Thứ Năm, 17 tháng 12, 2015

NGUỒN GỐC, TÊN GỌI VÀ Ý NGHĨA CỦA LỄ GIÁNG SINH

Đến hẹn lại lên, một mùa Giáng sinh ấm áp nữa lại về. Ngày lễ vào dịp cuối năm này là một trong những sự kiện thu hút nhiều người nhất trên thế giới. Cùng điểm qua nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa các biểu tượng của lễ Giáng sinh để hiểu thêm về mùa lễ đáng yêu này.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 1

Không khí Giáng sinh đang rộn ràng trên khắp thế giới

Lễ Giáng sinh, còn được gọi là lễ Thiên Chúa giáng sinh hay Noel, là một ngày lễ quốc tế kỷ niệm ngày Chúa Jesus sinh ra đời của phần lớn người Kitô giáo.
Theo phần lớn các tín hữu Kitô giáo, Chúa Jesus được sinh tại Bethlehem (Bêlem) thuộc xứ Judea (Giuđêa) nước Do Thái (ngày nay là 1 thành phố của Palestine), lúc bấy giờ thuộc Đế quốc La Mã, khoảng giữa năm 7 TCN và năm 2.
Ngày lễ được cử hành chính thức vào ngày 25 tháng 12 nhưng thường được mừng từ tối ngày 24 tháng 12 bởi theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm. Lễ chính thức ngày 25 tháng 12 được gọi là "lễ chính ngày", còn lễ đêm 24 tháng 12 gọi là "lễ vọng" và thường thu hút nhiều người tham dự hơn.
Nhiều giáo hội Chính Thống giáo Đông phương như ở Nga, Gruzia vẫn sử dụng lịch Julius để định ngày này, cho nên lễ Giáng sinh của họ ứng với ngày 7 tháng 1 theo lịch Gregory (còn gọi là tây lịch hay Công lịch).
Theo lịch phụng vụ Công giáo, trước lễ Giáng sinh là 4 tuần Mùa Vọng, và sau lễ Giáng sinh là Mùa Giáng sinh (12 ngày mùa Giáng sinh).
Lễ Giáng sinh là của những người theo đạo Kitô giáo, nhằm kỷ niệm ngày sinh ra của người lãnh đạo tôn giáo mình, người mà họ cho là Thiên Chúa xuống thế làm người.


Nhưng dần dần, theo thời gian và qua các lễ hội của phương Tây, người ta tổ chức lễ Giáng sinh ngày càng linh đình. Kết quả là bây giờ, lễ Giáng sinh được xem là một ngày lễ quốc tế, với ông già Noel, cây Giáng sinh và cây thông Noel.

Lịch sử ra đời Lễ Giáng sinh


Thời kỳ Giáo hội cơ đốc sơ khai (2,3 thế kỷ đầu công nguyên), lễ này được mừng chung với lễ Hiễn linh. Tuy nhiên ngay từ năm 200, thánh Clementê Alexandria (150-215) đã nói đến một lễ hết sức đặc biệt được cử hành vào ngày 20 tháng 5. Còn Hội thánh La tinh thì mừng kính lễ ấy vào ngày 25 tháng 12.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 2

Trang trí hang đá trong đêm Noel

Theo một nguồn khác thì tín hữu cơ đốc sơ khai không ăn mừng lễ sinh nhật, vì họ cho rằng ăn mừng sinh nhật là làm theo thói quen của dân ngoại đạo thờ thần tượng. Bởi lẽ đó họ không ăn mừng lễ giáng sinh của Đức Jesus trong suốt ba thế kỷ đầu. Đến thế kỷ IV, những người Cơ đốc mới bắt đầu muốn ăn mừng Lễ giáng sinh của Đức Jesus mỗi năm một lần, nhưng lại sợ bị chính quyền La Mã phát hiện và bắt bớ bởi vì đến lúc đó, cơ đốc giáo vẫn chưa được công nhận là một tôn giáo hợp pháp.
Những người La Mã, hàng năm ăn mưng “Thần Mặt trời” (Feast of The SolInvictus) đem ánh sáng đến cho trần gian vào ngày 25 tháng 12. Những người cơ đốc đã nhân cơ hội này để tổ chức ăn mừng ngày Đức Giêsu giáng sinh vào đem ánh sáng và sự sống đến cho nhân loại (Gioan 8:12) cùng một ngày với ngày lễ “Thần Mặt trời” của người La Mã. Nhờ vậy, chính quyền đã không phát hiện việc các tín hữu cơ đốc tổ chức ăn mừng lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Đến năm 312, Hoàng đế La Mã Constantine đã bỏ đa thần giáo và theo cơ đốc. Ông này đã hủy bỏ ngày lễ ăn mừng “Thần Mặt trời” và thay vào đó là ngày ăn mừng sinh nhật của Đức Jesus. Đến năm 354, Giáo hoàng Liberius công bố ngày 25 tháng 12 là ngày chính thức để cử hành lễ Giáng sinh của Đức Jesus.
Trong nhiều thề kỷ, những nhà ghi chép Ki-tô giáo chấp nhận Giáng sinh là ngày Jesus được sinh ra đời. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 18, các học giả bắt đầu đề xuất một cách giải thích khác. Isaac Newton cho rằng ngày Giáng sinh đã được lựa chọn để tương ứng với đông chí ở Bắc bán cầu, từng được đánh dấu là ngày 25 tháng 12.
Năm 1743, Paul Ernst Jablonski người Đức lập luận ngày Giáng sinh được xác định ngày 25 tháng 12 để khớp với ngày Sol Invictus trong tôn giáo La Mã cổ. Ngoài ra trước người Kitô giáo, nhiều nền văn hóa và tôn giáo khác cũng ăn mừng ngày lễ cuối tháng 12.

Tên gọi Christmas


Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 3

Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ

Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Chữ Christ (bắt nguồn và được viết trong tiếng Hy Lạp là "Χριστός" (Khrīstos)) là tước vị của Đức Giêsu. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (thánh lễ). Khi chữ Christ và Mas viết liền thành ra chữ Christmas. Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Giêsu.
Chữ Christmas và Xmas đều có cùng một ý nghĩa như nhau. Vì chữ Hy lạp viết chữ Christ là Christos, Xpiơtós hay Xristos. Người ta dùng phụ âm X để tượng trưng cho nguyên chữ Xristos hay Xpiơtós, rồi thêm chữ Mas kế cận để thành chữ Xmas. Như vậy Xmas cũng có nghĩa là ngày lễ của đấng Christ (Đấng được xức dầu).

Tên gọi Noel


Noel là từ (gọi là Nô-en) là từ tiếng Pháp Noël, dạng cổ hơn là Naël, có gốc từ tiếng Latinh nātālis (diēs) có nghĩa là "(ngày) sinh".
Cũng có ý kiến cho rằng tên gọi Noel xuất phát từ tước hiệu Emmanuel, tiếng Hebrew nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta", như được chép trong sách Phúc âm Matthew.

Ý nghĩa lễ Giáng sinh


Ngoài ý nghĩa theo đạo Thiên Chuá, Noël là một ngày lễ gia đình, một ngày đặc quyền để tụ tập quây quần mọi người, mọi thế hệ trong gia đình. Lễ này dưới mọi hình thức được biểu lộ, tạo những kỷ niệm chung và duy trì tình cảm giữa mọi người trong gia đình.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 4

Gia đình quây quần đêm Giáng sinh

Mỗi người tìm được, bằng cách thức riêng của mình, để tạo dựng mối liên hệ: chia sẻ với nhau một bữa ăn chung, một đêm không ngủ, nghe thuật lại một câu chuyện, quây quần bên cạnh cây sa pin Noël… Với địa vị ngày càng lớn lao của trẻ con trong gia đình, ngày Noël trở thành một buổi lễ của trẻ em: một đêm thần diệu mà hầu như tất cả mọi ước nguyện trẻ con được thành sự thật trong sự sung sướng của những người lớn.
Ngày Noel cũng là một thông điệp của hoà bình: ” Vinh danh Thượng Đế trên cao – Bình an cho người dưới thế ”: đây là câu được hát bởi những thiên thần báo tin sự xuất hiện của vị cứu thế và Noël cũng là ngày người ta chia sẻ với những ai bị bỏ rơi, bị cô đơn, bệnh hoạn, già yếu…

Ý nghĩa các biểu tượng Giáng sinh


Hang đá
Thường là vào mùa Giáng sinh, một máng cỏ được đặt trong hang đá (hay gỗ) được dựng lên trong nhà hay ngoài trời, với các hình tượng Chúa Giê-su, Mẹ Maria, thánh cả Thánh Giuse (Joseph), xung quanh là các thiên sứ, mục đồng cùng các gia súc như bò, lừa để kể lại sự tích Chúa ra đời trong máng cỏ.
Cây Giáng sinh
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 5

Cây thông Noel

Cây Giáng Sinh là cây xanh thường là cây thông được trang hoàng để trình bày trong dịp lễ Giáng sinh theo phong tục của người Kitô giáo.
Thiệp Giáng sinh
Bắt nguồn từ năm 1843 khi ông Henry Cole (1808 - 1882), một thương gia giàu có nước Anh, đã nhờ John Callcott Horsley (1817 - 1903), một họa sĩ ở Luân Đôn, thiết kế một tấm thiệp thật đẹp để tặng bạn bè. Vào Noel năm đó, Horsley trình làng tấm thiệp đầu tiên trên thế giới và sau đó nó đã in ra 1000 bản.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 6

Tấm thiệp Giáng sinh

Thiệp Giáng sinh nhanh chóng bùng phát và trở thành mốt thịnh hành ở Anh trong suốt 10 năm kể từ khi Chính phủ Anh thông qua đạo luật năm 1846 cho phép bất kỳ người dân nào gửi thư đến bất kỳ nơi nào với giá rẻ. Không lâu sau, trào lưu này du nhập sang Đức và tới 30 năm sau người Mỹ mới chấp nhận nó.
Vòng lá mùa Vọng
Vòng lá mùa Vọng là vòng tròn kết bằng cành lá xanh thường được đặt trên bàn hay treo lên cao để mọi người trông thấy, trong 4 tuần Mùa Vọng. Cây xanh thường được trang hoàng trong các bữa tiệc của dịpĐông chí - dấu hiệu của mùa đông sắp kết thúc. Trên vòng lá đặt 4 cây nến. Tục lệ này khởi xướng bởi các tín hữuLutheran ở Đức vào năm 1839 với 24 cây nến gồm 20 nến đỏ và 4 nến trắng, cứ mỗi ngày gần Giáng sinh được đốt thêm một cây nến.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 7

Vòng lá mùa Vọng

Vòng lá có hình tròn nói lên tính cách sự sống vĩnh hằng và tình yêu thương vô tận của Thiên Chúa. Màu xanh lá nói lên hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ đến cứu con người. 4 cây nến bao gồm ba cây màu tím - màu của Mùa Vọng, cây thứ 4 là màu hồng, là màu của Chúa Nhật thứ Ba mùa Vọng, hay còn gọi là Chúa Nhật Vui mừng (Gaudete Sunday). Hoặc 4 cây nến đỏ, cứ mỗi tuần mùa Vọng đốt 1 cây nến.[15]
Ngoài ra, tại phương Tây, thường có một lịch mùa Vọng là một lịch đặc biệt được sử dụng để đếm hoặc kỷ niệm những ngày chờ đợi đến lễ Giáng sinh.
Quà Giáng sinh
Những món quà biểu lộ tình yêu của mọi người với gia đình và bè bạn. Đối với một số người, những món quà Giáng Sinh còn có một ý nghĩa tín ngưỡng sâu sắc. Đó là lễ kỷ niệm ngày sinh của Chúa Giê-su, món quà mà Thiên Chúa đã ban tặng cho con người.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 8

Quà Giáng sinh

Khi Chúa Giê-su cất tiếng khóc chào đời tại Bethlehem trong một cái máng cỏ, ba nhà thông thái (hay nhà chiêm tinh, theo truyền thống cũng là ba vị vua) từ phương Đông đã đến để bày tỏ sự thành kính của mình. Họ mang đến ba món quà quý giá, đó làvàng, nhũ hương và mộc dược. Vàng có ý nói Chúa Giêsu là vua, nhũ hương để tuyên xưng Giêsu là Thiên Chúa và mộc dược tiên báo cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại.
Ba vị vua rất giàu có nhưng những người dân nghèo hầu như chẳng có tài sản cũng mang đến bất cứ những gì họ có thể để tỏ lòng thành kính với Chúa Hài đồng. Những người chăn cừu tặng Giêsu hoa quả và những món đồ chơi nhỏ do chính họ tạo ra.
Theo truyền thuyết xưa, Ông già Noel thường cưỡi xe tuần lộc trên trời, đến nhà có cây thông Giáng sinh và leo qua ống khói để đem đến những món quà cho các em nhỏ đang ngủ và thường để quà trong những chiếc bít tất (vớ).
Ngoài ra, ngày nay ở Việt Nam thì Giáng sinh cũng là dịp để các bạn trẻ có cơ hội gửi cho nhau những món quà, những bó hoa tươi và lời chúc tốt đẹp đến người thân và bạn bè.
Ngôi sao Giáng sinh
Ngôi sao 5 cánh thường xuất hiện rực rỡ đủ màu sắc trong mùa Giáng sinh. Một ngôi sao to lớn được treo ở chỗ cao nhất của tháp chuông nhà thờ. Từ đó căng giấy ra bốn phía, có nhiều ngôi sao nhỏ, treo đèn lồng và kết hoa rất đẹp mắt.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 9

Ngôi sao Giáng sinh

Ngôi sao trong lễ Giáng sinh có ý nghĩa đặc biệt, theo tương truyền lúc Chúa vừa chào đời thì trên trời xuất hiện một ngôi sao rực rỡ. Ánh sáng tỏa ra mấy trăm dặm. Từ các vùng phía đông xa xôi nay thuộc lãnh thổ Iran và Syria, có 3 vị vua được mặc khải tin rằng cứ lần theo ánh sáng ngôi sao tìm tới chắc chắn sẽ gặp phép lạ gọi là lễ ba vua. Từ đó, ba vị tìm theo sự dẫn đường của ánh sáng để đến được hang đá thành Bethelem nơi Chúa đã ra đời. Ba vị này thân quỳ trước mặt Chúa, dâng lên Chúa các phẩm vật trầm hương và vàng bạc châu báu.
Ngôi sao trở thành biểu trưng ý nghĩa trong mùa Giáng sinh và được treo chỗ trang trọng nhất ở các giáo đường, cơ sở tôn giáo trong đêm Giáng sinh để nhớ đến sự tích trên. Do ý nghĩa ngôi sao còn tượng trưng cho phép lạ của Thượng đế. Ngôi Sao Giáng Sinh sẽ là món quà bất ngờ và ý nghĩa trong dịp Giáng Sinh 2014.
Quà tặng trong những chiếc bít tất
Tương truyền rằng, nhà kia có 3 cô gái trẻ đến tuổi lập gia đình nhưng không có chàng trai nào nhòm ngó đến vì gia cảnh quá nghèo. Đức giám mục Myra rất thương xót nên đã ném những đồng tiền vàng xuống ống khói nhà của ba cô gái. Những đồng tiền vàng rơi từ trên nóc nhà xuống đúng các đôi bít tất mà các cô treo hong bên lò sưởi. Khỏi phải nói cũng biết rằng các cô vui mừng đến thế nào. Họ đã có cơ hội để thực hiện nguyện ước của mình. Sẽ giúp bạn chọn quà bỏ vào Chiếc Bít Tất trong đêm Giáng Sinh đấy.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 10

Quà tặng trong những chiếc bít tất

Câu chuyện thần kỳ kia được lan truyền đi khắp nơi, ai ai cũng muốn mình trở thành người may mắn nên đều bắt chước 3 cô gái treo tất bên lò sưởi để hy vọng nhận được quà. Trẻ em hy vọng nhận được quà nhiều nhất. Mọi người trong nhà cũng nhân cơ hội này để tặng quà cho các em với mong muốn là các em sẽ ngoan ngoãn và học giỏi. Từ đó có tục trẻ em treo bít tất cạnh lò sưởi để nhận quà như mơ ước từ ông già Noel.
Chợ Giáng sinh
Chợ Giáng sinh là một chợ đường phố kiểu truyền thống được tổ chức vào dịp Giáng sinh (thường bắt đầu khoảng 1 tháng trước Lễ Giáng sinh) có nguồn gốc tại vùng đất ngày nay là nước Đức và Đông Bắc nước Pháp.
Nguồn gốc, tên gọi và ý nghĩa của lễ Giáng sinh - anh 11

Khu chợ Giáng sinh ở Jena Đức

Bắt đầu xuất hiện từ cuối thời Thời kỳ Trung Cổ (khoảng thế kỷ 14), cho đến nay chợ Giáng sinh vẫn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của Đức, Áo và Đông bắc Pháp trong dịp Giáng sinh cũng như được phổ biến đến nhiều quốc gia khác trên thế giới.

(Nguồn :www.ngaynay.vn)

Thứ Tư, 16 tháng 12, 2015

XIN MƯA CỨU CHUỘC



XIN MƯA CỨU CHUỘC

Trời, mây! Xin hãy đổ sương,
mưa Ơn Cứu Chuộc xuống dương thế này!
Trong đêm u tối, đọa đày,
đoàn con nao nức, mong ngày tới mau
như bầy nai khác theo nhau
đi tìm dòng suối ở sau bìa rừng!
Chúa ôi! Xin Chúa hãy dừng
bao cơn thịnh nộ! Xin đừng thẳng tay!
Đoàn con tội lỗi xưa nay,
thành tâm sám hối, chấp tay khẩn cầu!
Tội xô xuống đáy vực sâu!
Nếu Ngài chấp tội, ''Đường'' đâu tìm về?
Ngàn lần cúi lạy Giavê!!!
Mưa Ơn Tha Thứ trăm bề tội khiêng!
Tình Ngài vô lượng, vô biên!
Xin Ngài cởi hết xích xiềng tội nhân!
Giavê là Suối Hồng Ân!
Xin Ngài mau đến cứu Dân lầm đường!
Đất-Trời xe chữ ''Tình Thương''
bằng Lời của Chúa, Quỷ Vương đầu hàng!!!
Bốn Tuần Mùa Vọng ca vang:
Lời Ngài hứa ở Địa Đàng năm xưa...
Đoàn con đấm ngực, xin chừa!!!
Satan quỷ quyệt đang lừa giáo dân!
Xin cho Mục Tử chuyên cần
Sống Lời Chúa dạy: xả thân cứu đời!!!
Cúi xin Thánh Mẫu Chúa Trời
giữ gìn Giáo Hội ở nơi Thế Trần!
Mẹ là Trinh Nữ Hồng Ân
Xin thương Giáo Hội, đỡ đần đoàn con!

Đaminh Phan văn Phước



Kính mời quý Vị nghe ca khúc:
TROI CAO (Lời dưới nốt nhạc và tiếng đờn.)




Xin mời quý Vị nghe thêm Thánh Ca:
Venez divin messie - Bide et Musique (Có Ca Đoàn và lời Thánh Ca.)
VENEZ DIVIN MESSIE : St.Augustin (Theo bản mà tôi thuộc lòng: ''Vous êtes source de vie'', chứ không phải ''Vous êtes notre vie''.)


Thứ Ba, 15 tháng 12, 2015

PHÔ TRƯƠNG


Thỉnh thoảng trong các đám tiệc, người ta vẫn cố rườm rà mọi thứ để nghi lễ thêm phần long trọng. Ai chẳng biết hôm ấy là ngày tân hôn của đôi trai tài gái sắc. MC gân cả cổ để giới thiệu đôi tân lang, tân giai nhân ấy xong với tràng vỗ tay thật mãnh liệt. Rồi anh ta quay qua giới thiệu ông nọ bà kia là đại diện cho hai họ lên có đôi lời chia sẻ. Ông kia bà nọ ấy lại lên lê thê lập lại những lời ban nãy của chính MC nhưng có phần rườm rà và chậm chạp hơn, có thể vì run, cũng có thể vì muốn tỏ ra ta đây cũng biết nói trước công chúng. Người ta lại vì lòng mến mà rào rào vỗ tay. Bỗng lại có một vị mặc comlet giơ tay nói, tôi đây là đại diện cho họ đàng gái, vì lúc nãy là đại diện cho họ đàng trai thôi chứ không phải là đại diện chung như mọi người nãy giờ lầm tưởng đâu. Vị ấy lại đằng hắng dăm bảy lần rồi mới phát biểu rất linh tinh và rất chi tiết về mọi sự mà mọi người đã nghe chán cả tai suốt nãy giờ. Thỉnh thoảng có tiếng “dzô” của các thực khách chờ mãi chưa có miếng ăn, nên sốt ruột mà tợp vài ngụm bia cho đỡ…khát. Khi vị ấy xốc lại cái áo vest để kết thúc bài văn nói não nùng, thì mọi người vui mừng mà vỗ tay rần trời!
Có lẽ, các vị lắm điều ấy rất thích những tiếng vỗ tay chan chát ấy. Nhưng quả là, trong đám thực khách dưới kia, chẳng ít người nghiến ngẩm một mình, đủ để người bên cạnh nghe:
_Đã nói dở, lại nói dài nói dai…
Đừng tưởng việc ấy chỉ xảy ra ở các đám tiệc bình thường! Ngay trong buổi họp mặt, tiệc tùng nhân dịp lễ gì đó, người ta vẫn thấy ông A, bà B cứ lăng xăng với các phát biểu lập đi lập lại như chiếc máy hát cà lăm, nói về ý nghĩa của ngày lễ hôm ấy. Cái ý nghĩa ấy đã được Linh Mục quản xứ nhắc nhở trước Thánh Lễ để mọi người biết một cách súc tích và rõ ràng trên giàn loa trong trẻo. Rồi đến cuối lễ, người đại diện của cộng đoàn xin lễ hôm ấy có đôi lời phát biểu để tri ân và cảm tạ. Nếu ông, bà ấy cứ đơn sơ mà tỏ lòng biết ơn với Cha Chính Xứ cùng cộng đoàn thì chẳng có gì để phải đàm với tiếu! Nhưng để cho mọi sự có vẻ trịnh trọng, thì lại có ông bà nào hay nói dai nói dài và nói cho mọi người biết rằng ta đây ăn nói rất hay và nếu ta không nói thì làm sao biết ta hay cỡ nào. Ông, bà ấy lại nhắc lại ý nghĩa ngày lễ mà mọi người đã thuộc như hai với hai là bốn, rồi giới thiệu một quan chức, viên chức, hay vân vân chức gì đó có khi bé tí tì ti, lên có đôi lời cảm tạ và tri ân. Bà, ông ấy còn xin cộng đoàn một tràng vỗ tay. Ừ thì vỗ dù sốt cả ruột lên với cái lê thê phù phiếm! Đến lượt, vị đại diện ấy lại nói những lời chưa nghe đã biết, đến nỗi có tiếng thở dài đâu đó trong không gian…
Trong khi các hậu duệ cứ cố nổi đình nổi đám như thế, thì Ông Gio an lại khiêm tốn đến mức lạ lùng. Mặc cho mọi người tung hô, ca tụng Ông, Ông vẫn luôn khẳng định với mọi người đến với Ông vì lầm tưởng Ông là Đấng Thiên Sai rằng, tôi còn không xứng đáng cởi giây giày cho Ngài nữa kìa!
Ông chỉ muốn mình nhỏ đi hết sức, để hình ảnh Chúa là hình ảnh đích thực, được sáng rỡ trước mọi người, dù chính Chúa của Ông thốt ra: “…trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn Gio an Tẩy Giả…”
Tiền nhân cứ muốn bé đi, mà hậu duệ cứ cố phô bày mình ra, cứ như thế giới này không có ta thì mọi người đều…tăm tối!
 Ôi, một chiếc đèn đầy dầu thì luôn sáng rỡ, cần gì phải dán vào thân đèn dòng chữ thừa thãi: “Đây là cây đèn”!
Hay chiếc đèn ấy muốn ngầm tỏ cho mọi người thêm cái đuôi, ý là : “Ta là cây đèn thần A la đin!”
                                                                                                                 LAM TRẦN 12.12.2015 

Thứ Hai, 14 tháng 12, 2015

Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA MÙA VỌNG .


Bốn tuần ''trước Lễ Giáng Sinh'' được gọi bằng tiếng Latinh, Anh, Đức, Pháp là ''Adventus, Advent, Avent''.

I. Nguyên nghĩa của chữ ''Adventus''
Giáo Hội dịch danh từ Hylạp παρουσία (''parousia'' có nghĩa là ''ĐẾN'') sang chữ Latinh là ''Adventus'' do động từ ''advenire: đến'' (1) có quá khứ phân từ (past participle) là ''adventum'': ĐÃ ĐẾN! Người Đức và Anh bỏ âm /us/ của ''adventus'' để có danh từ ''Advent, advent''. Người Pháp cũng vậy, còn bỏ mẫu tự ''d'' để có chữ ''avent''. Tuy nhiên, họ vẫn giữ lại mẫu tự ấy trong câu tục ngữ ''Advienne que pourra'' và cách nói thông dụng ''quoiqu'il advienne'' (dù xảy ĐẾN thế nào chăng nữa) như trong bài ca ''Oui Devant Dieu'' (Ngày Thành Hôn). Sau này, trong tiếng Pháp, có chữ ''avenir'' là lược từ (ellipse) của thành ngữ ''temps à venir'' là tương lai: futur.
Bài Thánh Ca ''Il est né le divin Enfant'' có câu: ''Chantons tous son avènement!'', xin tạm dịch: ''Tất cả chúng ta hãy ca khen việc Ngài ĐẾN, giáng thế, giáng trần, lên ngôi vua!'' như lời Thiên Sứ báo cho Trinh Nữ: ''Ngài sẽ ngự trị trên nhà Giacob đến muôn đời và vương quyền của Ngài sẽ vô tận.'' (Luca 1,33) Danh từ ''avènement'' do động từ cổ ''avenir'' đồng nghĩa với ''venir'': ĐẾN.

II. Ý nghĩa chữ VỌNG trong tiếng Việt giúp hiểu thêm Mầu Nhiệm của Mùa Vọng
''Vọng'' là ''nhìn, hướng lòng về, tin tưởng, TRÔNG CHỜ''. Ví dụ: danh vọng (2) viễn vọng kính; vọng về quê cũ; bài ca vọng cổ; Hòn Vọng Phu; thờ vọng Đức Thánh Trần; Nhiều làng ''vọng tế'' vị thần...; đền thờ vọng Liễu Hạnh ở Hà Nội; đặt hy vọng vào tuổi trẻ là rường cột của Quốc Gia; hy vọng có ngày gặp lại nhau; hết hy vọng rồi!...Chữ ''vọng'' còn có nghĩa ''ĐẾN từ xa, từ nơi khác'', chẳng hạn: Tiếng chày giã gạo từ đầu thôn vọng lại; Đứng ngoài sân, nói vọng vào.

III. Ý nghĩa MÙA VỌNG của Giáo Hội
Là Thân Thể Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu và là Hiền Mẫu noi gương MẸ của Chúa Cứu Thế, để luôn sống các Mầu Nhiệm của Ngài mà Đỉnh Cao là Phục Sinh, Giáo Hội gọi Mùa Vọng là ''khởi điểm'' của Năm Phụng Vụ. Mùa Vọng 2012 bắt đầu vào Chúa Nhật, 02.12. Đức Giáo Hoàng nêu lên ý nghĩa của Mùa Vọng là: sự HIỆN DIỆN, VIẾNG THĂM, TRÔNG ĐỢI. Mùa Vọng cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa vẫn Ở ĐÓ, Ngài không rời bỏ thế gian, mà Ngài ĐẾN VIẾNG THĂM chúng ta bằng nhiều cách khác nhau. Chúng ta, dù đang bận rộn bởi bao sinh hoạt, được Mùa Vọng mời gọi tạm dừng lại trong thinh lặng để NHẬN BIẾT rõ ràng sự HIỆN DIỆN của Thiên Chúa.''

IV. Suy gẫm về lời dạy của Vị Cha Chung
A. Sự hiện diện
Thiên Chúa Ngôi Hai đã ĐẾN trong cung lòng Trinh Nữ Maria. Ngài lại Ở GIỮA CHÚNG TA (EMMANUEL) như lời xác tín của Thánh Gioan: ''Ngài đã ĐẾN nơi nhà của Ngài, nhưng (và) người nhà đã không tiếp nhận Ngài... Lời đã trở thành xác phàm và CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TÔI và chúng tôi được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang của Con Một từ nơi Cha...''
B. Sự hiện diện của Ngài hôm nay
Đức Thánh Cha xác tín: ''Thiên Chúa vẫn Ở ĐÓ!'' Thật vậy, như đã hứa trước khi về Trời, Ngài ''ở lại'' với chúng ta mọi ngày, trong Thánh Lễ, nơi Nhà Tạm, bằng Tình Yêu Quan Phòng, qua Vũ Trụ chứng minh có Ngài là Lời Vĩnh Hằng dựng nên mọi sự như lời chúc tụng trong Thánh Lễ: ''Trời và đất đầy vinh quang Chúa!'' (Pleni sunt caeli et terra gloria tua!)
C. Sự hiện diện của Ngài trong nhân loại
Con người được dựng nên theo Hình Ảnh của Thiên Chúa! (Sáng Thế Ký 1,26) Chính vì thế, Thánh Phaolô dạy: ''Adam thứ nhất được dựng nên bởi ADAM THỨ HAI, từ Ngài ông ta NHẬN được linh hồn mà sống.'' Là Kitô hữu, tôi MẶC LẤY Chúa Kitô như Thánh Phaolô cũng đã xác tín: ''Tôi sống VÌ Chúa sống TRONG tôi.'' Khi xứng đáng rước Mình Thánh Chúa, tôi có Ngài HIỆN DIỆN trong lòng là điều hết sức cảm động như Linh Mục Nguyễn Văn Thích viết nhạc: ''Chúa Thiên Đàng NGỰ GIỮA lòng tôi! Phước phận này sao đáng, Chúa ôi! Kìa chín trời còn đang chật hẹp, huống chi nữa chút phận bèo trôi!'' Ngoài ra, Chúa Giêsu còn HIỆN DIỆN sống động trong những ''NGƯỜI-KHỐN-KHỔ-NHƯ-NGÀI'' bởi Ngài đã phán: ''Vì xưa Ta đói, mà các con đã CHO Ta ăn, Ta khát, mà các con đã CHO Ta uống...'' (Matth. 25,35)
D. Sự viếng thăm
Trong Cựu Ước, ''Thiên Chúa vô hình'' VIẾNG THĂM dân Ngài để nhìn thấy cảnh khổ cực của họ ở Aicập... Còn trong Tân Ước, Thiên Chúa là ''Lời nhập Thể và nhập Thế'' ngõ hầu được GẦN GŨI nhân loại và diễn nghĩa sống động của TÌNH YÊU CHÍNH LÀ THIÊN CHÚA như trong Tin Mừng theo Thánh Luca 7,16: ''Mọi người kinh hãi và tôn vinh Thiên Chúa: Một ngôn sứ vĩ đại đã XUẤT HIỆN giữa chúng ta vì Thiên Chúa đã VIẾNG THĂM dân Ngài." Chúa Giêsu cũng phán: ''Ta ở tù, mà các con đã VIẾNG THĂM Ta.'' Sau Thiên-Chúa-Tình-Yêu, Mẹ Maria là Gương Mẫu của Đức ''thương người''! Thật vậy, được Thiên Sứ VIẾNG THĂM theo lệnh Thiên Chúa, sau khi hiểu rõ lý do là CỨU DÂN, Trinh Nữ liền ''xin vâng'' để, nơi Nàng, thành sự Giao Ước Mới, qua đó, Thiên Chúa Ba Ngôi đã VIẾNG THĂM Nàng như trong Luca 1,35. Vừa được cưu mang Thai Nhi Giêsu, Trinh Nữ đã nhanh chân lặn lội lên miền sơn cước, ''đem'' CHÚA ĐẾN THĂM bà Êlidabet và Gioan Tiền Hô mới được sáu tháng trong bụng bà ấy. Mẹ tạo cơ hội cho CHÚA Ở ĐÓ chừng ba tháng! Trong hang chiên lừa, Mẹ và Dưỡng Phụ Giuse tiếp đón mục đồng và ba nhà chiêm tinh ĐẾN THỜ LẠY Chúa Hài Nhi. Cuộc đời Chúa Cứu Thế là ngày, tháng, năm dài của sự VIẾNG THĂM biết bao nhiêu người qua những lần Ngài TIẾP XÚC với họ. Như thế, Mẹ Maria là Đấng Cộng Tác vào Kế Hoạch Cứu Rỗi của Thiên Chúa bởi vì Mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng Chúa Giêsu.
E. Sự trông đợi
Trinh Nữ là ''Gạch Nối'' giữa Tân Ước và Cựu Ước vì Mẹ là Gương Mẫu của sự TRÔNG ĐỢI CHÚA ĐẾN. Chẳng những TRÔNG ĐỢI, Mẹ còn là CUNG ĐIỆN HỒNG ÂN để Thiên Chúa NGỰ ĐẾN. ''Có Mẹ, nhờ Mẹ, cùng Mẹ'' trong đời như ở tiệc cưới Cana, bên Thánh Giá và trên ''Lầu TRÔNG ĐỢI Thánh Linh'', hôm nay, Giáo Hội dạy người tin: ''ĐẾN với Chúa Giêsu qua Mẹ Maria.'' (AD IESUM PER MARIAM)
Tân Ước không ghi lại ba mươi năm Chúa Giêsu sống với Mẹ, mà chỉ kể sơ lược, vỏn vẹn vài sự kiện, chẳng hạn việc Chúa sinh ra, Mẹ dâng Ngài vào Đền Thánh, hai Ông Bà lạc mất Ngài. Tuy nhiên, Tân Ước cũng nhắc tới sự TRÔNG ĐỢI của Tiên Tri Ximêon và của nữ Tiên Tri Anna. Hai Vị này là biểu tượng cho Dân Chúa trong Cựu Ước và Dân Mới của Ngài là Giáo Hội hôm nay. Hơn thế nữa, theo Lời Chúa trối: ''Này là Mẹ con! Này là con Bà!'', Mẹ được Thánh Gioan RƯỚC VỀ nhà của Ông, tức Bà là Mẹ của Giáo Hội. Cho nên, trong suốt bốn mươi ngày TRÔNG ĐỢI Thánh Linh, Mẹ đã cận kề bên CON CỦA MẸ là GIÁO HỘI TIÊN KHỞI để, ''qua Mẹ, với Mẹ, bên Mẹ'', họ thấy vững tâm ''trong lúc TRÔNG ĐỢI Chúa Thánh Thần ĐẾN''!

V. Kết luận
SỐNG Mùa Vọng là THỰC HÀNH các Đức: Tin, Cậy, Mến như câu đọc trong Thánh Lễ: ''Con tuyên xưng: Chúa đã chết đi. Con tuyên xưng: Ngài đã sống lại. Trong VINH QUANG, mai Ngài lại ĐẾN, đón chúng con lên Trời, về với Chúa Cha.'' Không chỉ là trông chờ Mùa Giáng Sinh, mà trong từng ''lúc, ngày, đêm'' và cả đời xin Chúa ''Ở LẠI trong tôi, ĐẾN với người khác'' trước khi Ngài ĐẾN LẠI để xét xử toàn thể nhân loại. Giờ chết sẽ ĐẾN nên tôi phải năng ĐẾN với Chúa vì Ngài cũng chờ tôi ĐẾN. Venite adoremus Dominum: Hãy ĐẾN thờ lạy Chúa.

Đaminh Phan văn Phước


1. Ad (tại, nơi, ở, đến) được dùng làm ''tiếp đầu ngữ'' (prefix). Nó còn biến âm sang tiếng Pháp là ''à'' và tiếng Anh là ''at''. Cả hai là giới từ (prepositions) dùng trước danh từ chỉ nơi chốn, chẳng hạn: arriver à l'aéroport; arrive at the airport: đến (tại) phi trường.
2. Kinh cầu trong Mùa Giáng Sinh có câu: ''Hài Đồng là Danh VỌNG Đức Mẹ.'' Chữ ''vọng'' có nghĩa: ''được người ta ngửa mặt trông lên'' vì danh giá của mình.

Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2015

CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ


SUY NIỆM
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG -  13/12/2015



                                                                                        (TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

Khi nghe thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng, hàng đoàn người lũ lượt kéo đến xin chịu phép rửa ăn năn sám hối. Hơn thế nữa, họ còn muốn thay đổi cuộc đời nên ai cũng hỏi thánh nhân: “Chúng tôi phải làm gì?”. Thái độ của họ thành khẩn, đơn sơ, hiểu biết và đầy quyết tâm. Để trả lời, thánh nhân đưa ra những hướng dẫn thật cụ thể. Đó là:
Phải làm những việc cụ thể. Hai thái độ cơ bản phải có là công bình bác ái. Bác ái là chia sẻ: “Ai có hai áo, thì chia cho người không có, ai có gì ăn, thì cũng làm như vậy”. Như thế, bác ái không phải là bố thí những gì dư thừa, nhưng phải là chia sẻ trong tinh thần “nhường cơm sẻ áo” “hạt gạo cắn đôi”. Chia cả những gì mình đang cần thiết. Trong tinh thần huynh đệ. Trong tinh thần yêu người khác như chính mình. Cơm ăn áo mắc là những gì rất cụ thể thiết thực và vừa tầm tay mọi người. Ai cũng có thể chia sẻ được. Chỉ cần muốn là có thể làm được. Công bình cũng không phải là điều gì quá phức tạp. Chỉ đơn sơ giữ đúng luật pháp: nhân viên thu thuế “Đừng đòi hỏi quá mức ấn định”. Và khi thi hành luật pháp binh lính phải có lòng nhân ái chứ đừng cậy quyền thế áp bức và nhất là bóc lột người khác: “Chớ dùng vũ lực, cũng đừng vu khống mà tống tiền người ta”. Tuy đơn sơ, thiết thực nhưng lại rất quan trọng để được ơn cứu độ.
Phải làm trong đời sống cụ thể. Những việc cụ thể đó không phải tìm những nơi xa xôi mới thực hiện được. Mỗi người hãy thực hiện công bình bác ái trong đời sống thường ngày của mình, với những người sống chung quanh mình. Thánh nhân không kêu gọi người ta phải ra khỏi môi trường cũ. Ngài chỉ kêu gọi người ta từ bỏ nếp sống cũ. Người thu thuế cứ thu thuế. Binh lính cứ làm nhiệm vụ của binh lính. Nhưng làm với tinh thần mới. Điều quan trọng không phải là đổi mới nơi ở, nhưng là đổi mới chính mình, đổi mới ý nghĩ, đổi mới lời ăn tiếng nói, đổi mới việc làm. Tục ngữ có nói: “Dù có đi xa vạn dặm mà không chịu thay đổi thì bạn vẫn chỉ là con người cũ”. Cứ ở nhà mà dám đổi mới là ta đã đi những bước rất xa, sẵn sàng gặp được Chúa và lãnh nhận được ơn cứu độ.
Những người Do Thái thời Thánh Gioan Tẩy Gỉa thực lòng mong chờ Chúa đến. Nên đã hỏi ngay những việc cụ thể để làm. Và khi nhận được lời khuyên của thánh nhân, họ đã thực hành ngay tức khắc. Vì thế họ đã gặp được Chúa. Hôm nay ta cũng tích cực sửa chữa đời sống theo tinh thần công bình và nhất là theo tinh thần bác ái. Biết sống tinh thần chia sẻ. Dám cho đi cả những gì cần thiết. Mẹ Têrêsa Calcutta dạy ta: hãy cho đi cho đến khi cảm thấy đau đớn xót xa, thì sự cho đi mới thực sự có ý nghĩa. Biết cho đi như thế, chắc chắn ta sẽ gặp được Chúa.
Ta luôn bất bình với thế giới chung quanh. Ta mong ước đổi mới thế giới. Hãy nghe lời Thánh Gioan Tẩy Giả, đừng đòi hỏi người khác đổi mới nếu chính mình không đổi mới. Hãy đổi mới chính mình trước, rồi mọi người sẽ đổi mới. Khi mọi người đổi mới, thế giới sẽ đổi mới. Hãy bắt đầu sống tốt. Rồi mọi sự và mọi người quanh ta sẽ trở nên tốt. Sống tốt chính là bắt đầu thay đổi thế giới. Sống tốt chính là góp phần vào công cuộc cứu chuộc của Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con bắt đầu cuộc đời mới ngay từ ngày hôm nay, để con được gặp Chúa. Amen.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2015

BÀI THÁNH CA GIÁNG SINH VN BẤT HỦ TRÊN 100 NĂM: NỬA ĐÊM MẦNG CHÚA RA ĐỜI


                                                                                                                                                                                                                                     BomBo
Tuy chưa được ai xác nhận chính thức đây là bài thánh ca Giáng sinh Việt Nam cổ xưa nhất, nhưng với thời điểm xuất hiện vào năm 1907, bài ca này đã xứng đáng liệt vào hạng cây đa, cây đề của làng thánh ca VN nói chung và nhạc Giáng Sinh VN nói riêng. Tác giả của bài thánh ca Nửa Đêm Mầng Chúa Ra Đời chính là Lm Phaolô Đoàn Quang Đạt, với nghệ danh đơn giản là Phaolô Đạt. 
Lm Đoàn Quang Đạt sinh năm 1877 tại làng Bình Sơn ( Lái Thiêu ), nay thuộc xã An Sơn, huyện Thuận An, Bình Dương. Tuy vậy gốc gác tổ phụ từ Huế, di dân vào Nam cuối triều Gia Long, hoặc đầu triều Minh Mạng. Dòng họ Đoàn của Lm Phao lô Đạt theo đạo CG từ lâu đời và có người làm quan trong triều đình Huế. Vào đầu triều Minh Mạng, nhà vua gay gắt với đạo CG, cho nên nhiều người dòng họ Đoàn đã theo dòng người CG chạy vào Nam để tránh bị bách hại, dù sẽ phải đương đầu bao khó khăn khác, như sơn lam chướng khí, rừng thiêng, nước độc... 
Lúc đầu dòng họ Đoàn định cư khai khẩn tại vùng Lái Thiêu. Sau đó, vào thời bắt đaọ gay gắt, thì phân tán ra các vùng phía Đông và phía Tây của đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Điển hình như Thánh Tử Vì Đạo Lm Đoàn Công Quý, sinh tại Búng, Thuận An, Bình Dương. Còn người cháu gọi bằng chú, là Lm Đoàn Công Triệu, sinh tại Bình Sơn ( Lái Thiêu). Và Lm Đoàn Thanh Xuân thì sinh tại Lương Hòa, Long An. 
Như thế dòng họ Đoàn có nhiều người làm Linh mục, là một gia tộc có nền móng CG đạo hạnh, xâu xa và bền vũng. Nhất là có được một vị Hiển thánh Lm Tử Vì Đạo: Đoàn Công Quý. 
Thiếu thời, cậu Phao lô Đạt được nhận vào Tiểu Chủng viện SàiGòn. Từ những năm học các lớp nhỏ, cậu đã tỏ ra thông minh. Tài năng âm nhạc của cậu sớm bộc lộ. Bấy giờ cha Phaolô Nguyễn Văn Quý, giáo sư TCV là một vị Lm thông thái và có biệt tài âm nhạc, đã hướng dẫn nhạc lý cho cậu, cùng hướng dẫn cậu dịch các bài ca vịnh Trái Tim và ca vịnh Đức Mẹ, từ La ngữ sang Việt ngữ vắn gọn và phổ nhạc theo nhịp điệu riêng biệt, làm thành hai quyển : Ca Vịnh Trái Tim và Ca vịnh Đức Mẹ. Năm 1913, nhà in Tân Định xuất bản cả hai quyển trên với đầy đủ bản nhạc. 
Ngày 23/9/1911, tại nhà thờ Đức Bà, Chánh tòa Sài Gòn, Thầy Phaolô Đoàn Quang Đạt được Đức Cha Lucien Mossard Mão truyền thánh chức Linh Mục.
  Tượng Lm Phaolô Đoàn Quang Đạt do điêu khắc gia Trần Mừng sáng tác 

Trong suốt 45 năm Lm, cha Phao lô Đạt phụ vụ GH ở nhiều nhiệm sở. trước tiên làm giáo sư TCV SG. Sau đó trải qua những năm tháng ở nhiều giáo xứ, như Đất Đỏ (Bà Rịa), Tân Định, Tây Ninh, Bô Mua, Bến Sắn, Bà Rịa. 
Khi làm cha sở Bà Rịa trong 16 năm (1933 -1949) cha Phaolô Đạt tổ chức nhiều sinh hoạt mục vụ rất ngoạn mục và có ý nghĩa sâu xa, như xây dựng hoạt cảnh Giáng Sinh, rước tượng Chúa Hài Đồng quanh nhà thờ…Sau cùng, ca đoàn xướng lên bài “Nửa Đêm Mầng Chúa Ra Đời” để kết thúc. 
2. Vẫn tại Bà Rịa, cha sở Phaolô Đạt thường xuyên đích thân dạy giáo lý mỗi chiều Chúa Nhật. Cha giải thích cặn kẽ các lễ nghi, các phép bí tích, ý nghĩa các kinh đọc hằng ngày. Cha xây dựng truyền thống kéo chuông Truyền Tin, gọi là Nhật Một, mỗi ngày, vào sáng, trưa và tối. Cha còn lập thói quen tốt đẹp, giật chuông báo tử, đọc kinh cầu cho linh hồn người mới qua đời trong giáo xứ. 
Cha đào sâu ý nghĩa của cơ cấu Họ Đạo. Theo cha, mọi thành viên tìm đất sống nơi hoang dã, trốn tránh cơn bách đạo cấm cách của vua quan, sống gần nhau thành một xóm, tất cả là Dân Chúa phiêu bạt, là anh em, coi nhau như họ hàng thân thích đùm bọc nhau. Cha xây dựng trong giáo dân tình ruột thịt trong Họ Đạo. Đó là một nhân sinh quan CG và nhân bản… 
Ngày 22/11/1933 cha Đoàn Quang Đạt được chuyển về nhiệm sở giáo xứ Bà Rịa. Khi ấy cha mới 56 tuổi, mà đầu đã bạc trắng, lại thêm bệnh hen suyễn khá nặng. Vì thế, cha luôn ăn uống kiêng khem, đạm bạc, dù cơn suyễn nhiều lần hành hạ suốt đêm. Tuy vậy, không bao giờ cha bỏ dâng Thánh lễ. 
Vào tháng 8/1949, vì tuổi cao, sức khỏe cha Phaolô Đạt nhanh chóng suy sụp, nên Đức Cha Jean Cassaigne đưa cha về dưỡng bệnh ở chủng viện SG. Sau đó cha Giuse Thiên, cha sở Chí Hòa xin Đức Cha cho cha Đạt về nhà hưu dưỡng các Lm ở Chí Hòa. 
Đến sáng ngày 21/2/1956, cha Phaolô Đạt dâng thánh lễ cuối cùng. Đến trưa, cơn suyễn nổi lên quá mạnh, ngài không chịu nổi, đã tắt thở lúc 13g trưa, thọ 79 tuổi và 45 năm Lm. 
( Theo Lê Ngọc Bích, Nhân vật CG VN thế kỷ XVIII – XIX – XX ) 

Vài nét chấm phá về hình ảnh cha Phao lô Đoàn Quang Đạt tại Tân Định và Bà Rịa lần thứ hai. 
Thời kỳ cha Phaolô Đạt phụ trách nhà in Tân Định ( 1926 - 1933: 6 năm) 
Khi Cha Long đổi đi Baria thì đức Cha Phao Lô Đoàn Quang Đạt, bổn sở Bố mia về coi nhà in Tân Định dưới quyền G.B.Tòng. 
Đời Cha Phaolô Đạt coi nhà in, thì không còn nuôi trẻ ăn và ở luôn như trước nữa, mỗi đứa làm việc Cha phải phát lương cho mà ăn sắm mặc lấy: những lề luật phải giữ bề ngoài như xưa cũng bãi hết. Sáng ngày bắt đầu 7 giờ 30 vô làm việc cho đến 11 giờ trưa, chiều 2 giờ 30 đến 5 giờ nghỉ. 
Trong vòng 7 năm coi ấn quán, Cha Phaolô Đạt đã sắm thêm được 3 cái máy in lớn kim thời chạy điện (một cái Marinomi-Voirin và 2 cái Capdevielle) rất tiện lợi mau chóng. Đức Cha Jaidôrô Đượm (Mrg.dumortier) đã thân hành làm phép 3 cái máy ấy. Cha Phaolô Đạt cũng mua một máy cắt lớn chạy bằng điện hiện nay còn dùng. 
Tháng Novembre 1933, đức Cha Jsidôrô chọn cha Long về làm bổn sở họ Tân Định và cha Phaolô Đạt đi nhận chánh sở Baria thế cho cha Long, thì đức cha cử Cha Giacôbê Huỳnh Công Quận chủ nhiệm báo Nam Kỳ địa phận kiêm luôn chánh giám đốc nhà in cho đến khi ngài qua đời. Ngày 5 Avril 1943, hưởng thọ 78 tuổi làm việc tông đồ 47 năm. 
(TRÍCH TÀI LIỆU DO HỌ ĐẠO TÂN ĐỊNH CUNG CẤP) 
( Nguyễn văn Trung, Lục Châu Học) 
Thời kỳ cha Phaolô phụ trách trở lại giáo xứ Bà Rịa ( 1933 – 1949) 
…Cha Long đổi đi, cha Phaolồ Đạt về. 
Người ta nhắc: Từ ngày cha đi rồi, đâu còn nghe cha hát nữa. Bởi cha cũng là một thầy đờn. Cha soạn nhạc. Cha là tác giả của hai cuốn “Ca Ngợi Trái Tim” và “Ca Ngợi Đức Bà”. Còn bài hát “Kính Nguyện Chúa Thánh Thần” cũng là của cha. Thỉnh thoảng trong ngày, có dịp đi ngang nhà cha, người ta nghe cha hát. Cha hát một cách tự nhiên, to tiếng y như là người ta đang hát trong nhà thờ. Có người rình và thấy khi hát, cha “múa tay” lên xuống, lắc lư cái đầu làm như hát thiệt: 
- Cha nhỏ con mà tiếng hát cha to ghê! Đó là những lúc cha đang soạn nhạc, cha đánh nhịp, cha hát thử. Có một lần lên nhà thờ gặp giờ cơm, về bà ngoại tôi thấy mũi lòng. Bà kể cha ngồi ăn cơm trưa với một dĩa khổ qua luột và một dĩa nước mắm “sống” có dầm trái ớt (đó là nước mắm nguyên chất, không có pha chế, thêm giấm hay thêm đường). Thấy bà ngoại tôi cứ nhìn lom lom “bữa cơm” của cha, cha giải thích: ăn như vầy ngon lắm con mà lại bổ nữa, với lại khổ qua ăn nên thuốc. Nhưng bà ngoại tôi “không chịu”, rồi từ đó cho đến khi ngoại tôi chết, cứ mỗi lần câu được cá buôi thì bà ngoại tôi sai hai anh tôi đem lên cho cha. Con cá buôi này tôi không hề biết mặt. Đó là loại cá hiếm mà anh tôi nói là ngon lắm, tưởng gì: ngoại nói như vậy. Cũng bà ngoại tôi nói chớ nào anh tôi có nếm qua món cá này bao giờ đâu. Anh tôi còn nói: cá này mắc tiền lắm, người ta mà câu được thì thường đem ra chợ bán, cho mấy nhà giàu, và mỗi lần hai anh tôi (hai anh em sinh đôi) khiêng cái giỏ cá đi lên nhà cha, cha thấy thì cha hay bước ra trước thềm nhà cha, đầu ngả qua ngả lại, cha hát: 
Ba đồng một mớ cá buôi 
Bỏ công câu cá về nuôi mẹ chồng. 
Bà ngoại tôi chết, không còn cá buôi để đem lên cho cha nữa. Rồi cha đổi đi nơi khác, không biết là họ đạo nào cho đến khi má tôi dẫn tôi lên thăm cha là lúc cha đang nghỉ hưu tại Chủng Viện Sài Gòn. Rồi cha qua đời, được chôn cất tại nghĩa trang các cha ở Chí Hòa. Đâu có dễ gì mà tìm đến nơi được để “thăm” cha. Từ xứ tôi mà đi được đến Sài Gòn thì cầm bằng như là bây giờ đi từ Việt Nam qua Mỹ, qua Tây, nhưng hồi đó có lẻ còn khó hơn. Mà đến được Sài Gòn rồi thì Chí Hòa là ở đâu nữa? Bởi vậy, hễ có người biết đường đi, người ta rủ nhau đi chung, đi lên thăm cha già, đi viếng mộ cha. Cả một tốp người vây quanh một nấm mộ. Bao nhiêu người chung một lòng tưởng nhớ! Trước đây, trong tháng 5 là tháng Đức Mẹ và tháng 6 là tháng kính Trái Tim, chiều phép lành là người ta hát các bài hát trong sách “Ca Ngợi”. Còn ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, nhiều họ đạo lo tập kinh “Kính Nguyện Chúa Thánh Thần”, 4 bè thiệt là “uy nghi”. Những khi nghe hát những bài hát này, sau lễ bà con xứ tôi nhắc nhở nhau: “Thiệt, nghe mấy bài hát này tui nhớ cha già Phaolồ Đạt quá!” Ngày nay, nói tới mấy kinh này, có mấy ai biết! 
Trong đời tôi, còn nhiều “cha sở” nữa, nhưng xin dừng lại nơi đây, tạm có đôi phút tưởng nhớ các cha xưa, “cha sở tôi”. 
( Micae Nguyễn Ngọc Sáng, Năm Linh mục: Cha Sở Tôi, Vietcatholic ) 
3. Về sáng tác, Lm Phaolô Đạt không có nhiều, nhưng tất cả đều đạt chất lượng cao. Ngoài hai quyền ca vịnh nêu trên, còn những bài nổi tiếng như Nửa Đêm Mầng Chúa Ra Đời, Kinh Nguyện Chúa Thánh Thần, Tôi Kính Lậy Chúa GiêSu… 
Ngay từ trong chủng viện, những bài hát Ca vịnh của thầy Phaolô Đạt bấy giờ được nhiều người khen ngợi. Cha Bề Trên chủng viện Ernest, giỏi dương cầm nổi tiếng có lời khen: Một lối nhạc vừa Đạo đức vừa Dân Tộc. Cha Gabriel Long, một nhạc sư cũng khen: Nhạc của Phaolô Đạt thật ngọt ngào say mến, đi sát với tinh thần của mỗi bài hát.. 
Nửa đêm mừng Chúa ra Đời 
Nửa đêm, mừng Chúa ra đời. 
Bức khăn sạch vấn để nơi hang lừa. 
Nửa đêm, mừng Chúa ra đời. 
Cỏ rơm trải lót bơ thờ. 
Cỏ rơm trải lót bơ thờ. 
Mượn ấm bò lừa quỳ thở dâng hơi,. 
quỳ thở dâng hơi 
Kiểng tinh soi sáng thâu đêm. 
Kiểng tinh soi sáng thâu đêm. 
Chói lói giữa trời nhỏ xuống Bê Lem. 
Thiên thần chín đẳng chầu quanh 
Thiên thần chín đẳng chầu quanh 
Tấu nhạc rập ràng đàn hát, đàn hát xướng ca. 
Vậy có ca rằng, rằng ca Thiên Chúa 
Ớ loài người, ấy phúc lành bình an cho người 
Vì cửa Thiên Đàng rộng mở 
Tang tình tình tang Thiên Đàng rộng mở 
Tang tình tình tang Thiên Đàng rộng mở 
Chúa Cả ra ơn, ơn cả chữa đời 
Rằng: Ớ chúng nhân tới xem điềm lạ 
Kìa trong hang đá nọ, trước lều tranh 
Rằng tính tình tinh Thánh Tiểu Hài Sinh 
Thật Ngôi Linh tính tang tình, 
Là tình Thiên Chúa, 
Nằm trong máng cỏ, bó bức khăn đơn 
Rằng: Báo chúng nhân tơi xem thì biết 
Tiêu thiều nhạc thiết, 
Tiêu thiều tấu cách vô biên 
Rằng: Tính tình tinh Thánh Tiểu Hài Sinh 
Thật Ngôi Linh tính tang tình là tình Thiên Chúa. 
Thiên thần vô số, nhạc thổi tung hô! 
Thiên thần vô số, nhạc thổi tung hô! 
Bài thánh ca này hiện nay chỉ đề mỗi tác giả là Phaolô Đạt, nhưng chúng tôi đang có trong tay một bản đề tên 2 người đồng tác giả. Đó là thêm Lm G. Long ghi trước Phao Lô Đạt. Như vậy có lẽ cha giáo sư Gabriel Long đã cộng tác với thầy Phaolô Đạt trong sáng tác này. 
Đến nay, nhiều người vẫn còn thắc mắc không rõ bản nguyên tác như thế nào. Sau nhiều năm tháng, bản thánh ca NĐMCRĐ đã tam sao thất bổn, như nhạc sĩ Đỗ Vy Hạ khi so sánh 4 ấn bản có trong tay, đã phát hiện ra đến 39 điểm dị biệt.! (http://www.calendi.com/thanhnhac/topic.asp?TOPIC_ID=3786) 
4.  Trước đây, trong một bài báo của Lm Vũ Đình Trác, tựa đề “Ca Nhạc Công Giáo” đăng trên Vietcatholic, đã viết: ..Các Lm Paulô Quy, Paulô Đạt (…) sáng tác những bài thánh ca mới theo điệu bình ca và ngũ cung Việt Nam (…) Lần đầu, hai Lm trên sáng tác những bài hát mới rất khởi sắc, như các bài:”Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời”, “Kinh Nguyện Chúa Thánh Thần” (…) Các bài hát mới này vừa hay lạ, vừa sốt sắng, lại có giọng điệu dân tộc, hợp với tinh thần người Việt. vì thế, được các nhà thờ miền Trung và miền Nam đón nhận nhiệt tình… 
( Lm Vũ Đình Trác, Vietcatholic, ngày 16/7/1997) 
Nhận định về bài NĐMCRĐ, ông Lê Đình Bảng, nhà thơ, nhà nghiên cứu thơ ca, âm nhạc CG đã viết: Bên cạnh giá trị về giai điệu và cung bậc mang âm hưởng dân tộc, còn phải kể tới giá trị lời ca là toàn văn của bản kinh vãn cùng tên trong Sách Kinh Mục Lục của địa phận Sài Gòn, một pho bách khoa toàn thư, đậm đặc thứ ngôn ngữ giầu hình tượng, rất riêng của những người con Chúa ở phương Nam: 
Nửa đêm, mầng Chúa ra đời 
Bức khăn sạch vốn để nơi hang lừa 
Cỏ rơm trải lót bơ thờ 
Mượn ấm bò lừa thở ấm dưng hơi 
Kiểng tinh soi sáng nơi nơi 
Chói sáng giữa trời, nhỏ xuống Bê linh… 
( Lê Đình Bảng, nguyệt san CG & DT số 84, Tháng 12 – 2001) 
Mới đây trong bài viết của Đỗ Hữu Nghiêm với đề tài QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN THÁNH NHẠC, THÁNH CA VIỆT NAM, đăng trên Dũng Lạc, đã đề cập đến bài NĐMCRĐ như sau: 
Các nhà nghiên cứu thánh ca có nhiều ý kiến khác nhau về sự xuất hiện bài thánh ca đầu tiên của VN, vì thiếu chứng liệu rõ ràng. 
1. Theo kết quả tìm hiểu thứ nhất, tại miền Nam, có người cho là bài “Nửa Đêm Mừng Chúa Ra Đời” và “Ca Vịnh Đức Bà” do linh mục nhạc sĩ Phaolồ Đạt, thuộc họ đạo Búng (Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương xưa, giáo phận Sài Gòn, nay thuộc giáo phận Phú Cường). Hai bài thánh ca đầu tiên này được biên soạn khoảng năm 1907, và được ấn hành tại Imprimerie de la Mission de Tan Dinh (Tân Định ấn Quán) khoảng năm 1910. 
Theo kết quả tìm kiếm thứ hai, một số nhà nghiên cứu lại cho bài “Thánh Thể”, sáng tác năm 1901 và bài “Dâng Mẹ Hoa” sáng tác năm 1902 của tu sĩ Anphong Châu. Đây là ý kiến ông Sơn Đông đưa ra bằng chứng qua hai quyển Cantemus Domino và Cung thánh Tổng hợp 1&2 của Nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh. Cả hai bài này đã có thời gian được hát thông dụng ở Nam Định, nhưng hiện không lưu lại bằng chứng rõ rệt nào. 
Hai đường lối tìm hiểu này phù hợp với sự xuất hiện buổi ban đầu phát triển chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ. Nhân vật nổi tiếng thời kỳ này là Huỳnh Tịnh Của (1834-1907) với tác phẩm nổi tiếng là cuốn Đại Nam Quấc Âm Tự Vị và một số tác phẩm khác còn lưu lại đến ngày nay. 
Ngoài ra người ta thấy xuất hiện tờ báo “Nam Kỳ Địa Phận” tại Sàigòn xuất bản số 1 (1908) và số cuối 1849 (tháng 3/1945). Chắc chắn những số đầu tiên đã nói đến những sáng tác thánh ca đầu tiên ở Việt Nam. Khi ở Sài gòn , tôi đã có thời gian nghiên cứu tập san này, nhưng nay không có điều kiện để tham khảo nhiều chuyên đề xa xưa liên quan đến lịch sử Việt Nam , nhất là thánh ca trong giai đoạn ít nhất từ 1908 đến 1945. 
Thực ra trong Nam Kỳ Địa Phận, nhất là trong báo Vì Chúa xuất bản nẳm 1936 sau này, đã có những bài hát được Linh Mục Nguyễn Văn Thích (1891-1978) sáng tác. Vốn là một tín đồ trong gia đình sung Phật giáo cải đạo sang Công giáo, chắc chắn những bài ca của linh Mục Thích đã bộc lộ một ức độ nhuần nhuyễn đặc tính ầm nhạc Phật giáo với Thánh Ca Công giáo. Có thể là những bài hát biểu trưng co nền Thánh nhạc ban đầu ở Miền Trung. 
Về âm nhạc, linh mục Nguyễn văn Thích sử dụng thành thạo các nhạc khí dân tộc như đàn cò, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tì bà… kể cả các nhạc cụ Tây phương. 
Trong thánh ca, một trong những bài nổi danh là bài Magnificat Việt ngữ (hiện được hát trong nhiều giờ kinh phụng vụ. Không thể kể hết nhưng các bài rất ý nhị như bài «Câu hát Đức Mẹ ru con», «Trời cao đất thấp gặp nhau», v.v… vừa giàu tình cảm, vừa đậm đà cung điệu và thanh âm của những câu hò hay ca trù dân tộc. 
2. Cách tìm hiểu thứ ba cho rằng những bài thánh ca Việt Nam đầu tiên đã do linh mục Vượng, đặt lời Việt vào các thánh ca La-tinh và Pháp, Các bài thánh ca lời Việt nhạc Tây phương này được đóng thành tập 20 bài và phổ biến rộng rãi ở Nam Định, Hà Nội. Ngoài ra những bài này còn lan rộng sang các nơi có giáo hữu, khắp ba miền Bắc, Trung và Nam. Đây là quyển sách hát thánh ca đầu tiên, dù không ai nhớ tên quyển sách là gì, chỉ còn nhớ tên gọi phổ biến là “Sách Hát Cha Già Vượng”. 
“Sách Hát Cha Già Vượng” chỉ xuất bản tương đối muộn vào những năm 1943. Cha Vượng không hề sáng tác bài nào mà chỉ đặt lời Việt cho giai điệu du dương có sẵn. Sách hát này bán chạy như tôm tươi. Các giáo hữu lúc bấy giờ nghe hát tiếng La-tinh không hiểu gì, nhưng được hát bằng tiếng Việt thì vô cùng hưởng ứng. Điều đó cho thấy phải chăng chưa có bài hát tiếng Việt nào trong nhà thờ trước đó, mọi người mới khao khát đến như thế. 
Như thế, tại ba miền Nam, Trung, Bắc, ba linh mục Phao lô Đạt, Giuse Maria Thích, và cha già Vượng đều là những đại biểu đầu tiên của nền Thánh Ca Việt Nam 
Chủ trương này có nhiều cơ sở xác đáng trùng hợp với những sáng tác tân nhạc Việt Nam đầu tiên trong giai đoạn 1930-1945. Trong giai đoạn này, các nhạc sĩ tiên phong như Nguyễn Văn Tuyên, Đặng Thế Phong, Lê Thương, Văn Cao, Dương Thiệu Tước, Tô Vũ, Nguyễn Thiện Tơ, … đã thành lập những nhóm tân nhạc và đặt “lời ta cho bài hát tây” tức là nhạc Pháp,... 
5. Như đề cập ở trên, ca từ bài Nửa Đêm Mầng Chúa Ra Đời ( NĐMCRĐ ) có xuất xứ từ kinh vãn cùng tên, đăng trong Sách Kinh Mục Lục của địa phận Sài Gòn. Dưới dạng vần thơ lục bát dễ rung cảm, thấm vào lòng trí người tụng, kinh vãn này cũng như nhiều bài kinh kệ khác cùng thời thường dùng vàì từ Hán Việt, không phải làm dáng, nhưng để tăng thêm phần trang trọng. 
Tuy nhiên, ngôn ngữ có cuộc sống theo dòng chảy xã hội, cũng chịu quy luật sinh tồn. Một số từ ngữ có thể mai một, ít dùng hoặc biến mất, để phát sinh ra nhiều từ mới, phản ảnh thực trạng, hay tâm thức xã hội. Do vậy, một số từ Hán Việt trong bài thánh ca này đến nay ít sử dụng, đã trở nên khó hiểu. Chẳng hạn như vài danh từ: Kiểng tinh, tiêu thiều, nhạc thiết... Chúng ta thử tìm hiểu để cố gắng lãnh hội được nét đẹp mượt mà của bài kinh vãn, lẫn bài thánh ca trên trăm tuổi này. 
Kiểng tinh có nghĩa cảnh tinh tú, ngôi sao sáng. Trong bài này còn ám chỉ ngôi sao chổi dẫn đường Ba Vua. 
Tiêu thiều: tiếng dùng chung chỉ âm nhạc trong hoàng cung. Ám chỉ Hội Nhạc Thiên Quốc do các Thiên Thần đồng tấu cất lên 
Tiêu thiều tấu cách vô biên: Nhạc Trời tấu lên tưng bừng không giới hạn 
Nhạc thiết: Nhạc trổi lên. 
Thiên thần chín đẳng chầu quanh: Chín ĐẲNG Thiên Thần ( Thường hay bị hát sai: Thiên Thần chín ĐẤNG chầu quanh ) Vì có đủ chín đẳng Thiên Thần, nên cuối bài ca mới có vô số Thiên Thần ! 
Thánh Tiểu Hài Sinh: Chúa Hài Nhi mới sinh. 
Tuy những bài ra đời sau gần nửa thế kỷ, như Hang Bê Lem (1945) của Hải Linh,  Cao Cung Lên (1945) của Lm Hoài Đức, đều dư âm nét nhạc Tây phương. Thì trước đó xa vời, Lm Phaolô Đoàn Quang Đạt đã không phóng tác theo Cantus Pro Festis Solemnioribus, hay Cantus Officiorum in Cantus Gregoriano, hoặc Cantiques de la Jeunesse, mà kỳ công nhạc hóa cung kinh lời nguyện, thổi làn điệu dân ca vào thánh nhạc dân tộc. Một bước tiến đột phá, đi tiên phong trước cả Công Đồng Vaticanô II: Hội nhập văn hóa! 
Những ca từ Lm Phaolô Đoàn Quang Đạt đượm nét mộc mạc, dân dã, mà vui tươi, thánh thiện, lôi cuốn cả người hát lẫn người nghe không khỏi hân hoan tràn ngập hy vọng: 
Tang tình tình tang Thiên Đàng rộng mở… 
Rằng tính tình tinh Thánh Tiểu Hài Sinh 
Thật Ngôi Linh tính tang tình, 
Là tình Thiên Chúa,… 
6. Cảm nhận về NĐMCRĐ 
Nói đến các nhạc phẩm Giáng sinh thì rõ ràng là nhạc phẩm NĐMCRĐ ít được chú ý, với những lý do mà các bài trước đã phân tích. Tuy nhiên nói về khía cạnh nhạc lý, thì các ca trưởng thì có lẽ hơi ngại khi tập bài này.
Bài hát được viết theo cung Fa trưởng liền một mạch từ đầu dến cuối, không phân thành điệp khúc, phiên khúc hay lặp lại. 
Bài có ba bè dành cho các ca đoàn vừa, khoảng 20 - 30 ca viên, hai bè giọng nữ và một bè giọng nam. Bè nữ cao lên nốt cao nhất là Fa (trên) nhưng hơi thường xuyên (Có lẽ chính vì lẽ này mà các ca trưởng ngại tập). Với giọng ca không chuyên của các ca viên trong các giáo xứ thì nốt này là quá cao. 
Trở lại với bài hát. 
Mở đầu là hai câu nhạc giáo đầu: "Nửa đêm mừng (viết theo các bản hiện nay) Chúa ra đời, bức khăn sạch vấn để nơi hang lừa." Câu này như tiếng loa thiên thần, đánh thức các mục đồng đang mê ngủ. Sau đó, cả bầu trời bừng sáng lên với câu nhạc 3 bè tiếp theo, như ca đoàn các thiên thần đang hợp xướng: "Nửa đêm mừng Chúa ra đời, cỏ rơm trải lót bơ thờ. Mượn ấm bò lừa quỳ thở dâng hơi. Kiểng tinh soi sáng thâu đêm, chói lói giữa trời nhỏ xuống Bê Lem". 
Sau đó, các mục đồng cùng hòa ca với các Thiên thần qua giọng nam: "Thần /mừng /hát /mừng /hát, /đàn /hát /chầu /quanh/ hát /mừng." 
Và thiên thần lại nhắc nhủ: " Ớ loài người ấy phúc lành bình an cho người vì cửa thiên đàng rộng mở." Bài hát như một cuộc xướng đáp giữa các thiên thần và các mục đồng. 
Giai điệu bài hát mang tính bình ca và chút tiết tấu của đồng dao Việt Nam. "Nửa đêm mừng Chúa ra đời, bức khăn sạch vấn để nơi hang lừa." Với những luyến láy bình ca và những luyến láy này trải dài trong toàn bài, rất thong dong. 
Trong khi đó giọng nam còn thong dong hơn, như không có chút vướng bận chộn rộn của cuộc sống trong đó, kể cả những lúc nhạc rộn ràng: "Tang tình tình tang thiên đàng rộng mở" hay "Thật ngôi linh tính tang tình là tình Thiên Chúa" ta nghe cũng nhẹ như không. 
Trong những đoạn này, ta còn cảm nhận tiết tấu của đồng dao. Nghe như các trẻ đang hát những bài vè: "Thiên thần chín đấng chầu quanh. Thiên thần chín đấng chầu quanh. Tấu nhạc rập ràng, đàn hát, đàn hát xướng ca." hay " Rằng tính tình tinh. Thánh tiểu hài sinh. Thật ngôi linh tính tang tình là tình Thiên Chúa." 
Lm Phaolô Đạt đã chuyển tải rất khéo một bài ca vãn dân gian sang điệu nhạc Tây phương nhưng không làm mất đi bản chất dân ca trong đó. Một bản nhạc với cách hòa âm rất giản dị. Chỉ trong ba hợp âm căn bản Fa - Do - Sib mà ngài dã làm cho bài hát trở nên uyển chuyển mà trong sáng, giản dị, không cầu kỳ. 
7. Vì sao bài NĐMCRĐ không được nhiều người biết đến? 
Là bài hát bằng tiếng Việt được ra đời sớm nhất, trong thời kỳ mà các nghi thức phụng vụ đều bằng tiếng La Tinh, thì rõ ràng bài hát chỉ được phổ biến trong giới hạn nho nhỏ của cộng đồng giáo xứ, hoặc vài giáo xứ chung quanh. Hơn nữa, lễ Giáng Sinh thời đó thuần túy là một ngày lễ của "người có đạo", có đàn hát xướng ca cũng chỉ "người có đạo" biết mà thôi, chứ không như ngày nay, Giáng Sinh đã trở thành một ngày hội. Từ cuối tháng 11 dến suốt tháng 12 đi đâu người ta cũng thấy không khí Giáng Sinh với đèn trang trí đầy màu sắc, hình Ông Già Noel với tuyết trắng rơi đầy, hang đá, máng cỏ.... và đâu đâu cũng văng vẳng tiếng chuông với những bài Thánh ca hoặc các bài hát về mùa đông và Noel. 
NĐMCRĐ còn là một bài hợp xướng, do đó tính chất phổ biến của nó lại càng bị giới hạn hơn. Người ta có thể ngâm nga bài ca vãn với những vần thơ lục bát: 
"Nửa đêm mầng Chúa ra đời. 
Bức khăn sạch vấn để nơi hang lừa, 
Cỏ rơm trải lót bơ thờ, 
Mượn ấm bò lừa quỳ thở dâng hơi..." 
hoặc cũng có thể cất tiếng hát: 
"Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời..." hay: 
"Cao cung lên khúc nhạc Thiên thần Chúa, hòa trong làn gió, nhè nhẹ vấn vương..." 
Nhưng người ta không thể một mình cất lên giai điệu với ba bè của bài hợp xướng NĐMCRĐ. 
Sau này khi những bài hát giáng sinh được sáng tác nhiều hơn và được phổ biến rộng rãi hơn, thì lúc đó NĐMCRĐ lại trở thành một bài hát cổ, cổ về cả năm sinh, lẫn về ca từ. Người ta chú ý đến những bài hát mới được sáng tác, giai điệu mới hơn, lời ca dễ hiểu hơn. Với những: 
"Đàn ơi, cứ rung những điệu réo rắt,.. 
.Hỡi người dương thế, lặng nghe cung đàn..." 
thì dứt khoát dễ hiểu hơn: "Tiêu thiều, nhạc thiết tiêu thiều tấu cách vô biên..." 
hoặc: "Trông hang Bê Lem, ánh sáng tỏa lan tưng bừng, nghe trên không trung, tiếng hát Thiên thần vang lừng..." 
vẫn hình tượng hơn: "Kiểng tinh soi sáng thâu đêm. Chói lói giữa trời nhỏ xuống Bê Lem..." 
Còn một lý do nữa hơi tế nhị, đó là tân nhạc Việt Nam thường được hát với giọng Bắc, do đó những bài hát được sáng tác cho giọng Bắc hoặc với ca từ "ngoài Bắc" dễ được công chúng chấp nhận hơn. (Nói điều này e rằng có nhiều người nhận xét có tính cách cục bộ ở đây. Nhưng thực tế mà nói, đa phần các bài hát tân nhạc đều được phổ cho giọng Bắc và dù người miền nào đi nũa thì cũng phải hát với giọng Bắc.) 
Nói tóm lại, NĐMCRĐ của Lm Phaolô Đoàn Quang Đạt ít được công chúng biết đến cũng là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên nó đã đánh dấu bước khởi đầu của việc sáng tác những ca khúc cầu nguyện bằng tiếng Việt phục vụ cho giáo dân Việt. Cùng vói những bài như Trời Cao Đất Thấp, Mười Hai Cái Mến của Lm J.M. Nguyễn Văn Thích, NĐMCRĐ là một trong những nhạc phẩm tiên phong cúa nền Thánh Ca Việt Nam. 
Vĩ Thanh 
Nửa Đêm Mầng Chúa Ra Đời của Lm nhạc sĩ Phaolô Đoàn Quang Đạt đã phổ nhạc nhuần nhuyễn bài kinh vãn, đã khéo léo liên kết đồng dao vào làn điệu bình ca Công Giáo, vừa trong sáng, vừa dân tộc, vừa long trọng, vừa phong phú âm hưởng, khéo léo nâng tâm hồn thính giả hòa nhập vào niềm hân hoan vô bờ, đón chào Đấng Cứu Thế Giáng Sinh. Như thế, mỗi khi Nöel về chẳng lẽ chúng ta lại nỡ vô tình quên, không hợp xướng bản thánh ca giàu cảm xúc NĐMCRĐ của Lm Phao lô Đoàn Quang Đạt hay sao? 
11/01/2010
Hoàng Anh & BomBo
  • (Nguồn:thanhlinh.net)