặc biệt, diễn giả đã bất ngờ trước sự phong phú và sâu sắc trong các ý kiến của các nhóm được họ trình bày thật sinh động. 
    Buổi nói chuyện kết thúc hồi 17 giờ cùng ngày.      

    7.     Yêu thương + nghiêm khắc.
    ·         Yêu thương là giúp trẻ cảm nhận và biết biểu lộ tình cảm, cảm xúc với người khác. Khi được yêu thương, trẻ cảm thấy mình có giá trị. Từ đó, hình thành tính tự tin và lòng tự trọng
    ·         Cha mẹ cần có một tình yêu bao la, vô điều kiện đối với con cái. Tuy nhiên, nuông chiều con quá đáng sẽ làm con cái dễ hư hỏng, hình thành thành tính ích kỷ và đòi hỏi... Lớn lên, chúng thiếu ý thức cộng đồng, thiếu kỹ năng sống, không đủ bản lĩnh để vượt qua khó khăn trong cuộc sống
    ·         Nghiêm khắc với con cái là điều cần thiết để trẻ học biết những giới hạn và có những điều chỉnh cần thiết. Qua đó, trẻ học sống độc lập và tự tin. Tuy nhiên, những trẻ bị đối xử quá nghiêm khắc, không nhìn thấy được lòng yêu thương và biểu lộ tình cảm, lớn lên chúng trở thành người vô cảm, có một trái tim chai lì trước nỗi khổ đau và khó khăn của người khác. Thánh Phaolo khuyên các bậc làm cha mẹ: đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng trở  nên nhát đản, sợ sệt
    ·         Cha mẹ cần nói “không” khi cần thiết. Điều này giúp chúng hiểu rằng không phải bất cứ điều gì chúng muốn, cũng được thỏa mãn. Qua đó, ý chí và sự tự chế được tôi luyện
    ·         Giữ được chừng mực, hài hòa giữa yêu thương và nghiêm khắc trong giáo dục con cái là cả một nghệ thuật đòi hỏi nhiều thời gian và hy sinh.

    8.     Hiểu con để có phương pháp giáo dục đúng:
    ·         Cha mẹ cần có đủ sự hiểu biết về tâm lý con cái theo lứa tuổi và đặc điểm riêng, để đồng hành với chúng trong cuộc sống
    ·         Cha mẹ phải tin tưởng rằng bất cứ đứa con nào cũng có một tiềm năng để trở thành người tốt, nhưng con cái cũng  có thế giới riêng tư của chúng. Cha mẹ cần có đủ thời gian, tình yêu, sự kiên nhẫn,… để có thể thấu hiểu và cảm thông với những diễn biến tâm lý phức tạp và những thay đổi về thể lý trong từng giai đoạn phát triển của chúng
    ·         Không hiểu con và áp đặt chúng theo những tiêu chuẩn mình mong muốn, cha mẹ gây ra những phát triển không lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần của con cái
    ·         Không hiểu con, cha mẹ dễ dàng đẩy chúng ra khỏi vòng tay yêu thương và sự bảo vệ cần thiết của mình
    ·         Không hiểu con, căng thẳng và xung đột giữa 2 phía ngày càng leo thang
    Tóm lại, giáo dục trong gia đình là bước đầu tiên và quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách con người. Để giáo dục trong gia đình đạt hiệu quả, đòi hỏi các bậc làm cha mẹ một sự huy sinh lớn lao, không vụ lợi, không cần được con cái đáp đền. Tám nguyên tắc cơ bàn giáo dục trên cần sử dụng đan xen nhau. Nó là chiếc chìa khóa mở cánh cửa hạnh phúc của con cái, nền tảng hạnh phúc của xã hội.

                                                                                                      

    Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Hồng 


    Thuyết trình tại Trung tâm mục vụ Saigon
    (Nguồn : niemvuimoi.org)