Thứ Ba, 17 tháng 11, 2015

CHỨC TƯ TẾ, NGÔN SỨ, QUÂN VƯƠNG NƠI GIÁO DÂN

                                          

Các anh chị Cựu HT thân mến
Trong một lần viết cho người bạn, tôi đã kể về nỗi trăn trở của tôi, trong hoàn cảnh hiện tại ( chỉ đi đến Nhà Thờ vào ngày  Chúa nhật, không tham gia các sinh hoạt của Giáo xứ...) tôi thấy mình " khô khan, nguội lạnh ". Người bạn đã gởi cho tôi bài này, tôi muốn chia sẻ với các anh chị.
Mong các anh chị góp thêm ý kiến về việc " Giáo dân cũng có thể NÊN THÁNH 

THỤY SỬU 
(HTR HTDC Phủ Cam, Huế)



Chức Tư Tế, Ngôn Sứ, Quân Vương nơi Giáo Dân

I- Lời dẫn nhập 
Vào ngày 19.9.09, dựa vào Kinh Thánh, Giáo Huấn và Sách Giáo Lý, tôi viết bài ”Chức Thánh trong Hàng Giáo Dân”. Nhìn tựa đề có chữ THÁNH, một số ”Kitô hữu” Công Giáo KHÔNG muốn đọc hoặc chỉ xem LƯỚT qua bài viết, rồi nhận định rằng tôi là kẻ PHẠM THƯỢNG, sánh mình ngang hàng với Linh Mục có chức THÁNH!!! (Bài của Lm Nguyễn Văn Độ và bài của JV. Ngọc Biển, Links số 5, ở cuối bài viết này, cũng cho hay rằng các THÀNH PHẦN của Giáo Hội được gọi là những người THÁNH.)
Lúc còn cai quản Giáo Phận Đà Lạt, sau khi đọc bài cũ ”Chức Thánh trong Hàng Giáo Dân”, với tư cách là Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Đức Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (nay là Hồng Y) đã trả lời cho tôi bằng bức thư dài gần chín trang đánh máy. Trong đó, ngài dùng các chữ ”Chúng tôi rất xúc động” tới bốn lần.
Thật ra, ngữ tính từ (adjective phrase) ”trong Hàng Giáo DÂN” tự nói lên sự KHÁC BIỆT với ngữ tính từ ”trong Hàng Giáo PHẨM” như tôi có trình bày trong bài viết bên dưới. Trong Kinh Thánh, KHÔNG có khái niệm ”giáo dân”, mà CHỈ thấy các danh xưng như là: Giáo Hội, Dân Chúa (Các Thánh), DÂN RIÊNG CỦA THIÊN CHÚA… SAU NÀY, Hội Thánh mới dùng các cách gọi: Hàng Giáo Sĩ, Hàng Tu Sĩ, Giáo Dân. Sách Giáo Lý (phù hợp với Kinh Thánh), ở số 823 và 1216, viết như sau: ”Vậy, Giáo Hội là Dân THÁNH của Chúa NÊN các THÀNH VIÊN của Giáo Hội ĐƯỢC gọi là CÁC THÁNH. Phép RỬA TỘI là hồng ân đẹp NHẤT, huy hoàng NHẤT trong các Thiên Ân… người đó được THÁNH HIẾN… là ánh sáng chói lòa…” Nhưng cũng xin hiểu rằng ”HỘI THÁNH” gồm có tội nhân, vừa thánh thiện, vừa phải tự thanh tẩy mình, rằng tất cả các THÀNH VIÊN của Giáo Hội đều PHẢI khiêm nhượng nhận mình là TỘI NHÂN như trong kinh CÁO MÌNH.

II- BÀI VIẾT (có sửa đổi vào ngày 29.10.2014) 
Trong Năm THÁNH đặc biệt dành RIÊNG để cầu nguyện cho Linh Mục, chúng ta đã được học, được xem nhiều bài viết về Chức Năng ”Tư-Tế, Ngôn-Sứ, Quân-Vương” của HÀNG GIÁO PHẨM. Vì thế, trong bài này, tôi CHỈ ”trích dẫn” Kinh Thánh, Giáo Lý Công Giáo nói về giáo DÂN vì họ là ĐẠI ĐA SỐ trong Hội Thánh. Yêu mến Hội Thánh do Chúa lập nên LÀ NUÔI DƯỠNG ĐỨC TIN vì Đức Tin là LINH HỒN của Hội Thánh.
Kinh ”CREDO: TÔI TIN” mà Giáo Hội Công Giáo Việt Nam dịch là ”Kinh Tin KÍNH” có ý nghĩa thật súc tích bởi vì ”tin” MÀ chẳng KÍNH là con số KHÔNG như lời dạy của Chúa Giêsu và của Thánh Phaolô. Thánh Giacôbê cũng khẳng định: ”Đức tin KHÔNG có hành động là đức tin CHẾT.” Tin mà KHÔNG có lòng ”KÍNH mến” LÀ chẳng tin gì cả! Trong mười hai điều tin, có bốn ”đặc tính bất khả phân ly” sau đây buộc người Công Giáo phải tuyên xưng về Giáo Hội, đó là: ”duy nhất, THÁNH THIỆN, công giáo và tông truyền.” (1) Bốn đặc tính này chứng minh điều sau đây:
Người viết bài này cũng có chức phận ”khác với” Mục Tử, nhưng nó cũng là Giáo Hội, là Kitô hữu, là Kitô khác, tức là giáo DÂN cũng ĐƯỢC MẶC LẤY CHÚA KITÔ để cùng sinh, sống, chịu khổ nạn, chịu tử nạn, chịu chôn với tội lỗi của mình, rồi được phục sinh, tức chiến thắng tội lỗi mà hiển trị VỚI Chúa Kitô như tiếng nhạc mở đầu chương trình phát thanh Đài Vatican: ”Christus vincit! Christus regnat! Christus, Christus imperat! – Kitô chiến thắng! Kitô ngự trị! Kitô, Kitô quản trị!”
Theo lời đề nghị của nhiều người, tôi xin mạo muội nêu lên nguồn gốc và ý nghĩa của các chữ ”tư tế, ngôn sứ, quân vương” như sau:

A- Chữ Hán-Việt ”tư tế, ngôn sứ, quân vương”
1- Tư tế
Có nghĩa là THÁNH HIẾN MÌNH. Trong bài ”ca nhập Lễ”, có câu: ”Con sẽ bước lên Bàn Thánh, TẾ LỄ MÌNH, làm CỦA LỄ HY SINH.” Chữ ”tế lễ mình” được dịch sang tiếng Pháp, Anh là ”se sacrifier, sacrifice oneself”, do gốc Latinh là ”se sacrificare”. Tiếp đầu ngữ ”sacri” là cách biến âm của chữ ”sacer” có nghĩa là THÁNH.
Chữ ”tư tế” được dịch từ chữ Latinh ”sacerdos, sacerdotis”, có nghĩa là ”linh mục, của linh mục”. Chữ này có hai thành phần: ”sacer” và ”dos, dotis” do động từ Latinh là ”dare, do, das, dedi, datum: cho, tặng, làm” (2), sang tiếng Pháp thành ”dot: hồi môn” là ”của riêng” mà người đàn bà mang theo để về nhà chồng. Khi bà ta qua đời hay đi tu thì của này được đưa vào tu viện. Chữ ”sacrement” hay còn gọi là ”acte sacramental” là ”phép THÁNHHÓA”, là nghi thức THÁNH HIẾN con người hay ”bánh-rượu Lễ” là đối tượng của phép ấy. Vì thế, khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy (Rửa Tội), tôi được ”cho” Dầu THÁNH, được DÂNG CHO Thiên Chúa để mặc-lấy-Đấng-THÁNH, để trở thành CON của Ngài, CON của Giáo Hội và CŨNG là Giáo Hội, tức là HIỀN THÊ của Chúa Giêsu, là BẠN ĐỜI của Ngài, KHÔNG phải là ”trăm năm”, mà đến ngày sau VĨNH HẰNG! Là ”Hiền Thê của Kitô” NÊN tôi có của ”Hồi Môn”, có Chức Tư Tế TRONG hàng giáo DÂN. (3)
2- Ngôn sứ
Như vậy, tôi CŨNG ”có chức” Ngôn Sứ cho người NGOÀI Đạo và cho người TRONG Giáo Hội. Xin trích dẫn Lời Chúa trong Kinh Thánh và Sách Giáo Lý để chứng minh điều mà tôi vẫn luôn xác tín như vừa RỒI, để nhiều giáo dân ĐỪNG cho rằng đó là điều không tưởng (utopie), để họ KHỎI lên án giáo dân ”quèn” như tôi là ”KẺ THẤP HÈN đòi xôi gấc, dám lộng ngôn, phạm thượng”, và để họ cũng được Chân Lý giải thoát KHỎI mặc cảm TỰ TI rằng họ không ”có chức” gì cả!
Nếu không có chức vụ THÁNH HIẾN MÌNH và NGƯỜI KHÁC, nếu CHẲNG nhận Chức Ngôn Sứ từ Chúa Kitô (Đấng được SAI ĐI Loan Báo Tin Mừng) THÌ tôi ”có chức” gì? Không lẽ là ”chức ma, chức quỷ”? Rõ ràng là KHÔNG vì Thánh Phêrô khẳng định: ”Ngõ hầu, nhờ đó, anh-chị-em được THÔNG PHẦN Bản Tính Thiên Chúa…” (2 Phêrô 1,4) Nếu là kẻ VÔ DỤNG, chẳng thèm LOAN BÁO Tin Mừng thì tôi như đầy tớ ĐEM CHÔN nén bạc, không biết làm lợi cho chủ, như HẠNG ”vô tri, bất mộ” Lời Chúa dạy trong Matthêô 5, 13-16:“Các con là MUỐI đất…, là ÁNH SÁNG cho thế gian… phải CHIẾU TỎA trước mặt thiên hạ để họ THẤY những việc TỐT ĐẸP của các con mà TÔN VINH CHA của các con trên Trời.”
3- Quân Vương
Là Kitô hữu nên tôi có chức ”quân vương” như Giáo Lý số 786 khẳng định: ”DÂN THIÊN CHÚA THỰC HIỆN CHỨC QUÂN VƯƠNG CỦA MÌNH bằng cách sống phù hợp với ƠN GỌI ẤY là phục vụ VỚI Chúa Kitô.” Giáo Lý số 1216 ghi tiếp: ”Chúng ta gọi phép RỬA TỘI là ƠN BAN ân sủng, SỰ XỨC DẦU, sự soi sáng, y phục KHÔNG hư nát, sự tắm bằng việc tái sinh, ẤN TÍN, và tất cả những gì QUÝ BÁU NHẤT.” (Tôi dịch hơi khác bản tiếng Việt của Tu-Sĩ Xa-lê-diên.)
Vâng, dù KHÔNG được ”đưa vào HÀNG” như Giám Mục, Linh Mục, Phó Tế, nhưng, KHI được rửa tội, DÙ ở trong hàng giáo DÂN, tôi CŨNG đón nhận THÁNH LINH để trở thành QUÝ TỬ của Chúa; từ em bé nô lệ nguyên tội (péché originel), tôi được nâng LÊN (relevé) hàng ÂN TỬ, được xếp (ordonné: classifié) vào HOÀNG TỘC GIÊSU (Quân-Vương), được mở cửa VÀO sự sống TRONG Chúa THÁNH THẦN, vào các Bí Tích khác dành cho giáo dân vì Phép THÁNH Thanh Tẩy là NỀN TẢNG của đời sống Kitô hữu, VÌ TẤT CẢ các Bí Tích KHÁC đều QUY VÀO (ordonnés à) Phép THÁNH Thanh Tẩy. Rõ ràng Thánh Phêrô viết như sau:”Còn ANH-CHỊ-EM, dòng giống được tuyển chọn, HÀNG TƯ TẾ QUÂN VƯƠNG, một NƯỚC THÁNH THIỆN, dân tộc được sở hữu.” (I Phê-rô 2,9). Thánh Léon Cả (serm.4,1) nói: ”Dấu Thập Giá làm cho những người được tái sinh trong Chúa Kitô trở thành QUÂN VƯƠNG, việc xức Dầu Thánh Linh THÁNH hiến họ THÀNHLINH MỤC (l’onction du Saint-Esprit les consacre COMME PRÊTRES) để, NGOẠI TRỪ việc phục vụ ĐẶC BIỆT là THỪA TÁC VỤ của chúng tôi, TẤT CẢ các Kitô hữu có tinh thần và sử dụng lý trí của mình, nhận ra mình LÀ dòng giống QUÂN VƯƠNG này và LÀ người dự phần VÀO chức năng TƯ TẾ…Và còn gì mang tính tư tế CHO BẰNG hiến dâng lên Thiên Chúa lòng trong sạch và dâng lên BÀN THỜ LÒNG MÌNH hy lễ không tỳ vết của lòng đạo đức?” (số 786)
Trong phần nói về ”ba chức vụ” của giáo dân, số 897- 945, Sách Giáo Lý ghi nhiều điểm nổi bật của họ, đặc biệt ở số 899 như sau : ”Các tín hữu giáo DÂN nằm ở HÀNG ĐẦU HẾT trong sự sống của Giáo Hội; NHỜ HỌ, Giáo Hội là nguyên lý SỐNG ĐỘNG của xã hội. HỌ LÀ GIÁO HỘI.” Số 904 ghi thế này: ”Chúa Kitô hoàn thành chức năng ngôn sứ của Ngài KHÔNG CHỈ qua hàng giáo PHẨM (hiérarchie), mà CÒN qua giáoDÂN…” Cụ thể hơn nữa là các phần Giáo Lý sau đây:

B- Về Tư Tế
Khi gia nhập DÂN THIÊN CHÚA nhờ đức tin và Phép RỬA TỘI, CHÚNG TA dự phần vào ơn gọi ĐỘC NHẤT của Dân Tộc này: ơn gọi tư tế: Chúa Kitô, Thượng Tế được chọn giữa loài người, biến DÂN TỘC MỚI NÀY THÀNH vương quốc, những LINH-MỤC (3) cho Thiên Chúa, Cha Ngài. ĐÚNG THẾ, những NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC RỬA TỘI nhờ việc tái sinh và việc xức dầu của Thánh Linh, được THÁNH HIẾN ĐỂ LÀM nơi cư ngụ linh thiêng và HÀNG TƯ TẾ THÁNH THIỆN.

C- Về Ngôn Sứ
DÂN THÁNH của Thiên Chúa CŨNG dự phần VÀO chức năng Ngôn Sứ của Chúa Kitô. Nhất là HỌ LÀ NGÔN SỨ nhờ cảm thức siêu nhiên của đức tin vốn là tri năng của TOÀN Dân Ngài, giáo DÂN cũng như hàng giáo PHẨM khi DÂN NÀY kiên trì gắn bó với đức tin đã được truyền lại cho các THÁNH một lần là dứt khoát và khi họ đào sâu thêm sự hiểu biết về đức tin và trở thành chứng nhân cho Chúa Kitô nơi trần thế này.

D- Về Quân Vương
Sau cùng, DÂN THIÊN CHÚA dự phần VÀO chức năng quân-vương của Chúa Kitô. Chúa Kitô sử dụng vương quyền của Ngài bằng cách LÔI KÉO MỌI người đến với Ngài nhờ sự chết và phục sinh của Ngài. Chúa Kitô, Vua và Chúa vũ trụ, đã trở thành ĐẦY TỚ của mọi người, Ngài đến KHÔNG phải để được phục vụ, NHƯNG ĐỂ phục vụ và để hiến mạng sống của Ngài làm giá chuộc cho nhiều người. (Mt 20,28). Đối với các Kitô hữu, ”NGỰ TRỊ LÀ PHỤC VỤ NGÀI”, đặc biệt TRONG người NGHÈO và người ĐAU KHỔ, trong những người ẤY, Giáo Hội NHẬN RA hình ảnh của Đấng Sáng Lập ra mình.
Kinh Thánh và Sách Giáo Lý dạy như trên. Vậy thì có gì khác biệt giữa Hàng Giáo PHẨM và giáo DÂN không? Số 872 ghi: ”Do được tái sinh trong Chúa Kitô, giữa TẤT CẢ tín hữu của Chúa Kitô, có sự BÌNH ĐẲNG thật sự về phẩm giá và hoạt động, chiếu theo sự bình đẳng này, mọi người đều cộng tác vào việc xây dựng Thân Thể Chúa Kitô TÙY theo điều kiện và chức năng của mỗi người.”
Có sự khác biệt (4) KHÔNG có nghĩa là ”hơn, thua” vì Thánh Gioan Kim Khẩu dạy rằng ”nói hơn thua” GIỮA Hàng Giáo PHẨM và hàng giáo DÂN là CÓ TỘI!

III- Lời kết 
Ngày nay, giáo dân KHÔNG nói ”Tôi đi XEM LỄ”, mà có QUYỀN tuyên xưng: ”Tôi đi DÂNG LỄ! Đời tôi CŨNG là Thánh Lễ KÉO DÀI từ Thập Giá ở Canvê, trước Bàn Thờ, trong gia đình và ngoài xã hội DÙ tôi là đứa bất xứng, đầy tội lỗi.
Với những tâm tình vừa nêu, con xin các Ngài Mục Tử noi gương Chúa Cứu Thế, ÔM chiên vào lòng DÙ đó là chiên lạc hay là chiên ghẻ lở.

Đaminh Phan văn Phước
Đức Quốc, 19.9.09


Ghi chú:
1- Anh em Tin Lành không dùng chữ ”tông truyền” trong Kinh Tin Kính.
2- Chữ ”do, did” trong tiếng Anh mượn chữ ”do, dedi” của tiếng Latinh. Ví dụ: ”Could you do me a favo(u)r, please?” Chữ ”date, Datum: ngày, tháng, năm” là QUÀ ÔNG TRỜI cho. Chữ ”édition” là xuất bản, tức là cho ra ngoài. (e, ex: ngoài)
3- Gọi là ”chức linh mục cộng đồng” vì tất cả các tín hữu (giáo DÂN hay giáo sĩ thuộc hàng giáo PHẨM) ”đều được tham dự vào” (chức ấy) nhờ phép Rửa Tội. Sự tham dự này cho MỌI tín hữu khả năng tự mình dâng lên Chúa lễ tế Thánh Thể, NHỜ TAY LINH MỤC THỪA TÁC cũng như họ có thể kết hợp với lễ vật hy sinh là Chúa Kitô trong KHI RƯỚC LỄ và, NHƯ VẬY, được dâng chính MÌNH lên LÀM lễ thiêng liêng DÂNG LÊN THIÊN CHÚA.
4- Có nhiều sự khác biệt. Xin nêu vài điểm như sau: Giáo dân đọc Lời Truyền để tin, sống và truyền Đạo; Linh Mục đọc Lời Truyền để dâng Thánh Lễ thì bánh-rượu trở thành Thịt-Máu của Chúa Giêsu. Giáo dân chỉ có thể làm phép rửa tội khi cần kíp.
5- Links:


Thứ Hai, 16 tháng 11, 2015

KHO TÀNG


Nếu định nghĩa chiến tranh là sự giành giật lẫn nhau kho tàng nào đó, thì chẳng ngày nào lại không có chiến tranh. Vợ chồng lời qua tiếng lại với nhau chỉ vì không thuận ý cách dạy con. Kẻ đi làm, người nghiệp chủ tranh chấp nhau vì đồng lương không thỏa đáng. Nhẹ thì chỉ là lời xúc xiểm, nặng lại sử dụng vũ lực, thậm chí “tiên hạ thủ vi cường”
Ấy là nói chuyện nho nhỏ trong nhà. Ra đường phố thì sự éo le tăng lên gấp vạn lần! Kẻ cộc cằn có cách thể hiện rất chóng vánh là dùng nắm đấm. Kẻ quỷ quyệt lại gắp lửa bỏ tay người để mình được vô vi tĩnh tại. Kẻ nhiếc móc thì tẩm ngẩm tầm ngầm tước dần sự an bình của “đối thủ” bằng những lời nghe rất nhẹ nhưng sự ăn mòn thì chẳng kém gì acid. Cứ lôi tất cả mọi rác rến về nhà thì chẳng ai tranh chấp, thậm chí còn nghe được hai chữ “đồ ngu”! Nhưng nếu lén để bịch rác của ai đó vất lẻ loi giữa đường vào trước cửa nhà nào trong xóm, thì thế nào cũng có lửa khói, ít ra trong con mắt hằn học, trong những lời xúc xiểm chẳng ra gì của những người được mệnh danh là hàng xóm!
Nhưng nếu đó không là một bịch rác hôi hám, mà là một chiếc ví có vẻ đầy đặn, thì cửa dù khóa 3, 4 lớp, người ta cũng lăn xả ra…tranh phần! Chiến tranh phải nổ ra thôi, cho dù những kẻ ẩu đả nhau chẳng ai là chủ nhân thật sự của chiếc ví biết đâu chỉ có mấy thứ giấy tờ vô nghĩa ấy!
Ngay trong gia đình, nơi mà tình yêu luôn là yếu tố cốt lõi khiến nó bền vững, thì cũng chẳng thiếu gì cảnh anh chị em cắn xé lẫn nhau vì chút lợi lộc trần trụi: một khoảng sân, một căn nhà của mẹ cha để lại…Vật chất làm con người tối mắt, dù “kho tàng” ấy cũng sẽ mai một, cũng sẽ thật mất đi vì có ai mang theo được khi về đất lạnh!
Chẳng cứ gì lợi ích vật chất mới làm gãy đổ mối bang giao. Sự ghen tuông vì tình cảm, thậm chí còn châm ngòi cho cuộc chiến dài lằng nhằng hơn, đau khổ hơn.
Chiến tranh luôn cần vũ khí. Thứ gì hạ gục địch thủ nhanh nhất và hiểm ác nhất luôn được người ta cầu kỳ nghiên cứu, sản xuất, để kẻ trong cuộc mau chóng đem về nhà mình nhanh nhất, để ra tay trước cho…chắc ăn! Mọi người làm thế, vì họ quyết liệt nghĩ rằng, đối thủ của mình cũng…ác không kém mình khi ra tay, và cũng không hề chậm hơn mình mà diễu võ. Nghĩa là, tình yêu chẳng có tí ti ảnh hưởng đến chiến tranh dành quyền, lợi…
Vậy mới thấy tiên tổ của người  Ki tô hữu Việt Nam thật khác biệt, thậm chí đối chọi với cách xử lý cuộc chiến! Thật ra, họ có chiếm cứ của bất cứ ai thứ gì đâu! Vì ngay cả “Nước Trời” là thứ họ hằng ao ước thì rộng rãi đến nỗi không hề thiếu chỗ cho bất kỳ ai, thì các bậc tiền nhân ấy, mà cụ thể là Các Thánh Tử Đạo Việt Nam luôn cố công chiếm hữu chỉ với niềm tin và sự hy sinh. Họ không hề dành Nước Trời cho chính mình, nên không thể có chiến tranh với bất kỳ ai, vì “Nước Trời Là Của Họ” và của cả mọi người. Họ chỉ chiến đấu với chính mình, với ý niệm rất rõ ràng rằng, ai khao khát Nước Chúa Trời, ấy là phúc thật, để không bao giờ họ phải mang theo bên mình dù chỉ cây gậy nhỏ để đánh lại kẻ ngược đãi mình…
Quả thế, họ quên xác thịt của mình, đến nỗi những hành vi bạo lực vô nhân tính có trút lên thân thể đẫm máu của họ, thì họ lại càng thêm tin cậy vào Đấng vì mọi người mà chịu khổ hình trên Thập Giá. Cho dù mắt họ có bị chọc thủng, thì con mắt đức tin của họ lại càng ngời sáng khi nhìn về Quê Trời. Cho dù chân tay họ có bị xiềng xích, bị rũ liệt vì bị tra tấn bạo ngược thì tứ chi đức tin của họ lại mạnh mẽ hơn bao giờ hết…
Họ đã dâng mọi sự cho Thiên Chúa! Mọi của cải đời này đều chẳng có chút gì giá trị so với Nước Trời! Họ chiến đấu vì Nước Trời ấy với niềm tin mãnh liệt, đến độ, chẳng bao giờ dùng tới bất cứ khí giới gì do con người tạo ra…
Kho tàng Nước Trời là vô giá. Để đoạt lấy Nước Trời, thì chỉ có mỗi một cách duy nhất: Phó thác vào tay Chúa Quan Phòng!
                                                                                                                                                                              LAM TRẦN 14/11/2015

Chủ Nhật, 15 tháng 11, 2015

"ĐÂY BÀI CA NGÀN TRÙNG ...."


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT XXXIII MÙA THƯỜNG NIÊN B  - 15/11/2015

LỄ KÍNH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 

                                                                                           Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Hôm nay lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Một bầu khí đại lễ thật hào hùng. Phụng vụ trổi lên lời hoan ca chúc tụng: "Đây bài ca ngàn trùng. Dâng về Thiên Chúa. Bài ca thắm đượm máu hồng. Từng bao người anh dũng tiến lên hy sinh vì tình yêu".
Vâng, cuộc đời các thánh tử đạo là một bài ca dâng về Thiên Chúa. Các ngài ca ngợi Thiên Chúa khi bình an, khi gian nan, khi dòng đời êm trôi và cả khi sóng gió ba đào. Các ngài ca ngợi Chúa trong bổn phận thường ngày, khi đầu hôm sớm mai nơi ruộng vườn, nơi phố xá chợ thị. Các ngài còn ca ngợi Chúa khi đối đầu với sự bách hại vì tin mừng. Các ngài ca ngợi Chúa trong mọi nơi, trong mọi lúc. Đỉnh cao của lời ca ngợi là bài ca vinh thắng thắm đượm máu đào. Các ngài đã chiến thắng gian nan, cùm gông, tù đầy. Các ngài đã vượt lên trên sự sợ hãi của đe doạ đến cả tính mạng để tôn vinh Thiên Chúa mà các ngài tôn thờ. Các ngài đã dùng cả cuộc đời để ca ngợi Chúa. Cho dù cuộc sống có nổi trôi, bất định, các ngài vẫn trung kiên tin thờ Thiên Chúa.
Cuộc đời các ngài là một bài ca, thế nên các ngài cũng đáng được ca ngợi. Ca ngợi hôm qua, hôm nay và mãi mãi. Vì chưng các ngài là những người có phúc vì dám sống triệt để trang tin mừng yêu thương của Chúa trong cuộc sống của mình.
Các ngài dám nói lời tha thứ ngay trong những xúc phạm mà người đời đang tuôn đổ lên các ngài.
Các ngài đã có thể nhìn thấy hoa hồng nở rộ ngay trong đau đớn của cực hình.
Các ngài dám đi ngược lại với thế gian, vì phải vâng lời Thiên Chúa hơn là người ta.
Nhìn vào cuộc đời các ngài, ta thấy, đó là một cuộc đời thật đẹp. Đẹp trong cuộc sống thường ngày luôn chu toan bổn phận của mình, luôn sống chan hoà tình bác ái với mọi người. Như bà thánh Đê là mẹ của sáu người con. Tất cả những người con, cô Nụ, cô Mận khi làm nhân chứng đều nói rằng: "Mẹ tôi rất đạo đức, luôn dạy con cái ăn ngay ở lành, tối sớm kinh nguyện...".
Đẹp trong cả những gian nan khi bị người đời ghét bỏ, các ngài vẫn thương yêu, vẫn thứ tha, vẫn ôn hoà để làm chứng cho lời tin mừng yêu thương, đế nỗi mà những người hành quyết các ngài vẫn cảm phục yêu mến đức hạnh các ngài. Như trong vụ án linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói: "Tôi thấy cụ khôn ngoan đạo đức thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cỗ quan tài để biểu lộ lòng tôi quý cụ".
Đẹp trong cả cái chết luôn một mực nói lời yêu thương. Như trường hợp ông Cai Tả thì yêu thương để xứng với tình Chúa yêu, ông thường châm chước cho những người mắc nợ và nói: "Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình ". Với ông Năm Quỳnh thì bác ái rõ rệt là hoa quả của đức tin, ông từng nói với gia đình: "Bà và các con không đồng ý cho tôi lấy của nhà để giúp người nghèo, tôi sẽ đi vay mượn hoặc làm thuê kiếm tiền giúp đỡ họ ". Vì ông nói: "Tôi chưa thấy ai hay giúp người nghèo khó lại túng bấn bao giờ. Kinh Thánh chẳng dạy chúng ta coi họ như chi thể của Chúa đó sao? Chúa đã cho chúng ta sống, tất sẽ quan phòng cho ta đủ dùng".
Như vậy, tử đạo không chỉ là đổ máu. Tử đạo là dám chết đi con người ích kỷ của mình, chết đi cho thói đời tham sân si mù quáng. Chết đi những đam mê nhục dục để hèn. Tử đạo là dám sống vì tin mừng mà chịu thua thiệt, chịu mất mát. Tử đạo là yêu cho đến cùng và sống trọn vẹn những đòi hỏi của luật yêu thương.
Mừng kính các thánh tử đạo Việt Nam, xin cho chúng ta là con cháu biết noi gương các ngài để tiếp tục là bài ca ca ngợi Thiên Chúa. Ca ngợi Ngài bằng cả cuộc sống thắm đượm tình Chúa tình người. Ca ngợi Ngài mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Nguyện xin các thánh Tử đạo Việt Nam dẫn dắt chúng ta luôn bước đi trong tình yêu Chúa. Amen.


Thứ Bảy, 14 tháng 11, 2015

PHIM : " ÁO DÒNG ĐẪM MÁU "








"Áo Dòng Đẫm Máu" là một bộ phim thuộc thể loại lịch sử Công giáo, bối cảnh diễn ra dưới thời vua Thiệu Trị và Tự Đức, của đạo diễn Nguyễn Thành Châu, ra mắt năm 1960 tại Miền Nam
Kịch bản phim của cố linh mục Phêrô Nguyễn văn Hoàng-Yến, Dòng Chúa Cứu Thế. Phim nói về cuộc tử đạo của Thánh Philipphê Phan Văn Minh ở Cái Mơn vào thời vua Tự Đức.
Trong phim, vai Thánh Phan Văn Minh do cố tài tử Vân Hùng thủ diễn. Cố tài tử La Thoại Tân vai Nhẫn là một kẻ ham mê bài bạc vì một phút tức giận đã đi tố cáo quan quân bắt linh mục Phan Văn Minh. Thẩm Thúy Hằng, một minh tinh màn bạc của Miền Nam thời bấy giờ vào vai Dung là người yêu của Nhẫn. Trong phim còn có Trang Thiên Kim vai Hạnh cô gái mặt cháy, Túy Hoa vai bà trùm là một chức sắc trong họ đạo đã nuôi giấu linh mục Phan Văn Minh.
Nhân dịp này ta điểm qua về lịch sử bách hại đạo Công giáo dưới thời Vua Thiệu Trị (1840-1847) và Vua Tự Đức (1847-1883):
Thời vua Thiệu Trị: có 2 Sắc Chỉ bắt đạo. Thời kỳ này có:
-  Thánh Nữ Inê Lê Thị Thành, là vị thánh nữ duy nhất mới được tôn phong, bị tra tấn dã man đến chết trong tù.
- Linh Mục Phêrơ Khanh bị trảm quyết năm 1842
- Thánh Mathêu Lê Văn Gẫm bị xử năm 1847.
Đến năm 1847, sau khi thất bại trong cuộc tranh chấp với đoàn tàu Pháp tại cửa Hàn, vua phản ứng bằng cách đổ hết tội lỗi trên đầu người Công Giáo, và ngày 3-5-1847 vua ban hành sắc lệnh lùng bắt các Linh Mục Thừa Sai ngoại quốc.
Thời Vua Tự Đức: có đến 13 Sắc Chỉ bắt đạo. Nhiều lệnh như thế minh chứng quyết tâm nhà vua muốn tận diệt Đạo Thiên Chúa bằng mọi giá, và tận diệt suốt trong 36 năm chấp chính. Đạo Công Giáo được định nghĩa không những như một Tả Đạo mà còn tệ hơn nữa, như một tôn giáo xấu xa, "một dịch tể".
Nội dung những sắc lệnh đó thật khủng khiếp, dã man:
 - Các thành phần trong Hội Đồng Giáo Xứ phải bị bắt. Những người chứa chấp Đạo Trưởng sẽ bị phân thân và buông sông.
- Giáo dân không chịu đạp Thánh Giá sẽ bị khắc hai chữ Tả Đạo trên mặt và đi đầy biệt xứ.
- Ai cố chấp xưng đạo: Đàn ông sẽ bị cưỡng bách tòng quân, đàn bà bị tuyển làm nô tì.
- Binh sĩ Công Giáo không đạp ảnh Thánh Giá sẽ bị giải ngũ, bị khắc hai chữ Tả Đạo và bị đầy chung thân.
- Giới Quan Lại Công Giáo: cả những ai đã chối Đạo cũng bị cách chức. Những ai trung kiên sẽ bị trảm quyết.
- Các nữ tu, không được cấp giấy thông hành để di chuyển ngoài địa phương mình đang ở. Ai không tuân lệnh sẽ bị tù chung thân, hay làm nô tì cho các Quan.
- Các Linh Mục Việt Nam, đạp Thánh Giá hay không đều bị phân thân để nêu gương. Linh Mục ngoại quốc thì bị trảm quyết, đầu phải treo luôn 3 ngày, rồi buông sông hay ném xuống biển.
- Các cơ sở Công Giáo phải bị đốt phá và tiêu huỷ.
Thời kỳ này có đến 50 vị Thánh tử đạo đã chết bởi bàn tay hung ác của Tự Đức, trong đó có Thánh Philipphê Phan Văn Minh bị xử trảm ngày 3/07/1853 tại Ðình Khao dưới đời vua Tự Ðức.
Phim này đã có nhiều ở trên mạng, nhưng bộ phim mới này có nhiều điểm đặc sắc theo lời thiệu của Đạo diễn Cao Dương Hùng như sau:
- Đây là bộ phim Công giáo duy nhất trong lịch sử phim ảnh VN
- Bộ phim này có nguồn từ đĩa DVD gốc của Trần Minh Giàu lấy từ bên Mỹ về, không biết vào Viện bảo tàng ở New York hay bằng cách nào mà có được.  
- Ở trên mạng ta thấy phim này được chia ra làm nhiều tập có chất lượng thấp. Nay Viện NCQLVHTW biên tập lại và nâng cấp chất lượng phim lên HD và chiếu toàn tập.
- Các tài tử lúc đó dựa vào sắp đẹp tư nhiên mà đóng phim, chứ không chỉnh sửa như bây giờ.
- Theo lời CDH nghe ông Cố kể hồi còn nhỏ, trong phim ta thấy Thẩm Thúy Hằng bị nhiều đòn roi. Lúc đó Thẩm Thúy Hằng là diễn viên danh giá bậc nhất của MNVN nên mỗi roi cô này chịu phải trả đến 50 đồng, tính ra phải trả tổng cộng một số tiền rất lớn thời đó...
Mời các bạn xem
MS

(Nguồn:hanhkhatkito.org)

Thứ Sáu, 13 tháng 11, 2015

NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO CHƯA ĐƯỢC PHONG THÁNH

Giáo hội Công giáo Việt Nam đã diễm phúc khi có 117 vị tử đạo được phong thánh và một vị được tôn phong chân phước. Tuy nhiên, theo nhiều sử liệu những chứng nhân tử vì đạo ở Việt Nam có thể hơn 130.000 vị và cũng có thể là ngoài 300.000 người đã ngã xuống để làm chứng cho đức tin từ ngày Tin Mừng hiện diện trên mảnh đất hình chữ S
Cuối tháng 9, chúng tôi có dịp ghé thăm một vài giáo xứ thuộc giáo phận Thái Bình – địa phận có 19 thánh nhân trong hàng ngũ 117 vị Hiển thánh (5 linh mục, 4 thầy giảng, 5 nông dân, 4 ngư dân và 1 thợ may) và hơn 500 vị tử đạo. Tại nhiều nhà thờ chúng tôi đến, nhiều ngôi mộ tập thể đã được cải táng hoặc còn nguyên vẹn từ ngày đầu chôn những chứng nhân đức tin sẵn sàng chọn cái chết để không bước qua Thánh Giá hay vì “ngoan cố không chịu bỏ đạo”.
Hài cốt các tử đạo họ Kính Danh 
Ở họ lẻ Kính Danh thuộc giáo xứ Đông Thành, hạt Tiền Hải, một họ lẻ có khoảng 500 nhân danh, nhưng Kính Danh tự hào là quê hương của các Thánh tử đạo với hai hiền phúc là Thánh Đaminh Vi và Phêrô Khang. Dưới tầng hầm cung thánh nhà thờ còn có 38 hài cốt được cho là của các vị tử đạo trong họ, có bộ còn nguyên vẹn, có bộ đã bị hư hại đôi chỗ nhưng được xếp đặt trang trọng bên thánh tích của hai Thánh. Ông Bùi Xuân Giản, người có ba đời là chánh tổng, chánh trương họ Kính Danh, cho biết: “Theo các tài liệu của các cụ để lại, đặc biệt là công hàm cổ của GP Bùi Chu (trước họ Kính Danh thuộc Gp Bùi Chu), dưới cung thánh có 41 vị tử đạo được chôn chung nhưng khi chúng tôi xây mới nhà thờ vào năm 2010, đào lên chỉ tìm được 38 bộ hài cốt. Ở mỗi vị đều có thẻ bài trùng tên với tài liệu của giáo họ, tuy có một số thẻ đã bị hư hại không thể đọc được nhưng đa phần chúng tôi vẫn phân biệt được các vị với nhau”.
Nhắc đến Thái Bình sẽ thật thiếu sót nếu không kể đến giáo xứ Kẻ Bái (Bồ Ngọc ngày nay), hạt Đông Hưng, giáo xứ đầu tiên của giáo phận. Với hơn 375 năm đón nhận Tin Mừng (1639), giáo dân Kẻ Bái đã không ít lần đối mặt với nguy nan trước cuộc bách hại đạo. Nhưng lòng đạo của giáo xứ nằm bên dòng sông Luộc vẫn vững vàng và minh chứng cụ thể nhất chính là ba giáo dân được Giáo hội tôn phong Thánh Tử đạo và hai mươi hiền phúc tử đạo sinh trưởng tại Kẻ Bái. Trên đất Kẻ Bái còn có Đống Năm Mươi, nơi giam cầm và thiêu sinh năm mươi vị tử đạo năm 1862. Đống Năm Mươi ấy ngày nay đã được các cha xứ dựng làm nhà nguyện nhỏ trong nghĩa trang giáo xứ và một lăng chôn cất 13 tử đạo của xứ như để lưu giữ một chứng tích kiên trung của giáo dân Việt nói chung và Thái Bình nói riêng.
Đống Năm Mươi ngày nay
Cách Tòa Giám mục Thái Bình khoảng 70km, chúng tôi ghé thăm giáo họ Trần Xá thuộc giáo xứ Cao Xá, hạt Hưng Yên, một giáo họ lâu đời của giáo phận Thái Bình. Phía trước ngôi nhà thờ cổ được dựng bằng gỗ có niên đại hơn trăm tuổi là một lăng nhỏ chôn chung 18 vị trong số  42 tử đạo của giáo họ cạnh lăng của cha Thánh Giuse Tuân. “Họ chúng tôi may mắn có một vị thánh và 42 vị tử đạo. Chính những tiền nhân anh dũng này đã giúp nhiều thế hệ trong họ vượt qua được nghịch cảnh cũng như khó khăn để giữ đạo”, ông Nguyễn Đức Đắc, trùm họ Trần Xá khẳng định. Riêng Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ, Giám mục GP Thái Bình cho hay, trong giáo phận còn rất nhiều lăng chôn tập thể các vị tử vì đạo, nhiều giáo xứ, giáo họ còn ghi lại địa danh là pháp trường xử các thánh Tử Đạo hoặc các vị tử đạo.
Cuộc bách hại đạo không chỉ diễn ra ở giáo phận Thái Bình mà ở khắp mọi miền đất nước. Nơi nào có dấu chân những tín hữu nơi đó đều ít nhiều thắm đẫm giọt hồng đức tin. Như  giáo xứ Kẻ Bền – GP Thánh Hóa, có một ngôi mộ tập thể chôn xác 72 giáo dân bị thiêu chết vào năm 1883. Tấm bia của mộ mang tên “Bia Cam Phần” đã được lập ngày 29.6.1910, ghi tên tuổi của 72 người bằng chữ Nôm và chữ Hán, từ trẻ em thai nhi cho đến người lớn 80 tuổi. Từ người mới theo đạo đến các cặp vợ chồng, hay những đứa trẻ mới được sinh ra cùng những bà mẹ mang thai, và có những người là anh em, họ hàng với nhau cùng những người là binh sĩ... Đã chết trong cuộc bách đạo.
Lăng tử đạo họ Trần Xá 
Ngược vào giáo phận Huế  có thể kể đến giáo xứ Cây Da nơi gần như toàn tòng và có bề dày lịch sử về sự phát triển của hạt giống Tin Mừng. Lăng tử đạo của giáo xứ chứa đựng 120 hài cốt các vị đã được phước tử đạo năm 1885, thời kỳ Văn Thân. Hay ở nhà thờ Mồ Vũng Tàu, cách nhà thờ Chánh tòa Vũng Tàu khoảng 300m, dù chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn, không có dáng vẻ gì đặc biệt, nhưng đây chính là nơi cất giữ 300 hài cốt của các tín hữu Bà Rịa tử đạo vào năm 1862 tại nhà ngục Phước Lễ.
Trải dài 3 thế kỷ, từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, từ thời chúa Trịnh, chúa Nguyễn, sang đến thời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, không biết bao nhiêu vị tử đạo đã gục ngã trong lao tù, hoặc bị tử hình dưới nhiều hình thức như xử trảm, thắt cổ, phân thây, voi dày, trầm hà, thiêu sinh, chôn sống, bắt nhịn đói đến chết trên quê hương Việt Nam. Hàng ngàn họ đạo, giáo xứ bị tiêu hủy và hàng vạn vạn người có đạo đã phải âm thầm dìu dắt nhau trốn vào rừng hoang núi hiểm để mong duy trì đức tin và bảo toàn mạng sống của mình. Không biết bao nhiêu người đã làm mồi cho dã thú hoặc chết vì đói khát bệnh tật. Với những cuộc bách hại đạo có biết bao gia đình phải tan cửa nát nhà, vợ chồng chia lìa nhau, con cái phải xa cha mẹ phiêu bạt khắp nơi, ngay cả vượt biên sang Lào, Camuchia và Thái Lan. Nhưng không vì thế mà hạt giống Tin Mừng biến mất trên đất Việt mà ngược lại còn vươn lên mạnh mẽ.
Mộ tử đạo vùng Bà Rịa 
Đi qua những ngôi thánh đường, nơi còn lưu giữ những ngôi mộ hay hài cốt các Thánh Tử Ðạo và những chứng nhân tử đạo; hay các địa danh như Bẩy Mẫu, Cầu Giấy, Hải Dương, Đồng Hới, Thợ Đúc, Trí Bưu, An Hòa, Bà Rịa..., xưa kia là những pháp trường diễn ra những vụ hành quyết rùng rợn... Để thấy rằng đức tin của giáo dân Việt Nam vẫn luôn tồn tại dẫu lịch sử có đầy bất trắc. Ở thời điểm nào công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo hội Công giáo Việt Nam vẫn tiếp diễn bằng cách này hay cách khác và những chứng nhân anh dũng vẫn xuất hiện trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ lịch sử. Những chứng nhân ngã xuống đã làm mảnh đất Việt thêm màu mỡ, phong phú cho đức tin triển nở. Và, những tín hữu sống sót như những vết dầu loang, đi đến đâu rao giảng Tin Mừng đến đó như chính lời nhận xét của giáo phụ Tertuliano “Máu các vị Tử Đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu”.


Trung Nhân
(Nguồn :cgvdt.vn)



Thứ Năm, 12 tháng 11, 2015

MỘT VÀI TẤM GƯƠNG ANH DŨNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM


- Thánh Linh mục Du bị trói vào một cây cọc. Có 3 lý hình, một cầm kìm, một cầm dao, còn một người lo đếm cho đủ 100 lát cắt. Trước đó, lính đã nhét đá vào miệng ngài và cột chặt, để không có thể kêu la hay bỏ chạy được. Sau một hồi trống, lý hình cắt lớp da trên trán Cha Du lệt xuống che mắt, rồi cắt từng mảng hai bên ngực, sau lưng, tay chân. Quá đau đớn Cha Du giãy giụa quàn quại, ngước mắt lên trời cao, rồi gục đầu xuống nhắm mắt lìa trần. Tiếp theo quân lính cắt đầu của vị tử đạo, bổ thân mình làm 4 và ném xuống biển. Còn thủ cấp Cha được đem đi bêu tại nhiều nơi, rồi đưa trả về kinh đô, bị bỏ vào cối giã nát và cho rắc xuống biển.
- Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.
- Hai Cha Điểm và Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.
Sáng ngày 5-6-1862, trước sự chứng kiến của rất đông người, hai giáo dân: Thánh Toại và Thánh Huyên bước vào cũi tre để bị thiêu sống. Những người hiện diện đều xúc động khi nghe rõ các ông cất tiếng nguyện cầu thật lớn, trong khi ngọn lửa hồng phừng phực bốc cao, thiêu đốt hai ông.
- Sau ba tháng tù tại Bình Định ông An-rê Nguyễn Kim Thông nhận được án phát lưu vào Vĩnh Long. Đường từ Bình Định vào Nam xa xôi, ông Thông cùng với bốn chứng nhân khác. Vì tuổi già sức yếu, lại phải mang gông siềng, ông bước đi một cách rất khó khăn, mệt nhọc. Mỗi ngày chỉ đi được bảy tám dặm, dưới ánh nắng gay gắt. Tối đến, đoàn tù nhân được tạm giam trong các đòn quan, hay nhà tù địa phương. Được vài ba ngày, lính thấy ông Thông đuối sức quá, sợ không thể đi tới nơi, thì thương tình tháo gông xiềng cho ông. Đến Chợ Quán, thấy tình trạng sức khỏe của ông quá tàn tạ, Cha Được đã đến ban phép xức dầu cho ông. Sau đó ông lại phải mang gông xiềng tiếp. Khi ông đặt chân lên đất lưu đày, ông chỉ kịp đọc kinh an năn tội, vài kinh kính mừng, rồi tắt thở. Hôm đó là ngày 15 tháng 5 năm 1855.
- Bà Thánh I-nê Đê (Lê Thị Thành), sau khi đã bị tra tấn và chịu đòn, coi trong người không có chỗ nào không bị thương tích, áo quần đầy máu me, bà đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục. Lời sau cùng của bà là: "Giê-su Ma-ri-a Giu-se, con phó thác hồn con và thân xác con trong tay Chúa, xin ban cho con trọn niềm tin ở Chúa." Hôm đó là ngày 12-7-1841, sau 3 tháng bị giam cầm về đức Tin.
- Riêng những vị xử trảm, cũng có những gương sáng lạng về việc các ngài coi thường sự đau đớn lúc bị chém đầu. Coi như các ngài ước ao được chém nhiều lần để biểu lộ lòng yêu mến Chúa. Trước khi bị chém Thánh Giám mục An nói với viên quan chỉ huy: "Tôi gửi quan 30 quan tiền để xin một ân huệ: Đừng chém tôi một nhát nhưng 3 nhát. Nhát thứ nhất tôi tạ ơn Thiên Chúa đã tạo dựng nên tôi, và dẫn tôi đến Việt Nam giảng đạo. Nhát thứ hai để nhớ ơn cha mẹ sinh thành ra tôi. Nhát thứ ba như lời di chúc cho các bổn đạo của tôi, để họ bền chí chết vì đức Tin, theo gương vị chủ chăn. Và như thế họ đáng hưởng hạnh phúc cùng các Thánh trên trời.”
- Năm ông Đaminh Nhi, ông Đa-minh Mạo, ông Đa-minh Nguyên, ông An-rê Tường, ông Vinh sơn Tưởng, bị xử chém đầu, thì trừ ông Đa-minh Nhi, bốn vị ông Đa-minh Mạo cùng các ông Đa-minh Nguyên, An-rê Tường, Vinh-sơn Tưởng, đều yêu cầu lý hình, thay vì chém một nhát, thì xin được chém 3 nhát để tỏ lòng tôn kính Chúa Ba Ngôi.
- Riêng Thánh Hồ Đình Hy bị chém đầu, nhưng trước khi đem đi xử, giữa kinh thành Huế, trong ba ngày 15,18 và 21 tháng 5 năm 1857, thân mình ngài đầy thương tích, quần áo tả tơi, dính đầy máu, đi đứng lảo đảo như muốn té nhào, bị điệu qua các đường phố, những khu chợ và quanh thành nội. Lính mở đường đi trước rao tên tử tội, mỗi khi tới ngã ba đường, phố, chợ và công trường, người tử tội bị đánh 30 trượng, lính vác loa rêu rao: "Thằng theo tà đạo, đức ngỗ nghịch, bất hiếu với cha mẹ, cưỡng lại luật pháp triều đình. Vì thế bị kết án tử hình. Bọn Gia Tô tin rằng chết vì đạo sẽ lên Thiên đàng. Điều đó có đúng hay sai, không cần biết. Gia Tô của nó ở đâu? tại sao thấy nó khổ mà không đến cứu?"
- Sau một năm tù giam, An-rê Trọng vẫn cương quyết tuyên xưng đức Tin, các quan quyết định ngày xử là thứ bảy ngày 28-11-1835. Sáng hôm đó, anh gặp lại người anh họ. Người anh họ hỏi Thánh nhân có muốn ăn gì không? An-rê Trọng trả lời: "Em muốn giữ chay để dọn mình tử đạo", rồi nói tiếp: "Xin anh giúp đỡ mẹ em, chúng ta là anh em, mẹ em cũng sẽ yêu thương anh. Xin nhắn lời với mẹ em: Đừng lo gì cho em, cầu chúc bà mãi mãi thánh thiện và sẽ hài lòng vì con trai mình luôn trung thành với Chúa, cho đến chết."
Nhưng người anh họ chưa kịp về nhắn tin, bà mẹ An-rê Trọng đã đến đón con và theo con đến tận đầu chợ An Hòa, nơi An-rê sẽ phải xử. Gặp con, bà chỉ nói một câu: "Bấy lâu nay xa nhà, thời gian ở tù con có nợ nần gì ai không? Nếu có thì cho mẹ biết, mẹ sẽ trả thay con."
Khi được con cho biết không vướng mắc gì với ai, bà tiếp tục đi sát bên con, bình tĩnh nói với con những lời đầy khích lệ. Đến nơi xử, khi quân lính tháo gông xiềng, Thánh Trọng đón lấy, đưa cho anh lính cạnh bên và căn dặn: "Xin nhờ anh đưa giùm cái này cho mẹ tôi, để bà làm kỷ niệm."
Mẹ anh đứng gần bên nghe rõ, nhưng bà cho rằng chỉ nhận lấy kỷ vật đó mà thôi là chưa đủ, bà còn muốn đón nhận chính thủ cấp của con mình nữa. Bà can đảm, bước ra xin viên quan chỉ huy trao cho bà thủ cấp của con bà. Bọc trong vạt áo rồi ghìm chặt vào lòng, bà vừa hôn vừa lập đi lập lại: "Ôi con yêu quí của mẹ, con nhớ cầu nguyện cho mẹ. Rồi bà đem về an táng trong nhà.
LM.Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.    
(Nguồn: menchuayeunguoi.com)

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2015

TÌM HIỂU ĐÔI NÉT VỀ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM




Trong suốt 300 năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách, trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.

Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các cơn bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh...

Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp bốn trăm ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức...

Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người công giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo...

Như thế, con số Cha Ông Tử Đạo chúng ta, trong ba trăm năm bị bắt Đạo, phải tính lên đến ba trăm ngàn người trong vòng ba trăm năm. Nếu tính theo tỷ lệ, trong ba trăm năm bắt Đạo, cứ một trăm năm thì có một trăm ngàn Vị Tử đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo! (x.tonggiaophanhue.net).

1. Vài tư liệu.

a. Thời gian và con số:

+ Thời gian bắt đầu vào năm 1580 và chỉ kết thúc hoàn toàn vào năm 1888, kéo dài gần 3 thế kỷ.
+ Có khoảng 400.000 người bị lưu đầy, phát lưu và phân sáp. Hơn 100.000 người đã chết vì đạo trong số này đã có 117 vị được Giáo Hội chính thức tôn phong lên hàng hiển thánh vào ngày 19.6.1988.

b. Về các hình khổ: Các ngài đã phải chịu mọi thứ cực hình mà người ta có thể nghĩ ra được như:

- Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói.
- Bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng.
- Quyết liệt hơn thì bị trảm quyết tức là bị chặt đầu, bị xử giảo tức là bị thắt cổ, hay bị thiêu sống.
- Vô cùng man rợ và hiểm độc như bị xử lăng trì, phân thây ra từng mảnh hay là xứ bá đao.

c. Quá trình Giáo Hội phong thánh

* Ngày 27-5-1900 Đức Thánh Cha Lêo XIII phong 64 vị lên hàng chân phước.
* Ngày 20-5-1906 Đức Thánh Cha Pio X phong thêm 8 vị.
* Ngày 02-5-1909 cũng Đức Thánh Cha Piô X phong thêm 20 vị nữa.
* Ngày 29-4-1951 Đức Thánh Cha Pio XII phong 25 vị.

Trong 117 vị được phong chân phước có :

- 8 Giám mục ( Giám mục thuộc dòng Đaminh và 2 Giám mục thuộc Hội thừa sai 
Paris)
- 50 Linh mục (Gồm 37 là người Việt 
Nam, 8 thuộc Hội thừa sai Paris và 5 thuộc dòng Đaminh)
- 15 Thầy giảng
-44 Giáo dân thuộc đủ mọi thành phần xã hội: công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ...

d. Theo loại hình phạt

* 79 vị bị trảm quyết tức là bị chặt đầu. Như vậy là con số bị trảm quyết nhiều nhất.
* 18 vị bị xử giảo tức là bị thắt cổ.
* 8 vị chết rũ tù
* 6 vị bị thiêu sinh
* 4 vị bị lăng trì tức là phân thây ra từng mảnh
* 1 vị bị tử thương
* 1 vị bị bá đao

e. Về thời gian

* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Doanh
* 2 vị chịu tử đạo thời Trịnh Sâm
* 2 vị chịu tử đạo thời Cảnh Thịnh.
* 57 vị chịu tử đạo thời Minh Mạng
* 3 vị chịu tử đạo thời Thiệu Trị
* 51 vị chịu tử đạo thời Tự Đức

2. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVII(1625-1692)

Cũng như Giáo Hội Rôma ngày xưa, Giáo Hội Việt 
Nam từ giây phút đầu tiên được nghe rao giảng Tin Mừng, đã phải đối phó với những cơn giông tố dữ dội cấm Đạo nổi lên ác liệt.

Trong thế kỷ XVII (1625-1692)

- Dưới thờ Vua Sãi Vương bắt Đạo: cấm người công giáo làm bàn thờ trong nhà, không được mang chuỗi tượng công khai, chịu những hình khổ của tù nhân, không được làm những chức phận gì trong triều đình. Các nhà thờ bị triệt hạ, các linh mục ngoại quốc bị tập trung về Hội An và bị trục xuất ra khỏi nước.

Dưới thời Vua Thượng Vương bắt Đạo: người công giáo bị bắt bỏ tù, rồi lập hồ sơ đưa ra toà án: nếu là thầy giảng hay linh mục không chịu bỏ đạo thì chém đầu; nếu là giáo dân không chịu bỏ Đạo thì bị đánh bách trượng, bị cạo trọc đầu, bị chặt các đầu mút ngón tay, bị thả về tàn phế như vậy, không được cấp dưỡng gì hết.

Dưới thời Vua Hiền Vương bắt Đạo: các nhà thờ và các nhà nguyện công, tư bị triệt hạ; các tượng ảnh bị thiêu đốt, các thầy giảng và các chức việc bị bỏ tù; các linh mục ngoại quốc bị trục xuất ra khỏi nước; nhiều hình khổ rùng rợn được áp dụng như giam đói, giam khát, bị chặt đầu, phân thây, treo ngược vào cột để xé xác ra làm sáu phần; cho voi chà nát; đâm gươm vào hông; chặt đứt hai tay, hai chân, chỉ còn đầu và thân mình.

Dưới thời Vua Vua Ngãi Vương bắt Đạo: cấm ba tội, là tội đánh bạc, tội đá gà và tội theo đạo Công Giáo; các nhà thờ bị triệt hạ; thường dân theo Đạo Công Giáo thì bị bắt bỏ tù, sĩ quan có đạo thì bị truất chức; ai tố cáo người công giáo đi dự lễ thì được thưởng, ai biết mà không chịu đi tố cáo thì bị tội; ai không chịu chối Đạo thì phải mang gông phơi nắng chín ngày, bị thắt cổ, bị treo chân vào cột đánh đòn.

3. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XVIII (1698-1801)

Dưới thời Vua Minh Vương: người công giáo chịu thuế nặng gấp ba lần người không công giáo; ai cũng được tự do làm hại người công giáo bất cứ bằng cách nào; áp dụng nhiều hình khổ lạ hơn như xẻo hai tai, vấn dẻ vào các ngón tay rồi đổ dầu mà đốt; lấy dao khắc hình Thánh Giá vào trán người công giáo rồi xiềng hai chân với cổ lại, bắt đi bứt cỏ nuôi voi của Nhà Vua suốt đời, hình phạt nầy được gọi là Thảo tượng chung thân; lập chuồng giam người công giáo như giam súc vật: chuồng lợp lá, chật chội, người công giáo bị giam trong đó, có lính canh đêm ngày không cho họ ra khỏi, nhưng bên ngoài, lại có dọn đồ ăn rất ngon, lính canh đứng ngoài cứ hô to: “Nước đó, cơm cá đó. Cứ bỏ đạo rồi ra mà ăn, mà uống”...

Dưới thời Vua Võ Vương và Nhà Trịnh: hình khổ được áp dụng thêm, là kẹp các đầu ngón tay cho ra máu; lập nhà giam Sinh Tử, có hai cửa, một cửa gọi là Cửa Sinh, một cửa gọi là Cửa Tử, cửa Sinh có Dấu Thánh Giá, ai bước qua để đi ra thì được sống, cửa Tử có để thanh gươm, ai bước qua là tỏ dấu không muốn bỏ Đạo, thì bị xử tử.

Trong thời kỳ Nhà Tây Sơn bắt Đạo, đặc biệt tại Thừa Thiên và Quảng Trị, giáo dân phải bị tàn sát dữ dội. Riêng tại Quảng Trị, trong thời kỳ này, nhiều giáo dân phải bỏ nhà cửa, bồng bế con cái chạy trốn vào rừng núi La Vang, và được Đức Mẹ Maria hiện ra an ủi năm 1798.

4. Những cuộc bắt Đạo trong thế kỷ XIX (1830-1885)

Dưới thời Vua Minh Mạng bắt Đạo: các nhà lao xá như Trấn Phủ, Khám Đường được thành lập để giam người công giáo; đày người công giáo đến những nơi rừng thiêng nước độc; áp dụng hình khổ Bá Đao; xử giảo thắt cổ; bắt tám người công giáo phải mang một cái gông dài như cái thang để khỏi phải chạy trốn. 

Dưới thờ Vua Tự Đức bắt Đạo: lệnh ban ra giết các linh mục Việt Nam và các linh mục ngoại quốc; tróc nã các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá; quân sĩ nào theo đạo Công Giáo, trước khi ra trận, phải Phạm Ảnh, nghĩa là phải bước qua Thánh Giá; thi hành kế hoạch Phân Sáp để tiêu diệt tận gốc người Công Giáo.

- Cuối thế kỷ XIX, xảy ra nhiều cuộc tàn sát người Công Giáo bởi Phong trào Văn Thân. Thời kỳ Văn Thân này tương đối ngắn, nhưng có đến sáu vạn giáo dân bị thảm sát. Riêng tại một tỉnh Bình Định, có 24.000 giáo dân bị giết. Tại Quảng Trị, chỉ trong vòng một tháng, hơn 8.000 giáo dân bị giết. 

5. Kế hoạch Phân Sáp để tận diệt người Công Giáo

Kế hoạch Phân Sáp được thi hành trong năm 1851 và 1856. Do sự thi hành kế hoạch này mà 400.000 giáo dân phải bị đi phân sáp, từ 50.000 đến 60.000 giáo dân phải chết nơi phân sáp, 3.500 giáo dân bị xử tử, 100 làng công giáo bị đốt phá bình địa, 2.000 Họ đạo bị tịch thu tài sản ruộng đất, 115 linh mục Việt Nam và 10 giáo sĩ ngoại quốc bị giết, 80 Dòng Mến Thánh Giá bị phá tan, 2.000 nữ tu Mến Thánh Giá phải tan tác, 100 nữ tu Mến Thánh Giá chết vì Đạo.

Kế hoạch Phân Sáp gồm 4 mặt:

a. Không cho người công giáo ở trong làng công giáo của mình, nhưng phải đến ở trong các làng bên lương;
b. Mỗi người công giáo phải bị 5 người lương canh gác cẩn mật;
c. Các làng công giáo bị bị phá huỷ, của cải ruộng đất người công giáo bị tịch thu và giao vào tay những người bên lương, những người này xử dụng và nộp thuế lại cho Nhà Nước;
d. Không cho đàn ông công giáo ở với đàn bà công giáo; không cho vợ chồng công giáo ở một nơi với nhau, mỗi người phải đi ở một nơi xa nhau; con cái phải để cho người lương nuôi. (x.tonggiaophanhue.net).

Đức Chân Phước Giáo hoàng Gioan Phaolô đã từng nói: “Giáo hội Việt nam đã phát sinh những nhân chứng, đặc biệt là Các Vị Tử Đạo, lời tiền nhân nói không sai: Máu đào là hạt giống phát sinh Kitô hữu, vì do máu Các Đấng Tử Đạo của dân tộc và Giáo hội Việt nam mà đức tin trong thế hệ trước đã mọc lên, đức tin của thế hệ hiện tại được bảo toàn, và hy vọng đức tin của thế hệ mai sau được gìn giữ”.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An(Nguồn : baoconggiao.com)