Thứ Tư, 6 tháng 5, 2015

CÂY VÀ CÀNH


Mãi mới thấy một cánh hoa kèn nở trong bệ cây! Dễ phải đến cả năm nay nó mới tái xuất hiện như thế, dù chỉ tồn tại chỉ hơn kém một ngày. Trước đó, củ của cây bị băm muốn nát ra! Nhưng nó không chết vì chiếc bay băm nó không thể hất nó ra khỏi ô đất chật chội. Hóa ra, vì nó nhất định “sống” bằng cách cố hết sức bình sinh, hút dưỡng chất cho dù có phần èo uột trong ô đất ấy, nên chẳng những nó cứ sống mà còn chứng minh rằng, vì có nguồn nuôi dưỡng, nó thừa sức biến ô đất vớ vẩn ấy thành một hình ảnh vừa đẹp vừa rất đơn sơ…
Thế nhưng Đức Ki tô không dưỡng nuôi con cái Ngài với nguồn sữa kém chất lượng như thế. Cây Nho Giê su đã trút Tình Yêu của mình, Máu Thịt của mình vào mọi nhánh cây lớn bé, với ước muốn vô cùng là cành lá của Ngài sẽ xum xuê, đầy sức sống. Cây Nho ấy chẳng bao giờ cạn kiệt nguồn sữa vì được trồng bởi chính Chúa Cha, Đấng tác tạo muôn loài! Chắc rằng, những cành cây dù có ốm yếu tới đâu, nhưng nếu có thể cố trổ trên nhành chính mình một vài bông hoa dẫu trái mùa, thì lẽ nào Cây Nho Nhân Ái ấy lại dứt sữa con mình! Lẽ nào người ta lại một lần nữa băm nát củ cây hoa kèn kia, khi nó vẫn bám vào nguồn nuôi dưỡng và trả ơn bằng cánh hoa tuy mong manh mà đáng quý.
Thật không chỉ là hợp lý mà còn hợp tình khi đón nhận nguồn ơn dồi dào từ chính Đức Ki tô, rồi lan tỏa theo ý Ngài, rằng phải ra đi loan báo Tin Vui khắp nơi và cho muôn thế hệ, như cành kia tỏa lan bóng mát làm dịu cái nóng nực trần gian, làm nơi trú ẩn cho cô kiến, nàng sâu, làm nơi vui chơi cho anh ong, chị bướm. Và với Thân Giê su, những cành cây bé bỏng luôn là bức tranh tươi tắn trong mắt muôn loài.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn kết hiệp với Con Chí Ái của Ngài qua Mình Máu Dưỡng Nuôi, mà yên lòng đi về nơi Ngài ngự.

                                                                                     LAM TRẦN                                                                                                        30.04.2015


Thứ Ba, 5 tháng 5, 2015

CÂY NHO THẬT - THƠ THẾ KIÊN




TMCNB Phục Sinh 5
                  
             CÂY NHO THẬT
      (Cảm nhận và suy niệm từ Ga 15, 1-8)

Chúa đã phán: Thầy là cây nho thật.
Và Cha Thầy chính là người trồng nho
Nếu nhánh nào trong Thầy cứ trơ trơ
Không sinh trái ,sớm muộn, sẽ bị chặt.
Nếu có trái, Người sẽ chăm tỉa sạch
Nhánh trổ thêm nhiều trái đủ sum suê.
Hãy nhớ rằng: nhánh không thể xa lìa
Cây Hằng Sống,quyền uy,đầy sinh lực…
Nếu các con ở trong Thầy liên tục
Và lới Thầy mãi ở trong các con
Hãy cứ xin ơn phầnxác, phần hồn
Sinh hoa trái dâng lên toà Thiên Chúa.
                  ***
Sự hiệp nhất, hiệp thông trong Giáo Hội
Tín hữu ta nguyện vững chí bền lòng
Sống Tin Mừng- Lời Chúa niềm cậy trông

Nguồn ơn phúc không bao giờ cạn kiệt…

Th.K. Dominic     

                          


              

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

THÁNG NĂM - THÁNG HOA


Tập quán phổ thông trong thế giới Công giáo dâng tháng Năm cho Mẹ Đồng Trinh bắt nguồn từ một tục lệ xa xưa của người ngoại giáo. Tục lệ đó được sửa đổi và Công giáo hóa do lòng nhiệt thành của giáo dân. Từ xưa, người Roma có lệ tổ chức những buổi hội rước linh đình gọi là Floraia khi tháng Năm bắt đầu, để kính nữ thần Flore, mà họ xưng là "Nữ hoàng Mùa Xuân". Để chống lại sự lạm dụng những ngày huy hoàng, muôn hoa đua nở, mà dân Roma dâng kính nữ thần đó, nhiều nhân vật đạo đức Công giáo tìm cách mặc cho nó một mầu sắc Công giáo. Ở Evreux, người ta tổ chức những cuộc rước long trọng gọi là cuộc rước xanh: dâng chúng từng đoàn lũ nô nức đi chặt cành cây xanh đầy hoa để trần thiết đền thờ, nhất là những đền dâng kính Mẹ Chúa Cứu Thế.
Dần dần, những cuộc lễ Floralia mất hết vẻ sùng thượng để nhường chỗ cho những cuộc rước xanh tưng bừng biểu lộ lòng yêu mến Mẹ Đồng Trinh Maria. Vua Alphongsô X đệ Castille, băng hà năm 1284, dâng kính Mẹ một "Khúc hát tháng Năm". Á thánh Henri Suso trang hoàng tượng Đức Mẹ bằng muôn hoa khi tháng Năm về. Đáng chú ý nhất là Thánh Philippê đệ Nêri. Ngài đã rất sung sướng hội các trẻ em lại chung quanh bàn thờ Mẹ để dâng tâm hồn trong sạch cùng với những đóa hoa Xuân mơn mởn cho Mẹ. Theo một vài ý kiến, thì chính Đức Mẹ đã hiện ra truyền cho Thánh nhân lập ra tháng Hoa dâng kính Mẹ.
Từ thế kỷ XVI trở đi, các Cha Dòng Tên đã nhiệt liệt cổ võ mừng tháng này trong các học đường các ngài chỉ huy. Ở Paris, giáo hữu theo gương đó đã có thói quen mừng một lễ trọng kính Mẹ ngày mồng Một tháng Năm. Lòng sùng kính Mẹ trong tháng Hoa bắt đầu phổ thông và có nền tảng từ đó. Năm 1654, xuất hiện một cuốn sách nhỏ của Cha Nadasi, Dòng Tên, hô hào dâng cả tháng năm cho Mẹ. Rồi từ đó, các Cha Dòng Tên thi nhau sáng tác các tác phẩm về tháng Đức Mẹ. Trong số đó, Cha Lalomia xuất bản một cuốn nhan đề là: "Tháng Đức Mẹ dâng tiến những vinh quang Mẹ cao sang Thiên Chúa." Cha Calvi đã dạy các học sinh nhỏ của ngài cách dâng tháng Năm mừng Mẹ và phát cho mỗi em một cuốn sách nhỏ về vấn đề này.
Năm 1724, Cha Jacolet xuấn bản ở Dilligen, nước Đức, một cuốn tháng Đức Mẹ bằng tiếng La tinh. Cùng năm đó ở Sicile, Cha Dionisi xuất bản một cuốn khác bằng tiếng Ý. Nhưng người có công lớn nhất là Cha Lalomia, vì ngài đã đem những bài suy ngắm có tính cách thực hành và đạo đức hằng ngày vào sách của Ngài. Giáo dân hoan nghênh sáng kiến đó. Thế nên, từ Ý, tác phẩm của Ngài đã lan sang Pháp, Đức, rồi Bỉ. Đến đâu cuốn sách cũng được hoan hô nhiệt liệt, và lòng sùng kính Đức Mẹ trong tháng Năm đã dâng lên ào ạt.
Dòng Thánh Phanxicô cũng rất sốt sắng mừng tháng Hoa này. Năm 1682, một tu sĩ Dòng đã thu thập được ba mươi bài thơ dâng kính Mẹ. Ở Naples, tháng Hoa được tổ chức công khai trong nhà thờ Dòng Thánh Phanxicô. Sáng hát lễ trọng thể và chiều có hát những ca vãn rất sốt sắng dâng Mẹ kèm theo với Phép Lành Thánh Thể.
Năm 1815, Toà Thánh ra sắc ban nhiều ân xá cho những giáo hữu sốt sắng làm việc kính Đức Mẹ trong tháng Hoa. Đời Đức Thánh Cha Pio IX (1846-1878), tháng Hoa đã được Ngài khuyến khích và ban phép mừng long trọng ở Nhà Thờ Thánh Phêrô tại La mã.
Ngày nay, tháng Hoa đã phổ cập khắp nơi trong Giáo Hội và là một hình thức tôn sùng được giáo dân yêu mến rất nhiều vì tính cách đầy tứ thơ của nó.

(nguồn http://www.thanhlinh.net)




Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

THƯ MỜI - TRƯỜNG GIOAN XXIII



 THƯ MỜI
NHÂN DỊP KỶ NIỆM 51 NĂM THÀNH LẬP 
TRƯỜNG GIOAN XXIII
(1964-2015)

Trân trọng kính mời  :
Tòan thể các ACE cựu học sinh :

TRƯỜNG TRUNG TIỂU HỌC TƯ THỤC GIOAN XXIII  
                   AN HÒA , ĐÀ NẴNG .

về tham dự Thánh Lễ Tạ Ơn kỷ niệm 51 năm thành lập trường (1964-2014), cầu bình an cho Thầy Cô, học sinh Gioan XXIII và tưởng nhớ đến các Thầy Cô các ACE học sinh đã qua đời .
           
            * vào 08 giờ sáng ngày  thứ bảy 09-05-2015  
            * Địa điểm tại  : Hội trường Nhà Thờ Chánh Tòa Giáo Phận Xuân Lộc 
                                    số 144 đường Hùng Vương , Thị xã Long Khánh , Tỉnh Đồng Nai .

Rất mong sự hiện diện của các A/C  , để ký ức về thầy cô, về tuổi học trò, về tình bạn dưới mái trường Gioan XXIII vẫn mãi tươi nguyên  trong tâm hồn mỗi người chúng ta .
                                                                                                       
                                                                                                  
                                                                                                          Đồng Nai, ngày 15/04/năm 2015                                                                                      TM Ban Tổ Chức 



                                           
                           




THÁNH GIUSE- GƯƠNG MẪU GIỚI CẦN LAO


GIUSE 234

Đời sống của con người gắn liền với những hoạt động lao động và sản xuất. Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và sống nghĩa thiết trong ân phúc với Ngài, nhưng con người đã mau chóng đánh mất cuộc sống hạnh phúc đó, đã sa ngã phạm tội. Từ đó, lời của Thiên Chúa trên con người“ngươi phải vất vả làm lụng để kiếm sống hằng ngày” đã trở nên một luận phạt của Thiên Chúa cho con ngừời. Con người phải lao động để tạo ra những giá trị vật chất nuôi sống mình. Người ta có thể làm việc chân tay và có người dùng tới trí óc.
Dẫu vậy, trong công cuộc lao động của mình, con người lại được cộng tác với chính Thiên Chúa để cải hoá và biến đổi thế giới này. Con người là hình ảnh của Chúa, sáng tạo và tiếp tục công việc sáng tạo của Thiên Chúa, nhờ sức lao động của mình. Do đó, lao động không trở nên một điều gì thấp kém hèn hạ mà con người phải thực hiện cho cuộc sống của mình, nhưng lao động mang giá trị cao quý, đến nỗi, có khi người ta còn dùng lao động để đánh giá về một con người.
Công đồng Vaticano II đã dạy: Khi làm lụng để sinh sống và nuôi gia đình, hướng công việc của mình nhằm phục vụ xã hôi tốt. Để thấy việc lao động của mình là sự kéo dài công trình của đấng Sáng tạo, là một sự giúp đỡ anh em, là một đóng góp của cá nhân họ vào việc thực hiện kế hoạch của Thiên Chúa quan phòng trong lịch sử .(trích)
Ngày hôm nay, cùng với toàn thể Giáo hội Công Giáo, chúng ta hân hoan mừng kính Thánh cả Giuse, người thợ mộc đáng kính của thành Nazareth. Ngài là mẫu mực cho chúng ta về đời sống nhân đức, về đời sống âm thầm vâng theo thánh ý Thiên Chúa, và về đời sống lao động thường nhật. Chính trong khung cảnh bình dị của gia đình nơi làng quê đơn sơ ấy, Thánh Giuse với công việc của mình đã trở nên mẫu gương cho giới cần lao qua mọi thời đại.
Ở Châu Âu, vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ thứ XX, giới thợ thuyền đã đứng lên tranh đấu để nâng cao phẩm giá và nâng cao đời sống của họ. Nhiều phong trào đấu tranh đã nổi dậy đòi giới chủ ông phải tăng lương và xem xét lại giờ giấc, điều kiện lao động. Giáo Hội đã lắng nghe tiếng nói, tiếng cầu cứu của họ. Đức Thánh Cha Lêô XIII và Piô XI đã mở ra những chân trời mới trong giới lao động. Đức Giáo Hoàng Piô XII đã chọn Thánh Giuse Công Nhân làm bổn mạng của giới cần lao. Ngày 01 tháng 5 hàng năm đã trở nên ngày Quốc tế lao động trên toàn thế giới.
Thánh Giuse sinh tại Nagiarét, một thôn làng nhỏ bé và nghèo nàn thuộc đất nước Do Thái. Ngài thuộc hoàng tộc vua Đavít, nhưng thánh Giuse sống cuộc đời nghèo khó thanh bạch, với nghề thợ mộc để lao động nuôi sống gia đình. Thiên Chúa chọn thánh Giuse làm cha nuôi chúa Giêsu và là bạn Đức Trinh nữ Maria. Thiên Chúa đã không chọn một người cao sang giàu có, nhưng chọn một ngừời thợ mộc bình thường, thậm chí tầm thường đối với xã hội đương thời, để cộng tác vào chương trình Cứu độ.
Trong mọi biến cố, trong mọi sự chông gai khó khăn, thánh Giuse luôn can đảm, phó thác và sống hoàn toàn công chính, tin cậy tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Giáo Hội ca ngợi thánh Giuse bằng những lời Thánh vịnh thật ý nghĩa: “Người công chính tươi tốt như cây dừa, lớn lên như cây hương nam núi Libăng trồng nơi nhà Chúa trong đền thánh Người” (Tv 92, 13-14) và long trọng giới thiệu “Đây là người quản gia trung tín và khôn ngoan. Chúa đã đặt lên coi sóc gia đình Chúa” (Lc 12, 42). 
Thánh Giuse quả thực trở thành gương mẫu cho mọi người về mọi nhân đức.

Là người đứng đầu trong gia đình, thánh Giuse đã cần cù lao động, sống âm thầm thinh lặng và chuyên chăm làm việc. Qua đó, thánh nhân đã đưa lại cho lao động một ý nghĩa cao sâu linh thánh. Với nghề thợ mộc, một nghề không có gì là vinh dự lắm trong xã hội Do Thái, thánh Giuse vẫn kiên trì tận tuỵ. Ngài làm việc với tất cả ý thức trách nhiệm và lương tâm ngay thẳng của mình. Giuse đã sống đời lao động theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
Thánh Giuse đã sống đời lao động theo kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Qua việc làm, qua nghề thợ mộc, thánh cả Giuse đã âm thầm chiêm ngắm mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa, Đấng đang sống nhờ nghề thợ mộc của Ngài. Nơi gia đình Nazareth, thánh Giuse đã phục vụ hết mình. Chính những giọt mồ hôi, sự mệt nhọc và lòng hy sinh, quảng đại cố gắng của thánh Giuse đã mặc cho lao động một ý nghĩa tốt đẹp.
Thánh Giuse luôn coi trọng sự cần mẫn lao động, đơn sơ phục vụ trong những công việc gia đình hết sức tầm thường nhưng là những công việc quen thuộc của đời thường, là những lao công của cuộc đời con người. Thánh Giuse đã thinh lặng để phục vụ, để làm việc. Sự thinh lặng nội tâm của Ngài luôn có một ý nghĩa quan trọng. Thánh Giuse đã luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm. Ngài làm việc với tất cả đức tin và với lòng yêu mến. Chính cái chiều nội tâm này nâng cao giá trị sự lao động, có một chiều dầy, một sức nặng thiêng liêng.
Viết về thánh Giuse, chúng ta thật cảm phục về con người khiêm tốn sống trong im lặng trầm lắng. Nhưng giờ đây trên thiên quốc, thánh Giuse lại là một Người đầy quyền thế trước mặt Chúa Giêsu đến nỗi thánh Têrêsa Avila đã cảm nghiệm sâu sa rằng: “Trên trời thánh Giuse truyền lệnh hơn là van xin”.
Việc lao động của con người nằm trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Lao động là góp tay làm vinh quang cho Thiên Chúa qua sự sáng tạo vũ trụ, con người và làm việc là để ơn cứu rỗi được chan hòa nơi thế giới này. Lao động sẽ không còn là đơn điệu, lập đi lập lại hàng ngày những công việc, những cách làm một cách máy móc, cho có lệ, qua loa để mau hết giờ để kiếm nhiều lợi ích, tiền của cho cá nhân, cho bản thân của mình, nhưng lao động theo mẫu của thánh Giuse là làm cho lao động mang một ý nghĩa cứu độ và phục vụ, lao động theo lời mời gọi của Thiên Chúa.
Trong ngày Quốc Tế lao động, ta hãy cầu nguyện và noi gương bắt chước thánh Giuse để biết sống và lao động theo đúng ý nghĩa cao đẹp của nó. Đời sống gương mẫu của Thánh Giuse là lời kêu gọi khẩn thiết cho ta tất cả, là bổn phận đã được dự phòng từ trước tin tưởng trao cho ta chu toàn trong nếp sống trung thành, đơn giản chân thành và khiêm nhường.
Mừng lễ thánh Giuse thợ, ta hãy nhớ lời của Đức Thánh ChaPiô XII nhắn nhủ, trong bài diễn văn đọc vào ngày lễ thánh Giuse thợ đầu tiên: “Nếu các con muốn được gần Chúa Kitô, Cha nhắc nhớ các con hôm nay : Ite ad Joseph – Hãy đến với Giuse” (St 41,55)
Nguyện xin Thánh Giuse phù trợ tất cả những người lao động trên toàn thế giới, qua những công việc làm khác nhau góp phần xây dựng sự phát triển cho toàn thể nhân loại.
                                            
                                                             (Nguồn: tranngochuan.wordpress.com)

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

TRONG XƯỞNG MỘC CỦA THÁNH GIUSE



                                                                                                         § Lm. Nguyễn ngọc Long
Có lẽ không vị Thánh nào trong Giáo hội được biết đến, được cầu khẩn nhiều như Thánh cả Giuse. Vì ngài là cha nuôi dưỡng Chúa Giêsu ngày xưa trên trần gian, và trên trời bây giờ cũng gần bên cạnh Thiên Chúa nữa.
Và người tín hữu Công giáo thường kêu cầu: Giêsu, Maria, Giuse, xin cứu giúp con! Trong khi vui cũng như khi buồn sầu, đau khổ.
Thánh cả Giuse được Giáo hội Công giáo hoàn vũ nhận là vị Thánh quan thầy bầu cử cho Hội Thánh trên trần gian. Chưa kể nhiều Giáo hội địa phương, nhiều xứ đạo, nhiều hội đoàn, nhiều người nhận ngài là đấng quan thầy bảo trợ riêng nữa.
Ngài là vị thánh được biết đến nhiều. Nhưng lại là người có đời sống âm thầm. Ngay trong Phúc âm khi nói về gia đình Chúa Giêsu cũng chỉ nhắc đến tên Giuse vài lần, với những hoàn cảnh nhiệm vụ khó khăn cùng âm thầm chịu đựng phải thi hành thôi.
Bốn Phúc âm ghi lại những lời Chúa Giêsu rao giảng nước Thiên Chúa, những lời của Đức Mẹ nói chuyện với Thiên Thần, với Chúa Giêsu. Nhưng không có một lời nào của Thánh Giuse với ai cả.
Một vị Thánh âm thầm. Nhưng lại là người có nhiều ảnh hưởng tới đời sống, vâng có lẽ cả trong lãnh vực văn hóa tinh thần của Chúa Giêsu, là con Thiên Chúa ở trần gian.
1. An cư lạc nghiệp
Kinh thánh nói đến Chúa Giêsu là con bác Thợ mộc ( Mt 13,55). Như thế Thánh Giuse làm nghề thợ mộc đóng, sửa giường tủ bàn ghế kiếm tiền nuôi sống gia đình. Chúa Giêsu 30 năm sinh sống ở nhà với cha mẹ trong làng Nadaréth, khi khôn lớn, có thể theo tập tục cách sinh sống ngày xưa, cũng học làm nghề thợ mộc với thánh Giuse. Trong khi học nghề, làm nghề chắc chắn hai người đâu có im lặng mãi. Họ cũng có lúc phải nói chuyện với nhau trong bầu khí cha con, trong bầu khí chỉ vẽ cách làm nghề nghiệp, trong bầu khí hỏi han giải đáp thắc mắc, hay trong bầu khí cùng nhau tìm ra cách thức làm việc sao cho có kết qủa tốt đẹp.
Chuyện nghề nghiệp, chuyện giao tế, chuyện vui buồn trong cuộc sống, trong xã hội, trong đạo giáo chắc chắn là những thông tin họ trao đổi với nhau thường xuyên.
Xưởng mộc của gia đình Giuse không còn chỉ là nơi làm việc kiếm kế sinh nhai. Nhưng còn là một tổ ấm, một trường học về đời sống giữa hai cha con nữa.
2. Lúc học nghề mộc
Lúc còn trẻ mới bắt đầu làm việc với thánh Giuse trong xưởng mộc, chắc chắn Chúa Giêsu đã phải học cách cưa bào gỗ, đục mộng bàn tủ, học cách đánh sơn vẹcni. Học cách đo, cách trừ khấu bào đục đẽo để sao cho mặt bằng phẳng không còn đường lằn trũng lồi, gồ ghề, cùng góc cạnh bằng nhẵn ăn khớp khít với nhau.
Cách thức làm ăn và hình ảnh ngôn ngữ này đã ăn sâu thấm nhập vào tâm khảm của Chúa Giêsu. Nên khi đi rao giảng nước Thiên Chúa, Ngài đã dùng nhiều hình ảnh tương tự, như cái rác nhỏ lợn cợn trong mắt người khác dễ nhận ra hơn cái xà nơi con mắt của chính mình.
Những hình ảnh, ngôn ngữ dễ hiểu cùng uyển chuyển tương tự như vậy, Chúa Giêsu đã dùng nhiều nhan nhản trong các bài giảng dậy của Ngài.
Phải chăng những ngôn ngữ hình ảnh đó, Ngài đã học được nơi Thánh Giuse với nghề thợ mộc cưa đục bào bàn ghế?
3. Câu chuyện về đời sống xã hội
Đọc trong Phúc âm không thấy chi tiết nào nói về thái độ của Thánh Giuse với đời sống chính trị thời đó. Nói rõ hơn gia đình Thánh Giuse là nạn nhân của chính trị lúc đó nhiều hơn: phải về quê quán cũ khai lại tên tuổi nguồn gốc của mình, phải chạy trốn đi tị nạn sang xứ Aicập, sống tha hương bên đó và sau cùng trở về làng quê Nadaréth làm ăn sinh sống.
Có lẽ Thánh Giuse, tuy không có thiện cảm với ách thống trị của đế quốc Roma, như những người đồng hương Do Thái lúc bấy giờ. Nhưng qua kinh nghiệm đau thương sợ hãi, đen tối phải đi trốn sang Aicập, vì bị vua bản xứ Do Thái Herode tìm lùng bắt, Ông cũng phần nào cho quân Roma lúc đó có điểm an tòan bảo đảm hơn!
Và có lẽ thánh Giuse trong xưởng thợ cũng đã có lần trao đổi với Chúa Giêsu về điểm này rồi. Nên sau này khi đi rao giảng về nước Thiên Chúa, Ngài đã nói về thái độ với chính trị: “Hãy trả vua Cesar, những gì thuộc về Cesar..”
4. Cách sống đức tin
Hội Đường - Synagogue” trong làng và đền thờ Giêrusalem là trung tâm nơi thờ phượng kính thờ Thiên Chúa. Hằng tuần, lúc còn nhỏ, Chúa Giêsu đã theo Thánh Giuse đến Hội Đường Synagogue dâng lễ cầu nguyện, nghe đọc Kinh Thánh. Nên khi đi rao giảng nước Thiên Chúa, Ngài đã vào Hội Đường ngày Sabbath, lên bục giảng đọc Lời Chúa và còn cắt nghĩa Lời Chúa nữa. Điều này khiến mọi người kinh ngạc về Ngài.
Cũng khi còn tuổi thanh thiếu niên, gia đình Giuse hằng năm vào dịp lễ Vượt Qua đều tham dự cuộc hành hương lên đền Thánh Chúa. Vào những dịp này Chúa Giêsu đã làm quen với lễ hội hành hương, với không khí cầu nguyện trong đền thánh Đức Chúa Trời, đã nghe và cũng đã nói chuyện với các Thầy cả Tư Tế trong ngoài đền Thờ, đã nhìn thấy cảnh mua bán chung quanh và cả trong đền thờ nữa…
Và trong khi làm việc ở xưởng mộc, chắc chắn cha con cũng đã trao đổi với nhau cảm nghĩ tốt cũng như không tốt của mình về những gì xảy ra nơi đền thờ Giêsusalem rồi. Nên sau này khi đi rao giảng Nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã không ngần ngại nói nặng lời với đám thầy cả, với đám người Luật sĩ, và giận dữ xua đuổi con buôn bán ra khỏi đền Thờ.
Ngài hành động như thế nhân danh cha mình là Thiên Chúa và cũng có thể nhân danh cả cha nuôi mình là Thánh Giuse nữa.
5. Tìm hiểu về lịch sử đất nước dân tộc
Trong việc nuôi dưỡng dậy dỗ giáo dục con cái, chắc chắn Thánh Giuse đã kể nhiều cho Chúa Giêsu nghe về lịch đất nước dân tộc Do Thái như thế nào, theo như sử sách Kinh Thánh cựu ước còn ghi chép để lại trong sách Sáng Thế ký, sách Xuất Hành, sách Dân Số, sách Đệ nhị luật,sách Thánh Vịnh, sách các Tiên Tri…

Có lẽ Thánh Giuse, cũng như bao người cha khác thời đó, nhấn mạnh nhiều đến lịch sử thời dân Do Thái sống cảnh nô lệ bên Aicập, rồi cuộc trở về quê hương đất hứa do Maisen cùng Giosua theo ý muốn của Thiên Chúa lãnh đạo để cứu dân Do Thái. Thánh cả đã dùng tên Giêsu của con mình cắt nghĩa để làm sáng tỏ hành động của Thiên Chúa: Thiên Chúa cứu độ!
Lịch sử ngày xưa còn ghi lại, ông Giuse con của Tổ phụ Giacóp đã cứu dân Do Thái khỏi bị chết đói thế nào đã ghi sâu đậm trong tâm trí Chúa Giêsu. Và bây giờ chính Ngài cũng đang được Thánh Giuse, cha nuôi Ngài săn sóc cho ăn mặc no đủ không bị đói khát thiếu thốn.
6. Đời sống làm việc cùng cầu nguyện


Hãng xưởng nào cũng cần có người đặt làm mua hàng. Hãng xưởng nào cũng có thời kỳ lên xuống. Xưởng mộc của Thánh Giuse, có lẽ cũng có thời kỳ ế ẩm ít hay không có người đặt mua làm hàng. Những lúc như thế nền kinh tế trong gia đình lâm vào tình trạng lung túng, phai lo nghĩ nhiều.
Và những lúc lâm vào hoàn cảnh như thế, niềm tin tôn giáo giúp nâng đỡ tinh thần con người rất nhiều. Những lúc gặp khó khăn lúng túng, lại là lúc thúc bách hay dậy con người biết cầu nguyện đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa nhiều hơn: Chúa là mục tử. Ngài lo chăn dắt đời con!
Lời cầu nguyện này không phải chỉ là lời cầu nguyện của hàng tư tế linh mục trong đền thờ. Nhưng cho toàn dân Thiên Chúa ở khắp mọi nơi. Khi còn thơ bé, cũng như bao trẻ em khác xưa nay, Chúa Giêsu cũng đã học đọc kinh cầu nguyện ngay từ lúc còn ngồi trong lòng mẹ Maria, rồi trên tay bồng ẵm của Thánh Giuse. Và trong xưởng mộc, có lẽ hai cha con cũng đã cùng nhau cầu nguyện thường xuyên, nhất là những lúc gặp hoàn cảnh khó khăn.
Vì thế, cách sống cầu nguyện đã ăn sâu vào đời sống của Chúa Giêsu. Trong vườn cây Dầu trước lúc bị bắt, Ngài đã cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Và trên thánh giá lúc hấp hối Chúa Giêsu đã cầu khẩn cùng Thiên Chúa: Lạy Chúa, lạy Chúa, sao Chúa đành bỏ rơi con?
7. Câu chuyện nhận xét về hoàn cảnh đời sống
Đã có những cuộc khảo nghiệm điều tra về đời sống xã hội đất nước Do Thái thời thánh Giuse và Chúa Giêsu.
Cuộc điều tra khảo nghiệm đưa ra kết qủa: Một phần tư tới một nửa tài nguyên, hàng hóa nằm trong tay triều đình vua chúa. Rồi đến các quan chức, các thương gia giầu có và binh sĩ chia phần. Phần còn lại không đầy 10% thuộc về đại đa số dân chúng trong nước.
Như thế, những người dân lao động, những người buôn bán nhỏ lẻ tẻ thuộc vào hàng ngũ thành phần bên dưới của nấc thang xã hội, trong đó có gia đình Thánh Giuse.
Đã xem thấy tận mắt, đã nghe biết về thực trạng đó qua những cuộc nói chuyện trao đổi với Thánh Giuse trong xưởng mộc, cùng sống trải qua trong chính gia đình mình. Nên sau này Chúa Giêsu trong bài giảng tám mối Phúc Thật trên núi đã hướng về người nghèo, người bé nhỏ không có quyền hành của cải, người sống “tay làm hàm nhai”, trong đó có gia đình thánh Giuse.
Những hình ảnh, những thực trạng đó nổi bật rõ nét: người kiến tạo hòa bình, người có lòng nhân từ thương xót, người đói khát sự công chính của Thiên Chúa, người không ức hiếp người khác là những người công chính được Thiên Chúa chúc phúc.
Kinh Thánh nói về Giuse, người cha nuôi của Chúa Giêsu: “Ông Giuse, là người công chính” (Mt 1,19).
Và Chúa Giêsu khi rao giảng nước Thiên Chúa đã luôn luôn nhắn nhủ, kéo con người sống sao trở nên người công chính.
Thánh Giuse, một người công chính sống âm thầm, nhưng lại gây nhiều ảnh hưởng đạo đức tốt lành trong đời sống đức tin hôm qua, hôm nay cùng ngày mai.


(Nguồn : tinmung.net)



Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

KHÁM PHÁ THÚ VỊ VỀ NGHỀ NGHIỆP XƯA Ở VN QUA ẢNH

Hầu hết những bức ảnh này được chụp vào cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Hầu như chúng không còn bản quyền, không rõ ai là tác giả. Những thước ảnh quý giá này đang được lưu truyền rất nhiều trên mạng xã hội, giúp cho giới trẻ Việt Nam hiểu rõ hơn về nghề nghiệp ngày xưa của ông cha.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 1
Một quán bán đồ ăn dạo. 
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 2
Những sạp đồ gốm ở ven đường tại Hà Nội xưa. Gốm được bày bán chủ yếu là bình, chậu hoa, chum, chĩnh,...
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 3
Gánh trầu cau bán dạo. 
Ăn trầu là một tục lâu đời của người Việt, có từ thời Hùng Vương. Hình ảnh phụ nữ Việt với bộ răng đen nhánh đã gắn liền với lịch sử của dân tộc. Nhai trầu vừa giúp thơm miệng, vừa là một biện pháp để bảo vệ răng của người xưa.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 4
Lấy ráy tai dạo tại Hà Nội. Chỉ cần một que sắt và một chiếc ghế đẩu, người đàn ông này đã có thể hành nghề.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 5
Hớt tóc dạo ở Sài Gòn xưa.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 6
Thợ mộc đang xẻ gỗ ở một xưởng mộc.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 7
Một thiếu phụ bên khung dệt.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 8
Một người làm nghề thu tiền với cuốn sổ ghi chép trên tay.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 9
Ảnh chụp những người thợ trong một xưởng làm giấy. Thời xưa, giấy được làm từ vỏ cây, ngâm, giã, ép,... qua nhiều công đoạn.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 10
Người thợ săn tại Nam Kỳ xưa với vũ khí tự chế.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 11
Một gánh phở rong. Người bán hàng gánh cả bếp lò, nồi nước sôi đi khắp nơi.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 12
Một họa sĩ ở làng tranh dân gian Hàng Trống.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 13
Xưởng thợ rèn làm từ căn nhà tranh.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 14
Dàn nhạc biểu diễn ở Nam Kỳ...
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 15
... và ở Hà Nội xưa.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 16
Ảnh chụp một đoàn xe chở thư từ Sài Gòn về Cần Thơ.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 17
Một xe đưa thư chuyến từ Sài Gòn về Tây Ninh.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 18
Trái với hình ảnh hiện đại bên trên, một đoàn vận chuyển thư và bưu chính bằng chân.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 19
Họ nghỉ đêm trong rừng ở một chỗ trú chân giản đơn.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 20
Một phụ nữ hành nghề thầy bói ở chợ.  Bức ảnh được chụp vào năm 1921. Ngày xưa, có rất nhiều người mù hành nghề thầy bói, họ thường đeo kính đen hoặc dùng mạng che mặt.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 21
Một cửa hàng ở phố Hàng Thiếc, Hà Nội.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 22
Cửa hàng bán đồ đồng thau ở Bắc Kỳ xưa, với đủ loại vật dụng: lư hương, mâm, nồi, chảo, ấm,...

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 23
Nghề đan nón rơm.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 24
Thợ khảm tại Bắc Kỳ ngày xưa.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 25
Thợ làm mành.
Ngày xưa, mành được sử dụng để ngăn nắng mưa, gió bụi, chống côn trùng. Mành thường được làm từ tre, trúc, cỏ lau,...
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 26
Một cửa hiệu sửa và bán giầy dép làm thủ công.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 27
Lớp dạy nghề khảm ở trường dạy nghề Hà Nội xưa.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 28
Một người đàn ông đan phên trên phố Hàng Mành. Phên được đan từ tre, nứa, thường được dùng để ngăn phòng, hoặc che cửa,...

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 29
Một cụ già làm nghề in tranh. 
Ở các làng tranh dân gian, người ta dùng các bản in có sẵn để tạo nên các bức tranh. Thợ in phải in từng loại màu, phơi khô rồi mới tiếp tục in màu khác. Khi in phải ấn bản in đều tay, để màu đều, không bị loang làm mờ đường nét.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 30
Một nhà làm lọng. Nghề làm lọng của nước ta bắt đầu từ thời nhà Lê. Lọng là dụng cụ thường dùng cho các quan lại và vua chúa hoặc được sử dụng trong đình, chùa,...

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 31
Ảnh được chụp ở một xưởng thuộc da. Những người thợ đang làm công đoạn phơi da.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 32
Một cửa hàng bán cân tiểu ly. Ngày xưa, người ta thường dùng loại cân tiểu ly đơn giản, được làm thủ công. Một đầu là đĩa cân, một đầu là cán khắc vạch nhỏ với quả cân. Loại cân này khó đọc và cho sai số khá cao.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 33
Diễn viên Hồ Quảng trong đoàn ca kịch của người Hoa tại Sài Gòn. Thời xưa, ca kịch thường được diễn ở các sân khấu đất lưu động.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 34
Nghề làm bánh đa.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 35
Nghề phơi tằm. Tằm được nuôi để nhả tơ, dùng dệt vải may quần áo.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 36
Hai người phụ nữ đang phơi gạch.

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 37
Phu kéo xe. 
Ngày xưa, ở Đông Dương, những chiếc xe kéo có mặt tại Hà Nội vào năm 1883 do được đem từ Nhật qua. Sau đó gần 15 năm, xe kéo mới có mặt tại Sài Gòn.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 38
Một quán nước nhỏ tại Hà Nội,

Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 39
Thợ vẽ và thợ thêu ở Bắc Kỳ xưa.
Khám phá thú vị về nghề nghiệp xưa ở Việt Nam qua ảnh 40
Xưởng làm đồ bạc hiệu Tiến Bảo tại phố Hàng Bạc. Ngày xưa, đồ trang sức được làm thủ công, rất tỉ mỉ, tinh xảo.
Theo Mia (TH) / Trí Thức Trẻ