Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

MỘT VÀI TẤM GƯƠNG ANH DŨNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


- Thánh Linh mục Du bị trói vào một cây cọc. Có 3 lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một người lo đếm cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng ngài và cột chặt, để không có thể kêu la hay bỏ chạy được. Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán Cha Du lệt xuống che mắt, rồi cắt từng mảng hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn Cha Du giãy giụa quàn quại, ngước mắt lên trời cao, rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa trần. Tiếp theo quân lính cắt đầu của vị tử đạo, bổ thân mình làm 4 và ném xuống biển. Còn thủ cấp Cha được đem đi bêu tại nhiều nơi, rồi đưa trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.
- Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.
- Hai Cha Điểm và Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.
Sáng ngày 5-6-1862, trước sự chứng kiến của rất đông người, hai giáo dân: Thánh Toại và Thánh Huyên bước vào cũi tre để bị thiêu sống. Những người hiện diện đều xúc động khi nghe rõ các ông cất tiếng nguyện cầu thật lớn, trong khi ngọn lửa hồng phừng phực bốc cao, thiêu đốt hai ông.
- Sau ba tháng tù tại Bình Định ông An-rê Nguyễn Kim Thông nhận được án phát lưu vào Vĩnh Long. Đường từ Bình Định vào Nam xa xôi, ông Thông cùng với bốn chứng nhân khác. Vì tuổi già sức yếu, lại phải mang gông siềng, ông bước đi một cách rất khó khăn, mệt nhọc. Mỗi ngày chỉ đi được bảy tám dặm, dưới ánh nắng gay gắt. Tối đến, đoàn tù nhân được tạm giam trong các đòn quan, hay nhà tù địa phương. Được vài ba ngày, lính thấy ông Thông đuối sức quá, sợ không thể đi tới nơi, thì thương tình tháo gông xiềng cho ông. Đến Chợ Quán, thấy tình trạng sức khỏe của ông quá tàn tạ, Cha Được đã đến ban phép xức dầu cho ông. Sau đó ông lại phải mang gông xiềng tiếp. Khi ông đặt chân lên đất lưu đày, ông chỉ kịp đọc kinh an năn tội, vài kinh kính mừng, rồi tắt thở. Hôm đó là ngày 15 tháng 5 năm 1855.
- Bà Thánh I-nê Đê (Lê Thị Thành), sau khi đã bị tra tấn và chịu đòn, coi trong người không có chỗ nào không bị thương tích, áo quần đầy máu me, bà đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục. Lời sau cùng của bà là: "Giê-su Ma-ri-a Giu-se, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa." Hôm đó là ngày 12-7-1841, sau 3 tháng bị giam cầm về đức Tin.
- Riêng những vị xử trảm, cũng có những gương sáng lạng về việc các ngài coi thường sự đau đớn lúc bị chém đầu. Coi như các ngài ước ao được chém nhiều lần để biểu lộ lòng yêu mến Chúa. Trước khi bị chém Thánh Giám mục An nói với viên quan chỉ huy: "Tôi gửi quan 30 quan tiền để xin một ân huệ: Đừng chém tôi một nhát nhưng 3 nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng nên tôi, và dẫn tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi. Nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết vì đức Tin, theo gương vị chủ chăn. Và như thế họ đáng hưởng hạnh phúc cùng các Thánh trên trời.”
- Năm ông Đaminh Nhi, ông Đa-minh Mạo, ông Đa-minh Nguyên, ông An-rê Tường, ông Vinh sơn Tưởng, bị xử chém đầu, thì trừ ông Đa-minh Nhi, bốn vị ông Đa-minh Mạo cùng các ông Đa-minh Nguyên, An-rê Tường, Vinh-sơn Tưởng, đều yêu cầu lý hình, thay vì chém một nhát, thì xin được chém 3 nhát để tỏ lòng tôn kính Chúa Ba Ngôi.
- Riêng Thánh Hồ Đình Hy bị chém đầu, nhưng trước khi đem đi xử, giữa kinh thành Huế, trong ba ngày 15,18 và 21 tháng 5 năm 1857, thân mình ngài đầy thương tích, quần áo tả tơi, dính đầy máu, đi đứng lảo đảo như muốn té nhào, bị điệu qua các đường phố, những khu chợ và quanh thành nội. Lính mở đường đi trước rao tên tử tội, mỗi khi tới ngã ba đường, phố, chợ và công trường, người tử tội bị đánh 30 trượng, lính vác loa rêu rao: "Thằng theo tà đạo, đức ngỗ nghịch, bất hiếu với cha mẹ, cưỡng lại luật pháp triều đình. Vì thế bị kết án tử hình. Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ lên Thiên đàng. Điều đó có đúng hay sai, không cần biết. Gia Tô của nó ở đâu? tại sao thấy nó khổ mà không đến cứu?"
- Sau một năm tù giam, An-rê Trọng vẫn cương quyết tuyên xưng đức Tin, các quan quyết định ngày xử là thứ bảy ngày 28-11-1835. Sáng hôm đó, anh gặp lại người anh họ. Người anh họ hỏi Thánh nhân có muốn ăn gì không? An-rê Trọng trả lời: "Em muốn giữ chay để dọn mình tử đạo", rồi nói tiếp: "Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì cho em, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa, cho đến chết."
Nhưng người anh họ chưa kịp về nhắn tin, bà mẹ An-rê Trọng đã đến đón con và theo con đến tận đầu chợ An Hòa, nơi An-rê sẽ phải xử. Gặp con, bà chỉ nói một câu: "Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần gì ai không? Nếu có thì cho mẹ biết, mẹ sẽ trả thay con."
Khi được con cho biết không vướng mắc gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh nói với con những lời đầy khích lệ. Đến nơi xử, khi quân lính tháo gông xiềng, Thánh Trọng đón lấy, đưa cho anh lính cạnh bên và căn dặn: "Xin nhờ anh đưa giùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm."
Mẹ anh đứng gần bên nghe rõ, nhưng bà cho rằng chỉ nhận lấy kỷ vật đó mà thôi là chưa đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa. Bà can đảm, bước ra xin viên quan chỉ huy trao cho bà thủ cấp của con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghìm chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lập đi lập lại: "Ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ.” Rồi bà đem về an táng trong nhà.
LM.Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.    
(Nguồn: menchuayeunguoi.com)

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM




Trong suốt 300 năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách, trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các cơn bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh...

Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp bốn trăm ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức...

Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người công giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo...

Như thế, con số Cha Ông Tử Đạo chúng ta, trong ba trăm năm bị bắt Đạo, phải tính lên đến ba trăm ngàn người trong vòng ba trăm năm. Nếu tính theo tỷ lệ, trong ba trăm năm bắt Đạo, cứ một trăm năm thì có một trăm ngàn Vị Tử đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo! (x.tonggiaophanhue.net).

1. Vài tư liệu.

a. Thời gian và con số:

+ Thời gian bắt đầu vào năm 1580 và chỉ kết thúc hoàn toàn vào năm 1888, kéo dài gần 3 thế kỷ.
+ Có khoảng 400.000 người bị lưu đầy, phát lưu và phân sáp. Hơn 100.000 người đã chết vì đạo trong số này đã có 117 vị được Giáo Hội chính thức tôn phong lên hàng hiển thánh vào ngày 19.6.1988.

b. Về các hình khổ: Các ngài đã phải chịu mọi thứ cực hình mà người ta có thể nghĩ ra được như:

- Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói.
- Bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng.
- Quyết liệt hơn thì bị trảm quyết tức là bị chặt đầu, bị xử giảo tức là bị thắt cổ, hay bị thiêu sống.
- Vô cùng man rợ và hiểm độc như bị xử lăng trì, phân thây ra từng mảnh hay là xứ bá đao.

c. Quá trình Giáo Hội phong thánh

* Ngày 27-5-1900 Đức Thánh Cha Lêo XIII phong 64 vị lên hàng chân phước.
* Ngày 20-5-1906 Đức Thánh Cha Pio X phong thêm 8 vị.
* Ngày 02-5-1909 cũng Đức Thánh Cha Piô X phong thêm 20 vị nữa.
* Ngày 29-4-1951 Đức Thánh Cha Pio XII phong 25 vị.

Trong 117 vị được phong chân phước có :

- 8 Giám mục ( Giám mục thuộc dòng Đaminh và 2 Giám mục thuộc Hội thừa sai 
Paris)
- 50 Linh mục (Gồm 37 là người Việt 
Nam, 8 thuộc Hội thừa sai Paris và 5 thuộc dòng Đaminh)
- 15 Thầy giảng
-44 Giáo dân thuộc đủ mọi thành phần xã hội: công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ...

d. Theo loại hình phạt

* 79 vị bị trảm quyết tức là bị chặt đầu. Như vậy là con số bị trảm quyết nhiều nhất.
* 18 vị bị xử giảo tức là bị thắt cổ.
* 8 vị chết rũ tù
* 6 vị bị thiêu sinh
* 4 vị bị lăng trì tức là phân thây ra từng mảnh
* 1 vị bị tử thương
* 1 vị bị bá đao

e. Về thời gian

* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Doanh
* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Sâm
* 2 vị chịu tử đạo thời Cảnh Thịnh.
* 57 vị chịu tử đạo thời Minh Mạng
* 3 vị chịu tử đạo thời Thiệu Trị
* 51 vị chịu tử đạo thời Tự Đức

2. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVII(1625-1692)

Cũng như Giáo Hội Rôma ngày xưa, Giáo Hội Việt 
Nam từ giây phút đầu tiên được nghe rao giảng Tin Mừng, đã phải đối phó với những cơn giông tố dữ dội cấm Đạo nổi lên ác liệt.

Trong thế kỷ XVII (1625-1692)

- Dưới thờ Vua Sãi Vương bắt Đạo: cấm người công giáo làm bàn thờ trong nhà, không được mang chuỗi tượng công khai, chịu những hình khổ của tù nhân, không được làm những chức phận gì trong triều đình. Các nhà thờ bị triệt hạ, các linh mục ngoại quốc bị tập trung về Hội An và bị trục xuất ra khỏi nước.

- Dưới thời Vua Thượng Vương bắt Đạo: người công giáo bị bắt bỏ tù, rồi lập hồ sơ đưa ra toà án: nếu là thầy giảng hay linh mục không chịu bỏ đạo thì chém đầu; nếu là giáo dân không chịu bỏ Đạo thì bị đánh bách trượng, bị cạo trọc đầu, bị chặt các đầu mút ngón tay, bị thả về tàn phế như vậy, không được cấp dưỡng gì hết.

- Dưới thời Vua Hiền Vương bắt Đạo: các nhà thờ và các nhà nguyện công, tư bị triệt hạ; các tượng ảnh bị thiêu đốt, các thầy giảng và các chức việc bị bỏ tù; các linh mục ngoại quốc bị trục xuất ra khỏi nước; nhiều hình khổ rùng rợn được áp dụng như giam đói, giam khát, bị chặt đầu, phân thây, treo ngược vào cột để xé xác ra làm sáu phần; cho voi chà nát; đâm gươm vào hông; chặt đứt hai tay, hai chân, chỉ còn đầu và thân mình.

- Dưới thời Vua Vua Ngãi Vương bắt Đạo: cấm ba tội, là tội đánh bạc, tội đá gà và tội theo đạo Công Giáo; các nhà thờ bị triệt hạ; thường dân theo Đạo Công Giáo thì bị bắt bỏ tù, sĩ quan có đạo thì bị truất chức; ai tố cáo người công giáo đi dự lễ thì được thưởng, ai biết mà không chịu đi tố cáo thì bị tội; ai không chịu chối Đạo thì phải mang gông phơi nắng chín ngày, bị thắt cổ, bị treo chân vào cột đánh đòn.

3. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVIII (1698-1801)

- Dưới thời Vua Minh Vương: người công giáo chịu thuế nặng gấp ba lần người không công giáo; ai cũng được tự do làm hại người công giáo bất cứ bằng cách nào; áp dụng nhiều hình khổ lạ hơn như xẻo hai tai, vấn dẻ vào các ngón tay rồi đổ dầu mà đốt; lấy dao khắc hình Thánh Giá vào trán người công giáo rồi xiềng hai chân với cổ lại, bắt đi bứt cỏ nuôi voi của Nhà Vua suốt đời, hình phạt nầy được gọi là Thảo tượng chung thân; lập chuồng giam người công giáo như giam súc vật: chuồng lợp lá, chật chội, người công giáo bị giam trong đó, có lính canh đêm ngày không cho họ ra khỏi, nhưng bên ngoài, lại có dọn đồ ăn rất ngon, lính canh đứng ngoài cứ hô to: “Nước đó, cơm cá đó. Cứ bỏ đạo rồi ra mà ăn, mà uống”...

- Dưới thời Vua Võ Vương và Nhà Trịnh: hình khổ được áp dụng thêm, là kẹp các đầu ngón tay cho ra máu; lập nhà giam Sinh Tử, có hai cửa, một cửa gọi là Cửa Sinh, một cửa gọi là Cửa Tử, cửa Sinh có Dấu Thánh Giá, ai bước qua để đi ra thì được sống, cửa Tử có để thanh gươm, ai bước qua là tỏ dấu không muốn bỏ Đạo, thì bị xử tử.

- Trong thời kỳ Nhà Tây Sơn bắt Đạo, đặc biệt tại Thừa Thiên và Quảng Trị, giáo dân phải bị tàn sát dữ dội. Riêng tại Quảng Trị, trong thời kỳ này, nhiều giáo dân phải bỏ nhà cửa, bồng bế con cái chạy trốn vào rừng núi La Vang, và được Đức Mẹ Maria hiện ra an ủi năm 1798.

4. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XIX (1830-1885)

- Dưới thời Vua Minh Mạng bắt Đạo: các nhà lao xá như Trấn Phủ, Khám Đường được thành lập để giam người công giáo; đày người công giáo đến những nơi rừng thiêng nước độc; áp dụng hình khổ Bá Đao; xử giảo thắt cổ; bắt tám người công giáo phải mang một cái gông dài như cái thang để khỏi phải chạy trốn. 

- Dưới thờ Vua Tự Đức bắt Đạo: lệnh ban ra giết các linh mục Việt Nam và các linh mục ngoại quốc; tróc nã các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá; quân sĩ nào theo đạo Công Giáo, trước khi ra trận, phải Phạm Ảnh, nghĩa là phải bước qua Thánh Giá; thi hành kế hoạch Phân Sáp để tiêu diệt tận gốc người Công Giáo.

- Cuối thế kỷ XIX, xảy ra nhiều cuộc tàn sát người Công Giáo bởi Phong trào Văn Thân. Thời kỳ Văn Thân này tương đối ngắn, nhưng có đến sáu vạn giáo dân bị thảm sát. Riêng tại một tỉnh Bình Định, có 24.000 giáo dân bị giết. Tại Quảng Trị, chỉ trong vòng một tháng, hơn 8.000 giáo dân bị giết. 

5. Kế hoạch Phân Sáp để tận diệt người Công Giáo

Kế hoạch Phân Sáp được thi hành trong năm 1851 và 1856. Do sự thi hành kế hoạch này mà 400.000 giáo dân phải bị đi phân sáp, từ 50.000 đến 60.000 giáo dân phải chết nơi phân sáp, 3.500 giáo dân bị xử tử, 100 làng công giáo bị đốt phá bình địa, 2.000 Họ đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, 115 linh mục Việt Nam và 10 giáo sĩ ngoại quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, 2.000 nữ tu Mến Thánh Giá phải tan tác, 100 nữ tu Mến Thánh Giá chết vì Đạo.

Kế hoạch Phân Sáp gồm 4 mặt:

a. Không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương;
b. Mỗi người công giáo phải bị 5 người lương canh gác cẩn mật;
c. Các làng công giáo bị bị phá huỷ, của cải ruộng đất người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người này xử dụng và nộp thuế lại cho Nhà Nước;
d. Không cho đàn ông công giáo ở với đàn bà công giáo; không cho vợ chồng công giáo ở một nơi với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau; con cái phải để cho người lương nuôi. (x.tonggiaophanhue.net).

Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolô đã từng nói: “Giáo hội Việt nam đã phát sinh những nhân chứng, đặc biệt là Các Vị Tử Đạo, lời tiền nhân nói không sai: Máu đào là hạt giống phát sinh Kitô hữu, vì do máu Các Đấng Tử Đạo của dân tộc và Giáo hội Việt nam mà đức tin trong thế hệ trước đã mọc lên, đức tin của thế hệ hiện tại được bảo toàn, và hy vọng đức tin của thế hệ mai sau được gìn giữ”.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An(Nguồn : baoconggiao.com)

Thứ Ba, 10 tháng 11, 2015

THẬT KỲ LẠ !!!


1- Thật kỳ lạ: Tờ giấy bạc năm chục nghìn đồng sao có vẻ quá lớn khi dâng tặng nó cho Nhà Thờ hay dùng nó để làm việc từ thiện, nhưng sao lại quá nhỏ khi mình đi mua sắm?
2- Thật kỳ lạ: Hai giờ trong Nhà Thờ sao có vẻ quá dài, nhưng hằng bao nhiêu giờ sao lại ngắn khi xem phim nhiều tập?
3- Thật kỳ lạ: Mình khó tìm ra lời để tôn vinh Chúa và cầu nguyện với Ngài cho người khác! Nhưng, khi tán gẫu với bạn bè, mình nói nhiều, mà không bao giờ hết chuyện!!!
4- Thật kỳ lạ: Đọc một đoạn Kinh Thánh sao mà quá khó khăn, nhưng xem cả trăm trang tiểu thuyết tình cảm hay kiếm hiệp thì sao lại dễ dàng đến thế?
5- Thật kỳ lạ: Sao ai cũng muốn ngồi hàng đầu khi nghe ca nhạc, lại còn tranh thủ mua vé sớm trước nhiều ngày, có khi cả tháng trời? Nhưng, khi đến nhà thờ thì lại tìm đủ mọi lý do để ngồi hàng cuối, có khi còn đi trễ nữa?
6- Thật kỳ lạ: Sao mình cần phải biết ''lịch Nhà Thờ'' trước một hay hai tuần lễ thì mới có thể giúp Giáo Xứ việc nào đó? Còn những chuyện riêng tư thì chỉ cần vài phút là mình sắp xếp thật ổn thoả?
7- Thật kỳ lạ: Những hiểu biết về Chúa, về Đạo mà chia sẻ với anh-chị-em thì sao mình thấy quá ngại ngùng? Nhưng tại sao những chuyện tầm phào, có khi bậy bạ thì truyền miệng cho nhau lại dễ dàng và quá nhanh?
8- Thật kỳ lạ: Sao mình tin ngay mọi thứ mà báo chí nêu ra, kể cả việc nói xấu về Đạo, về Giáo Hội, nhưng lại thường hay hồ nghi Lời Chúa trong Kinh Thánh và những điều Hội Thánh dạy?
9- Thật kỳ lạ: Sao mình cũng muốn có một chỗ trên Thiên Đàng, mà lại yếu Lòng Tin, Lòng Cậy, Lòng Mến và không hăng say rao giảng Tin Mừng cho người khác bằng việc tốt lành để mở mang Nước Chúa?
10- Thật kỳ lạ: Sao mình gởi chuyện vui bằng Email và tin rằng nó sẽ được chuyển ngay đến người khác, nhưng gởi một bài viết về Chúa, về Đạo thì mình lại đắn đo?
Xin Bà Con vui lòng chuyển nội dung ''thật kỳ lạ'' đến người khác để ''họ'' cũng có cơ hội được Chúa chúc lành.
(Thụy Sửu chuyển)

Thứ Hai, 9 tháng 11, 2015

VE CHAI



Chị hớt hải về đến nơi thì cũng vừa lúc thợ thuyền ra về. Mấy đứa em chế giễu:
_Gớm! Giờ này bà chị mới tới!
_Thông cảm mà, chị mới đi làm về là ghé liền đó…
Mà thật vậy! Chị Minh rất vất vả, nhất là từ ngày chồng chị mất, mọi gánh nặng đều dồn lên vai chị. Mà khó nhất vẫn là việc kiếm miếng ăn cho 4 mẹ con. Cũng may là chị không phải thuê nhà, nên ít ra, chị không băn khoăn lắm về việc đi sớm về khuya. Hàng ngày chị phải đến quán cơm phụ việc, mãi đến 5 giờ chiều chị mới bắt đầu ra về để lo cho mấy đưa con còn thơ dại. Chỉ chẳng hề ca thán với ai bao giờ, vì chị đã quá quen với khổ cực từ tấm bé. Đến nỗi, lấy chồng lúc ấy là một giải pháp để mẹ chị bớt phải lo cho một miệng ăn.
Nay thì mấy đứa em chung tay làm nhà. Tuy chúng đều khá giả nhưng lại muốn ở chung nhà với mẹ già, dù vì như thế mà anh em hay hục hặc với nhau. Chị khá là bối rối khi mấy đứa cháu ruột mách chị:
_Bác ơi, ba cháu kỳ ghê đi…
_Sao?
_Ba cháu nhận việc lo giấy tờ, bản vẽ gì đó hết 5 triệu, mà về nói với bà là 8 triệu…
_Làm gì có chuyện đó!
_Con nghe ba con nói với mẹ con vậy đó…
_Rồi mẹ con nói gì?
_Mẹ con còn nói, sao không “kê” lên 10 triệu cho chẵn…
Hay, hôm khác, với đứa cháu khác:
_Bác ơi! Má cháu kỳ quá…
_...
Má cháu xui ba cháu mua gạch chỗ nào đó mà người ta đồng ý sẽ chừa phần cho nếu mua của họ…
_Vậy cháu nghĩ sao?
_Cháu thấy vậy là không đúng nhưng cháu không dám nói. Hay bác nói đi! Nhưng đừng để cho ba má cháu biết cháu đã nói với bác nhé. Bị đòn chết bác ơi!
Chị nào dám hé môi với ai, dù họ đều là em chị. Vì chị biết mình chẳng đỡ đần được gì cho mẹ già. Thôi thì, hàng ngày về đây quét dọn đỡ cho đám thợ, rồi quay qua săn sóc mẹ một chút cũng là việc vừa sức. Thấy mấy đứa em cứ moi tiền của mẹ mà chị xót xa, dù thật ra cũng chẳng nhiều nhặn gì. Nhưng chúng lại còn xét nét chị vì chị chẳng đóng góp được gì cho gia đình, dù họ biết chị thực sự rất khó khăn. Các em đều đã có gia đình, chúng thừa hiểu công việc chúng làm là đáng trách, nhưng có lẽ chúng chỉ cố minh chứng với những người còn lại là chúng đã hết lòng đóng góp cho công việc! Lời được mớ gạch men chừng mươi triệu thì thật ra vợ chồng cậu Hùng đã thủ thỉ với mẹ:
_Mẹ, con có bằng này thôi, mẹ cầm đỡ!
Dĩ nhiên, cậu Hùng cũng như dì Nga, luôn chừa lại chừng một nửa để tiêu xài gì đó, vì tiền với các cậu, dì có bao giờ là đủ đâu! Chị dư biết, thỉnh thoảng trong nhà có việc, là y như mẹ chị thế nào cũng bị thụt két! Gì chứ chợ búa là chị quá rành, vì ngày nào mà chị không đi chợ cho chủ quán! Từ trái ớt, quả dưa..đến miếng thịt heo, quả trứng… chị đều biết rõ giá.Mẹ chị cũng lờ mờ biết vậy, nhưng bà cũng kệ, có lẽ bà nghĩ dù sao thì chúng cũng là con cái!
Cái mớ đồ cũ, nào đám trần nhựa ngả màu, nào những món lạc xoong vất lền khên kia, nom thật ngứa mắt. Chị vừa gom cả vào một nơi, thì cậu út đã ré lên:
_Chị vất bố nó đi cho rộng nhà!
Mợ em dâu tiếp lời:
_Ba cái đồ quỷ tha ma bắt ấy…hay chị bán đi!
Đứa em kế đã cướp lời:
_Bán được nhiêu,cho chị hết đó!
Nghe thật buồn khi chúng cho chị những thứ vất đi như thế. Chị giấu những giọt nước mắt trong nụ cười không ra tiếng.
Mà chị bán thật. Vì chị nghĩ, thế nào cũng có được ít tiền. Chị chỉ kịp dắt đứa con út ra ăn tô phở rõ to, vì lâu rồi nó chưa từng được ăn thế, rồi chị gặp mẹ, đưa hết cho mẹ số tiền chị bán đám ve chai ấy. Chị thấy vui sướng trong lòng, vì chị đã làm điều tốt nhất có thể…
Chị nhớ tới câu chuyện thánh kinh thuật lại bà góa nghèo nàn bỏ đồng xu vào đền thờ. Với Đức Giê su, thì đồng xu ấy lớn hơn hết mọi khoản tiền của người khác dâng cúng. Chị lẩm bẩm:
_Lạy Chúa! Ấy là tiền của chính bà góa ấy! Còn con, con nào có gì đâu! Ngay cả tiền ve chai, cũng chẳng phải là tiền của con, Chúa ạ…


                                                                                                          LAM TRẦN 7.11.2015

Chủ Nhật, 8 tháng 11, 2015

CHO BẰNG TẤM LÒNG

SUY NIỆM

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN B - 8/11/2015

     
Khi ở miền quê tôi rât thích hình ảnh một bà cụ khệ nệ ôm nải chuối đến biếu cha. Đó là hình ảnh bà ôm cả tấm lòng dành cho cha. Rất đáng quý, rất đáng trân trọng. Nói là ôm cả tấm lòng vì khi gia đình có cây chuối ra hoa, ra buồng, họ đã nghĩ đến để dành cho ai. Khi ra bẹ chuối họ cũng nghĩ phải chọn bẹ chuối nào dành cho cha. Và rồi nâng niu nải chuối ngon nhất để mang biếu cha, đó là ôm trọn một tấm lòng chân thành thật quý giá!
Hình ảnh ấy khiến tôi cũng nhớ tới một bà cụ rất đơn sơ. Ngày tết bà ra chúc tuổi tôi. Bà nói: Nhà con có cây xoài ra trái. Con để dành trái xoài to nhất để mang tết cha. Thế mà đến ngày 28 tết trộm nó hái mất rồi! Con chẳng còn gì để biếu cha. Nghe cũng vui nên tôi nói với bà cụ: Bà đã dành cho cha cả tấm lòng rồi. Xin cám ơn bà.


Quả thực, người ta nói “của cho không bằng cách cho”. Giá trị của món quà không nằm ở giá trị đồng tiền mà quan yếu là ở tấm lòng dành cho nhau. Những người cần công việc họ biếu quà cho cấp trên hàng triệu nhưng không có tấm lòng. Quà họ biếu có toan tính lợi nhuận. Quà của họ không có tình yêu.
Quà tặng chỉ có giá trị khi nó mang cả tấm lòng yêu mến tri ân. Đó mới là món quà vô giá. Món quà nồng thắm tình yêu. Món quà không dựa trên giá trị đồng tiền mà hệ tại ở tấm lòng. Thế nên, đừng bao giờ nghĩ mình có thật nhiều tiền mới giúp cha giúp mẹ, mới mua quà bánh cho ông bà.  . . Đừng cầu mong trúng số mới làm việc bác ái, mới đóng góp xây dựng giáo xứ . . .
Nếu như vậy, có lẽ chúng ta sẽ khó có cơ hội giúp đỡ tha nhân. Hãy thi ân trong khả năng của mình. Hãy làm việc thiện khi có cơ hội, đừng đợi chờ những chuyện ngoài tầm tay. Chúng ta không nên hứa hẹn hay chờ đợi ngày mai, mà ngay hôm nay hãy làm những việc tầm thường như: giúp một người già qua đường, lượm một cây đinh sét vương vãi trên đường, thăm viếng kẻ yếu đau . . .


Thiên Chúa sẽ nhìn tấm lòng chúng ta như Chúa đã nhìn thấy tấm lòng thành của Abel. Ngài đã vui nhận lễ vật của Abel, vì Ngài thấy ở đó có lòng thành tri ân. Thiên Chúa đã khinh dể lễ vật của Cain vì lễ dâng của ông không có lòng thành. Vì Ngài là Đấng thấu suốt tâm can. Ngài sẽ chúc phúc cho những lễ vật đơn hèn nhưng gói trọn tình yêu.


Hôm nay trong đền thờ khi mà nhiều người bỏ tiền dâng cúng, Chúa Giê-su chỉ nhìn thấy nơi bà góa tấm lòng thành. Bà bỏ tiền ít nhưng nồng ép vào đó cả tấm lòng thành. Bà không giầu của cải nhưng bà giầu tấm lòng. Bà biết tất cả là của Chúa ban, thế nên phải dâng lại cho Chúa là lẽ thường tình. Lễ vật của bà không giầu tiền bạc nhưng lại rộng lượng tấm lòng.

Xin cho chúng ta hiểu rằng tất cả là của Chúa. Cuộc sống của chúng ta là do Chúa ban. Hãy dâng tặng cho Chúa trong những công việc chung của Giáo hội, nhất là chia sẻ cho những người bất hạnh cơ hàn. Xin đừng đóng cửa lòng mình trong ích kỷ tham lam. Amen


Lm.Jos Tạ Duy Tuyền


    HAI BÀI GIẢNG HUẤN
           (Suy niệm từ Mc 12, 38-44)

     Trong giờ giảng huấn hôm nay,
Chúa lên tiếng dậy: Điều này cảm thông,
     Các ngươi luôn phải coi chừng
Những nhà Luật Sỹ, áo chùng phô trương
     Những nơi công cộng, công trường
Được người chào bái, khinh thường bình dân.
     Tiệc tùng, đình đám, nhanh chân
Chiếm ngồi ghế nhất, nhận phần cao sang.
     Họ nêu gương xấu mọi đàng…
Chức năng cao quí lạc đường tu thân.
                        ***
     Đây, bài giáo huấn thứ hai:
Giầu nghèo ai cũng như ai đó mà.
     Việc chung, bác ái của ta,
Thành tâm đóng góp,Ý Cha kêu mời.
     Bà kia goá bụa, nghèo thôi,
Bà dâng hết cả của nuôi thường ngày.
     Vì tin cậy vững. Quí thay!
Quyền năng Thiên Chúa đời này, đời sau…
(Thế Kiên Dominic)


Thứ Bảy, 7 tháng 11, 2015

THẾ NÀO LÀ HẠNH PHÚC?


Phải chăng là hạnh phúc khi có nhiều tiền? Người ta nói đùa nhưng thật rằng: Có tiền mua tiên cũng được! Nếu cứ có tiền là hạnh phúc, tại sao biết bao người tiền dư bạc thừa mà vẫn thiếu thốn hạnh phúc khiến họ hoài khát mong? Phải chăng họ chưa có tiền đủ nhiều để mua được hạnh phúc? Ai đó đã phát biểu rằng: “Điều gì không thể mua được bằng nhiều tiền, thì có thể mua được bằng nhiều tiền hơn.”Có thật thế chăng? Có lẽ chỉ có thể nói rằng: con người ta chẳng thể hạnh phúc khi không có một xu dính túi, nhưng có nhiều tiền chưa chắc đã có được hạnh phúc.
Phải chăng có tiền mà không hạnh phúc bởi còn thiếu quyền? Với quyền thế và địa vị trong tay, tôi muốn làm gì chẳng được! Như thế, quyền và địa vị là đủ rồi, còn cần chi nữa. Nếu có quyền và địa vị là đủ, sao lại có chuyện bao nhiêu vua chúa, nhà cầm quyền đã chẳng no thỏa, khi họ dùng quyền lực và địa vị để vơ vét, chiếm đoạt, đến nỗi trở thành những bạo chúa, những nhà độc tài. Có quyền cao chức trọng mà hành xử như thế, họ no đủ hay đói khát, hạnh phúc hay bất hạnh?
Phải chăng họ thiếu một gia đình để được yêu thương vỗ về? Thật hạnh phúc khi được cha đỡ nâng, được mẹ yêu thương, được anh chị em quí mến. Thế nhưng có bao người vẫn chẳng thấy hạnh phúc khi được cha chỉ dạy đỡ đần, được mẹ chăm lo chu đáo, từng li từng tí,… Tại sao?
Phải chăng họ thiếu tự do? Có tự do, tôi được lựa chọn để sống cuộc sống của mình. Thật hạnh phúc quá đi! Thế nhưng không thiếu những người chẳng chịu lệ thuộc vào gia đình, cũng không muốn sống theo qui luật chung của xã hội, mà cũng chẳng có được hạnh phúc thực sự và lâu dài. Bởi lẽ “không ai là một hòn đảo”.
…
Tiền không mua được hạnh phúc; quyền thế không vắt ép ra được hạnh phúc; ngay cả được yêu thương chăm sóc, được tự do tự tại cũng không đảm bảo có được hạnh phúc. Thế nhưng, thực tế cho thấy có rất nhiều người giàu đang hạnh phúc; nhiều người nghèo cũng đang hạnh phúc; nhiều người có địa vị và quyền thế đang hạnh phúc; nhiều người không quyền cũng chẳng thế mà vẫn đang vui hưởng hạnh phúc; nhiều người tự do vui hưởng hạnh phúc; nhiều người bị bức ép đến không được tự do những vẫn thấy hạnh phúc. Tại sao họ có được hạnh phúc? Hạnh phúc đối với họ là gì?…
Thật hạnh phúc khi được sống với những gì mình đang có, được là chính mình, là trọn vẹn con người mình. Thế nhưng, tôi đang có những gì? Tôi là ai? Và những điều đó có ý nghĩa gì đối với tôi? Không phải ai cũng ý thức và sống trọn vẹn những gì mình đang có, sống trọn ý nghĩa của đời mình. Có câu nói: không ai giàu đến mức không cần đến một nụ cười, cũng chẳng ai nghèo đến độ không có một nụ cười để sẻ chia, để cho đi. Lại nữa, chẳng ai có thể cho đi cái mà mình không có vì không có lấy gì mà cho.
Hóa ra, chính khi biết cho đi là khi tôi biết mình đang có; chính khi biết sẻ chia giúp đỡ để làm cho đời người có ý nghĩa, là khi tôi nhận ra ý nghĩa của đời mình. Thật hạnh phúc khi biết đời sống mình ý nghĩa và tốt đẹp dường nào, dù đời sống ấy đang trong lúc ngày tươi sáng hay đang trong đêm tối tăm! Đêm qua đi, ngày lại đến. Dù ngày hay đêm, đời tôi vẫn là đời của tôi, đã được trao ban cho tôi. Hạnh phúc biết bao khi đời ấy được sống đầy đủ ý nghĩa.
Vinhsơn Phạm Văn Đoàn, S.J.
 (Nguồn : dongten.net)





Thứ Sáu, 6 tháng 11, 2015

HẠNH PHÚC

Chúng ta được sinh ra là để sống hạnh phúc. Được ơn hiện hữu ở đời là một món qùa vô giá. Kinh Cám Ơn mà chúng ta thường đọc: ‘Con cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được làm người…’. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng nên muôn loài, đặc biệt là con người để chia phần hạnh phúc. Cùng đích của cuộc sống là hạnh phúc, cả đời này lẫn đời sau.
Thật là hạnh phúc khi chúng ta nhìn cuộc đời một cách tích cực. Từ ngàn xưa, Tạo Hóa đã an bài mọi sự trong trời đất và môi trường để đón nhận các loài thụ tạo. Các nhu cầu cần yếu cho cuộc sống được Thượng Đế đặt để ăn khớp với nhau. Sự tuần hoàn nhịp điệu từ đại vũ trụ cho tới hạt nhân tinh vi đều di chuyển trong trật tự. Khi hòa nhập với thiên nhiên, con người sẽ tìm thấy niềm vui hạnh phúc an lạc. Chống đối lại sự xoay vần của luật lệ tự nhiên, con người sẽ gặp nhiều trắc trở, nghịch cảnh và khổ đau.
Chúng ta tự hỏi: Ai là người hạnh phúc hơn trong cuộc sống đời tạm này? Có phải là những người giầu sang phú quí, văn minh, khôn ngoan, trí thức giỏi giang, quyền cao chức trọng, địa vị quyền lực và kiêu căng tham vọng thì hạnh phúc hơn những người bình dân, đơn sơ nghèo nàn, khiêm nhu âm thầm và an cư tự tại không? Thước đo hạnh phúc chính là sự bình an đích thực trong tâm hồn. Chúng ta nhận biết rằng càng trở về với tự nhiên, tâm hồn càng thanh thoát. Một ông vua sống nơi cung điện giầu sang phú quí, chưa chắc đã hạnh phúc hơn một chú tiểu nghèo nàn đang chăn trâu ngoài đồng cỏ.
Trong cuộc sống xã hội, có những chủ trương sống lý tưởng dựa theo những triết thuyết khác nhau. Thí dụ: Vào đời nhập thế xông pha phấn đấu theo Nho Giáo hoặc rút về sống ẩn dật vô vi tránh xa sự đời của Lão Giáo. Hai cách sống đối ngược nhưng đều mong tìm về một nguồn hạnh phúc đích thực. Ai cũng mong tìm thỏa mãn ước mơ ở đời để sống những chuỗi ngày bình an hạnh phúc. Niềm vui hạnh phúc thật được kết nối qua những suy tư đúng đắn, lời nói chân thật và hành động tốt lành. Sự gian dối, giả tạo và hình thức không thể mang lại hạnh phúc thật sự. Là Kitô hữu, chúng ta được mời gọi xây dựng hạnh phúc không những đời tạm này, mà còn phải hướng về hạnh phúc vĩnh cửu đời sau nữa.
Cuộc sống có muôn mặt. Chúng ta biết mỗi cá nhân có một đinh mệnh và sở thích riêng. Mỗi người tự tìm cho mình lối đi về nguồn hạnh phúc. Sống hạnh phúc là sống hài hòa, an lạc và thanh thản trong tâm hồn. Hạnh phúc nằm ngay trong cuộc sống, nếu chúng ta biết đón nhận. Chúng ta không thể tìm hạnh phúc ở cuối con đường, nhưng hạnh phúc bao trùm mỗi phút giây của đời sống. Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ. Ai không biết đón nhận, cơ hội sẽ vụt bay.
Có biết bao vị chân tu đã tìm nơi thanh tịnh để tu thân tích đức tìm sự an lạc. Có nhiều đan sĩ hiến thân sống đời cầu nguyện âm thầm lặng lẽ trong các đan viện để tìm sự an vui tự tại. Có rất nhiều người hiến dâng cuộc đời để phục vụ tha nhân trong bình an. Niềm vui hạnh phúc của tha nhân chính là niềm vui hạnh phúc của họ. Các vị không màng đến sự đua chen thế tục. Họ thoát tục để gắn bó một cuộc sống nội tâm thanh thản, bình an và hạnh phúc.
Sự khao khát sống hạnh phúc của con người sẽ không cùng. Ai cũng mong sống hạnh phúc, nhưng không phải mọi người được hưởng hạnh phúc cả đâu. Nhiều người đã hoang phí cuộc đời và phá vỡ hạnh phúc của mình và của người khác qua sự ích kỷ, thiển cận và tham lam. Trong cuộc sống chung, mỗi cá nhân đều có trách nhiệm góp phần mang lại niềm vui hạnh phúc cho gia đình va xã hội. Chúng ta chỉ có hạnh phúc khi cùng biết chia sẻ tình yêu thương với nhau và với tha nhân.
Mỗi dịp lễ thành hôn và vu quy, những lời cầu chúc tốt đẹp mừng đôi tân hôn: Cầu chúc anh chị trăm năm hạnh phúc.Hy vọng tình yêu luôn mãi nở hoa trong cuộc sống gia đình. Ai mà chẳng mong muốn có cuộc sống an vui hạnh phúc. Thật thế, hạnh phúc luôn trong tầm tay: Dù giầu dù nghèo, dù long đong vất vả và dù sang dù hèn, vợ chồng đều có thể phấn đấu vượt qua: ‘Thuận vợ, thuận chồng, tát bể đông cũng cạn’.
Sống là phải sống hạnh phúc. Chính hạnh phúc là nền tảng cốt lõi của cuộc sống gia đình. Khi cuộc sống gia đình ổn định, vợ chồng thương nhau và con cái hiếu thảo, hạnh phúc sẽ trào dâng mỗi ngày. Khi gặp khó khăn trong đời sống, đừng quên lời thề hứa khi vợ chồng trao nhau chiếc nhẫn ngày kết hôn: ‘Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của anh (em)’. Lời cam kết yêu thương là chìa khóa khai mở cuộc sống hạnh phúc hôn nhân.
Trong thực tế cuộc sống gia đình hôm nay, sự bất hạnh đã len lỏi soi mòn và phá tán nhiều gia đình. Chúng ta cần tự vấn: Ai đang phá vỡ hạnh phúc gia đình? Có thể là do chồng, do vợ hoặc do con cái. Có một điều lạ là chúng ta thường gây gỗ và giận hờn với người chúng ta yêu thương nhất. Người ta thường nói: ‘Yêu nhau lắm, cắn nhau đau’. Vì sao vậy? Có thể vì chúng ta quá yêu và muốn người khác luôn phải làm theo ý mình, tự vệ, có thể là độc đoán, độc tài và ghen tuông, Và cũng có thể do cách cư xử thiếu tế nhị: Một lời nói cộc cằn, một thái độ dửng dưng, một sự hiểu lầm, một sai lỗi, một sự bất tín, một sự nghi ngờ và một sự so sánh hơn thiệt nào đó, là nguyên nhân gây nên sự đổ vỡ và khổ đau trong gia đình. Niềm an vui hạnh phúc lại bị đóng băng. Để hòa giải tìm lại hạnh phúc gia đình, Đức Giáo Hoàng Phanxicô khuyên dạy ba điều cần thực hành: Gợi ý (xin phép), xin lỗi và tha lỗi.
Nhận thức rằng chúng ta không thể là mọi sự cho mọi người và không thể làm mọi thứ cùng một lúc. Trách nhiệm của chúng ta là nhận thức chúng ta là ai và sống thật với chính mình. Chúng ta nên học hỏi đừng ganh đua với người khác. Hãy sống với các giới hạn của bản thân. Hãy học biết sự kính trọng tha nhân, vì chúng ta đều là loài thụ tạo hay chết.Nhân vô thập toàn. Đời sống không phải là một vấn đề cần để giải quyết, nhưng là một món qùa để yêu thương.
Hạnh phúc là món qùa. Nếu chúng ta biết mở lòng đón nhận, món qùa sẽ là của chúng ta. Chấp nhận sự giới hạn khả năng và hoàn cảnh của chính mình. Hãy an vui với những gì mình đang có. Hãy năng chiêm ngắm vũ trụ vạn vật, trời cao biển rộng, đồi núi chập chùng, sông sâu suối ngàn, ruộng đồng bát ngát, hoa lá cỏ cây và muôn vật hài hòa. Chúng ta cũng đang được hòa nhập trong biển tình bao la của thiên nhiên. Chúng ta hãy tạ ơn Thượng Đế, tri ân con người và biết ơn đời đã trao ban hạnh phúc tuyệt vời.
Trong mọi hoàn cảnh, hãy tin tưởng và phó thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Khổ đau là thử thách và là trái ngọt đắng ở đời. Thuốc đắng giã tật. Hãy sống vui với giây phút hiện tại. Con đường dẫn tới hạnh phúc là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc đời này sẽ dẫn tới hạnh phúc ngày sau.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng
Bronx, New York