Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

ĐA ĐOAN CÔNG CUỘC TỪ THIỆN


Công cuộc từ thiện trong một thế giới mà cách biệt giàu nghèo vẫn còn nổi cộm thực sự chẳng dễ dàng gì, ngay cả khi cho đi thứ mình có
Trong những tháng cuối năm 2015, chuyện thế giới, thiện, ác đều có đủ. Nếu người người căm giận sự tàn ác của vụ khủng bố máy bay Nga hay thảm sát ở Paris thì cũng có những cảm kích nhất định trước tấm lòng của các tỷ phú rộng tay với công cuộc từ thiện. Ông chủ Facebook, Mark Zuckerberg, trở thành “tâm điểm” của việc thiện khi vừa quyết định sử dụng 99% số cổ phiếu hiện có của mình tại Facebook, tương đương hơn 45 tỷ USD, cho các hoạt động thiện nguyện và cộng đồng.

Cho và nhận không đơn giản

Thế giới hàng tỷ người không ai giống ai, sự cách biệt giàu nghèo vẫn còn là hố sâu quá lớn nên công cuộc làm từ thiện không đơn giản. Vẫn biết người ta không thể cho những gì mình không có, nhưng ngay cả cho đi thứ mình có cũng chẳng dễ dàng gì. Số tiền làm từ thiện lớn nhất lịch sử tính đến nay của Mark Zuckerberg, bên cạnh những tiếng vỗ tay cũng vẫn phải nhận những đánh giá dễ làm nản lòng người mở hầu bao.
Tại sao ngay cả việc từ thiện cũng đa đoan như lòng người đến thế? Các nhà tâm lý xã hội đã giải thích hành động từ thiện ngả về ba hướng sau đây. Thứ nhất, vì vị tha thuần túy, “tôi cho đi vì tôi nghĩ xã hội sẽ tốt hơn nhờ công cuộc từ thiện”. Thứ hai, người ta rộng tay để thấy mình có giá trị khi sống đã giúp xã hội tốt hơn. Cuối cùng, có những người làm từ thiện thuần túy chỉ để phô mình, chứng tỏ họ giàu có, thành đạt xã hội. Trong cuộc đời mỗi người có lẽ ai cũng đã từng một lần cho đi thứ gì đó. Dù vẫn có những nhà tâm lý không đánh giá cao việc làm từ thiện vì họ cho rằng người ngửa tay nhận “bố thí” phải chịu đựng thêm một sự đánh giá khác từ đồng loại là thấp kém, nghèo hèn, thuộc tầng lớp khác… Điểm tích cực là con số người làm từ thiện đang ngày càng nhiều trên thế giới, bất chấp họ thuộc nhóm nào.
Nói đến hai chữ “từ thiện”, người ta vội nghĩ ngay đến các tỷ phú, các đại gia lắm tiền nhiều của hy sinh bớt phần gia sản để giúp đỡ đồng loại mà ít nghĩ đến những người bình dân làm “bố thí”. Có một sự thực đáng ngạc nhiên là ngay tại Mỹ người nghèo làm từ thiện cao hơn người giàu nếu tính theo phần trăm thu nhập. Người bình dân có khuynh hướng hay giúp đỡ những tổ chức tôn giáo, dịch vụ xã hội, trong khi người giàu bỏ tiền hỗ trợ giáo dục, nghệ thuật và môi trường. Ngay cả những ai chưa từng bao giờ làm từ thiện cũng được các nhà xã hội “cảm kích” chứ không đánh giá theo hướng tiêu cực là họ vô cảm. Vì như Công tước Ellington từng nói: “Vị kỷ, ở một khía cạnh nào đó, cũng là một đức tính, đó là bản chất để sống còn. Ai không tự sống được thì không thể bảo vệ những người mình yêu thương”. Nghĩa là bạn không thể cho thứ mình không có. Còn nếu gắng gượng tìm mọi cách để làm từ thiện, có thể bạn sẽ hại bạn, hại người khác hơn là giúp đỡ.

Nhóm người được dạy cần làm từ thiện

“Từ thiện” là thuật ngữ xã hội tiếng Việt khá chung chung trong khi hành động tích cực này trong ngôn ngữ thế giới lại khá đa dạng và rõ ràng trong những tiêu chí làm từ thiện. Từ tiếng Anh, “charity” bắt nguồn từ “caritas” tiếng Latin, nghĩa là “yêu tha nhân vô điều kiện”. Tín đồ của hầu hết các tôn giáo, đạo giáo đều làm từ thiện theo những gì được giáo lý, tiền nhân dạy bảo. Cách làm từ thiện nay bao gồm tính trong sáng không vụ lợi. Họ không cần suy nghĩ nhiều và xem hành vi đều đều bỏ chút tiền vào hòm công đức hay cúng dường là một hành vi sống có đạo. Các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo nay cũng đang phát triển nhiều, nuôi dưỡng truyền thống làm từ thiện của người bình dân và đó là điểm sáng lớn giúp cân bằng cán cân thiện-ác.

Những nhà hảo tâm, phong trào làm từ thiện

Từ thiện trong tiếng Anh còn là “donor” (những nhà hảo tâm) bắt nguồn từ động từ “donare” (cho đi) của tiếng Latin. Nhà hảo tâm nói chung là một cá nhân, một tổ chức hay đoàn thể tự nguyện cống hiến tiền bạc của cải, thời giờ công sức cho một mục đích tốt nào đó. Cuộc sống càng văn minh, dạng từ thiện này càng phát triển nhưng cũng càng trở thành đa đoan, lắm vấn đề. Chính dạng làm từ thiện “donor” này đang đẻ ra hai khía cạnh tiêu cực gây tranh cãi, một là thúc ép người khác làm từ thiện, hai là làm từ thiện theo phong trào. Khi các đại gia Việt bỏ tiền tỷ mua giường, sắm siêu xe, xây lăng mộ… những người lên tiếng phê phán “sao không để tiền ấy làm từ thiện” liền bị dân mạng thi nhau “ném đá” là dân đạo đức giả. Còn các vụ lùm xùm của các quỹ từ thiện ăn theo thì thực sự kể ra không hết.
Tại nước ta hiện nay con số cá nhân, gia đình, đoàn thể và nhất là các doanh nghiệp đang thi nhau làm từ thiện ngày càng nhiều. Hầu như các sự kiện lớn nhỏ của các công ty đều có chút dính dáng đến từ thiện. Đó cũng là tâm lý kinh doanh, bởi theo thống kê, 86% người tiêu thụ toàn cầu tin dùng sản phẩm của những thương hiệu làm từ thiện nhiều nhất. Ở mức độ nào đó, nhiều nhà hảo tâm xuất hiện là theo khuôn mẫu “tấp tểnh người đi, tớ cũng đi”, hoặc xem đó là một phong cách không thể thiếu của lối sống thành đạt. Thế nên khó tránh khỏi lấy việc phô trương, đánh bóng tên tuổi làm mục đích chính. Thậm chí bây giờ các mạng xã hội, công nghệ quảng cáo truyền hình cũng nhảy vào để hô hào người khác làm từ thiện.
Với cách làm từ thiện “show off” này, thế giới đã xảy ra hàng loạt vụ bê bối dẫn đến quỹ từ thiện kiểu này đang sụt giảm nhanh trong những năm gần đây. Dính dáng đến chúng không ít tên tuổi người của công chúng đã nhúng chàm từ Paula Abdul, Lady Gaga, Kanye West đến Lance Armstrong, Madonna hay Tom Cruise và vợ cũ Katie Holmes. Tuyên bố kiểu làm từ thiện khá đặc biệt (không mở quỹ mà mở công ty TNHH, không cho đi tiền mặt mà cho đi cổ phiếu…) của ông chủ Facebook mới đây cũng đang bị cho là mang động cơ đánh bóng thương hiệu khi bị so sánh với cách làm từ thiện truyền thống và bài bản lẫn vô tính toán của vợ chồng Bill Gates, Warren Buffett…
cong-cuoc-tu-thien-hinh-anh

Những con người trái tim cao hơn cái đầu

Trong ngôn ngữ thế giới, từ thiện còn một từ nữa là philanthropy, một từ nguyên của Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thương nhân loại” với nội dung gồm tinh thần quan tâm, nuôi dưỡng, phát triển và tăng cường những gì liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người. Từ thế kỷ 20, những nhà làm từ thiện theo ngữ nghĩa này thường là các tỷ phú, những nhân vật tích lũy được nhiều tiền nhất trên thế giới. Họ là những cá nhân, gia đình hay hình thành các cộng đồng như nhóm Giving Pledge (các tỷ phú cho đi 50% tài sản do Warren Buffett và Bill Gates hô hào). Họ làm từ thiện bằng cách hy sinh tiền bạc để cải thiện, duy trì và phát triển hành tinh xanh này trong các mảng từ y tế, giáo dục, dịch vụ sống, văn hóa nghệ thuật, môi trường, công nghệ, kinh tế và cả tôn giáo.
Sự khác biệt giữa những kiểu từ thiện này khá rõ ràng. “Charity” là làm từ thiện để xoa dịu, làm giảm những nỗi đau của xã hội, trong khi những nhà từ thiện “philanthropy” cố gắng giải quyết từ gốc rễ các vấn đề. Chúng là kiểu khác biệt giữa một bên “cho con cá để người khác ăn khỏi đói”, một bên là “tặng cần câu để kiếm cá mưu sinh”. Khác biệt lớn nữa giữa tổ chức từ thiện của các tỷ phú (philanthropist) và các nhà thiện nguyện tầm trung, nhà hảo tâm (donor) là công cuộc từ thiện vĩ mô của nhóm tỷ phú đã trở thành một đại sự, phải hội tụ đủ 4 yếu tố mới thành công. Một là họ phải có động lực đam mê khao khát tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho phần nhân loại không may, hai là họ phải có yếu tố để cho đi, không là tiền bạc cũng là thời giờ, ba là họ phải có óc sáng tạo, biết nhìn xa trông rộng để tiếp cận những cách thức mới để giải quyết vấn đề. Cuối cùng nhóm phải có cái đầu biết lãnh đạo, tổ chức, định hướng và gây ảnh hưởng tốt trên các thành viên khác.

Năm 2015 ai cho đi nhiều nhất?

> Myanmar, Mỹ và New Zealand là Top 3 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất.
> Đóng góp tiền bạc và giúp người khác tăng trong khi nhóm tình nguyện giảm.
> Lần đầu tiên trong 6 năm khảo sát, nam giới cho đi tiền bạc nhiều hơn phụ nữ.
> Chỉ có 5 quốc gia G20 nằm trong Top 20 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất cho thấy thịnh vượng chưa chắc đã có lòng đại lượng nhất. Nga (129) lẫn Trung Quốc (149) đều ở trong nhóm áp chót.
> Những quốc gia tiến bộ nhất trong bảng xếp hạng hảo tâm so với năm ngoái là Croatia (hạng 62), Kyrgyzstan (18), Kazakhstan (56), Ba Lan (78), Luxembourg (33). Việt Nam xếp thứ hạng 79.
BÀITRẦN TRUNG
ESQUIRE VIỆT NAM

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

CHIỀU HƯỚNG CHUNG TRONG CÔNG TÁC BÁC ÁI XÃ HỘI HIỆN NAY


                                                                         Lm. Marcello Đoàn Minh, GĐ Caritas Đà Nẵng
Người đời vẫn thường nói: “Của cho không bằng cách cho.” Làm ra của cải đã khó, mà đem của đi cho nếu không dễ thì cũng là điều phải cân nhắc, không khéo cho không đúng cách lại xúc phạm đến người nhận! 
Cũng vì quan tâm đến khâu cho đi này mà ngay từ đầu, Giáo Hội đã thiết lập hẳn một chức vụ để phục vụ người nghèo, trong đó có việc phân chia các của cải dâng cúng trong cộng đoàn. Rồi trong lịch sử Giáo Hội xuất hiện các hội đoàn, các dòng tu, các tổ chức chuyên lo việc cứu tế xã hội. Dưới đây là một số điểm nhấn trong công tác bác ái xã hội của Giáo Hội hiện nay, rút ra từ hai cuộc hội thảo của Ủy ban Bác ái Xã hội- HĐGMVN năm 2008[1], và thông điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’[2] của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI.
Điểm đầu tiên là sự quan tâm về giáo thuyết xã hội của Hội Thánh. Dĩ nhiên lúc nào việc bác ái xã hội cũng đặt cơ sở trên Lời Chúa và hướng dẫn của Hội Thánh. Tuy nhiên phải nhận rằng, ngày nay giáo thuyết xã hội được đề cập đến nhiều hơn và có hệ thống hơn trong các văn kiện chính thức của Hội Thánh. Ngày 2 tháng 4 năm 2004, Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình cho phát hành cuốn Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo, gồm 12 chương, đúc kết giáo huấn của các đức giáo hoàng, các chủ chăn liên quan đến các vấn đề xã hội như gia đình, lao động, kinh tế, cộng đồng chính trị, bảo vệ  môi trường, hòa bình thế giới.[3] Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ra ba thông điệp quan trọng về xã hội[4], còn Đức Giáo Hoàng Bênêđitô đã dành một trong hai phần của thông điệp đầu tiên (‘Thiên Chúa là Tình Yêu’) của ngài để nói về hoạt động bác ái trong Hội Thánh. Tại giáo hội địa phương, đối thoại với người nghèo là một trong ba cuộc đối thoại theo đường hướng sống đạo và truyền đạo của Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu. Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xác nhận thái độ ưu tiên chọn lựa người nghèo (số 34) và dành một trong bảy chương (Ch. VI) để nói cách riêng về thăng tiến con người.  
- Thứ đến là mối quan tâm để “giữ được tất cả vẻ huy hoàng của [hoạt động bác ái KTG] để việc đó không trở thành chỉ là một hình thức khác của trợ giúp xã hội.” (TCTY, số 31). Giáo Hội không những chăm lo việc giúp người nghèo nhưng còn phải xét xem sứ vụ đó được thi hành thế nào, làm sao để duy trì bản sắc Công giáo, hay xây dựng nền văn hóa Kitô giáo trong việc từ thiện bác ái, coi đó như là “nền tảng cho mọi việc mình làm và là chuẫn mực xác định sự đóng góp hết sức độc đáo của mình”[5]. Có như vậy việc bác ái mới am hợp với chính bản chất của của sứ mạng Hội Thánh. 
Từ mẫu gương của người Samaritanô, Đức Giáo Hoàng cho rằng việc bác ái trước tiên phải là một lời đáp trả đơn sơ cho những nhu cầu cấp thời: cho kẻ đói ăn cho người khát uống, và phải xem đây là một trong những nhiệm vụ ưu tiên. Tuy nhiên không đơn giản chỉ là đem tiền của đi cho mà Đức Giáo Hoàng còn lưu ý“những người chăm sóc những kẻ thiếu thốn trước tiên phải có nghiệp vụ: họ phải được đào tạo đúng đắn, họ phải làm gì, làm như thế nào, cũng như cam kết tiếp tục công tác trợ giúp ấy.”
 Khả năng nghiệp vụ được coi như đòi hỏi đầu tiên, nền tảng (TCTY, số 31). Mức độ chuyên nghiệp ở đây là gì? Phải chăng Đức Giáo Hoàng đòi hỏi người làm từ thiện phải đi học hay phải có bằng cấp công tác xã hội không? Nếu theo ý Đức Giáo Hoàng lấy mẫu gương người Samaritanô, chúng ta thấy đó đơn giản là biết mình phải làm gì và làm như thế nào, tức là biết phục vụ cách hữu hiệu và khôn khéo. Người Samaritano không những sơ cứu nạn nhân: lấy dầu rượu đổ lên vết thương và băng bó lại, mà còn lo chạy chữa cho lành lặn, đưa đến quán trọ nhờ người săn sóc cho đến khỏi bệnh dầu phải tốn kém.[6] Nói theo chuyên môn, chú trọng tới nghiệp vụ là quan tâm đến khía cạnh tổ chức có khoa học cơ cấu, điều phối nhân sự, kiểm tra tài chính, đánh giá kết quả để làm sao mang lại hiệu quả thiết thực cho người thụ hưởng. Trong khi đó, là người lo việc điều phối các tổ chức bác ái công giáo Hoa Kỳ, Cha Larry hiểu đây chính là khâu quản lý nguồn tài trợ, ngài viết: “không những phải tuân theo các mô hình phổ biến nhất để đáp ứng nhu cầu nhân đạo và làm công tác xã hội, mà còn quản lí điều hành theo những phương cách tốt nhất. Có thế chúng ta mới an tâm là mình đang quản lí các nguồn tài nguyên được giao cho mình phục vụ người nghèo và những người bị gạt ra ngoài xã hội – không chỉ vì mình phải chịu trách nhiệm với những người đã hào hiệp cấp tặng để xúc tiến việc bác ái, mà quan trọng hơn cả vì người nghèo đáng được phục vụ tốt nhất và chuyên nghiệp nhất.” Như vậy chúng ta hiểu được tại sao các tổ chức tài trợ luôn cần có những bá cáo tài chính, các cuộc kiểm tra hay hình ảnh nghiệm thu dự án.
Nhìn từ góc độ khác, gốc rễ của nghèo đói phát xuất từ những yếu kém từ nơi ăn chốn ở, sức khỏe, văn hóa giáo dục kém, thể lý, đến vị thế trong xã hội, chuyên môn nghề nghiệp, cơ chế, tập quán địa phương. Nếu chỉ tập trung vào việc khâu viện trợ, xin cho, ban bố từ trên xuống hay từ ngoài vào (quen gọi cách này là ‘cho con cá’) sẽ làm cho người nhận thụ động và sẽ không sao thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của đói nghèo. Quan tâm nghiệp vụ với nhiều người hiện nay là làm sao phát triển bền vững, không những nhắm đến sự phất lên của một người, một nhóm nhưng là tiến bộ chung của cả cộng đồng. Đó là nâng cao năng lực của cộng đồng, giúp người dân phát huy các tiềm năng sẵn có tại địa phương, làm cho họ thêm lòng tự tin, tự trọng và mạnh dạn tham gia xem xét hoàn cảnh thực tế và đưa ra kế họach giải quyết cụ thể. Điểm nhắm là giúp người để người tự giúp, tự vượt khó, tức là ‘cho cần câu chứ không cho con cá.’  
Tuy nhiên không thiếu những dự án, chương trình hoạch định rất công phu bài bản nhưng lại dẫn đến hậu quả tiêu cực. Bởi thế không thể nào không quan tâm đến yếu tố tinh thần, thiện chí trong công cuộc từ thiện. Trong thông điệp đầu tiên của mình, Đức Giáo Hoàng đương kim bàn giải và nhấn mạnh nhiều đến yếu tố thứ hai này, ngài viết: “Thêm vào việc đào tạo chuyên môn cần thiết, những người làm việc bác ái cần được ‘đào tạo con tim’: họ cần được dẫn tới gặp Thiên Chúa trong Đức Kitô, Đấng thức tỉnh tình yêu của họ và mở lòng ra cho kẻ khác.”(TCTY, số 31a). Đây là một ‘con tim biết nhìn thấy’ để nhận biết “nơi nào tình yêu đang cần đến và hành động cách phù hợp.” (TCTY, số 31). Để có được con tim này, trước tiên phải có những cái ‘không:’ 
          - không chỉ có kỹ thuật. Bước vào lãnh vực công tác từ thiện là bước vào trong tương quan nối kết có tính cách nhân linh với những con người đầy đủ nhân phẫm luôn “cần một cái gì hơn sự chăm sóc kỹ thuật hay vật phẫm. Họ cần tình người. Họ cần sự quan tâm chân thành.” (TCTY số 31). Ở đây cho không chỉ là trao ban của cải tôi có mà phải có tôi hiện diện cách nào đó trong của tôi đem cho.[7] 
- không được dùng từ thiện để chiêu dụ tín đồ, không được phép áp đặt đức tin trên kẻ khác bởi vì người được cho cần được tôn trọng nhân phẫm và tự do. Tuy nhiên kitô hữu cần biết lúc nào nên nói về Thiên Chúa, lúc nào nên im lặng để hành động yêu thương của mình lên tiếng. (TCTY, số 31).  
- không lệ thuộc phe nhóm và ý thức hệ. Có những nhóm hoạt động xã hội không phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh.[8] Do đó cần quan tâm để hoạt động bác ái trong Giáo Hội có được sự độc lập chính đáng.  Thông điệp TCTY nhấn mạnh: “Các tổ chức bác ái của GH là một ‘công trình riêng’ (opus proprium), là một nhiệm vụ  thích đáng của Giáo Hội, trong đó Giáo Hội không cộng tác tay đôi mà là hành động như một chủ thể có trách nhiệm trực tiếp, có thể làm những gì thích hợp với bản chất của mình.” (TCTY, số 29).
Để việc từ thiện mang đậm bản sắc Công giáo, nó phải gắn liền với đời sống cầu nguyện. Đây chính là xuất phát điểm của truyền thống từ thiện trong Hội Thánh, đã được thể hiện trong đời sống các vị thánh. Người làm từ thiện trước tiên cần kết hiệp với Chúa Kitô và được tình yêu Ngài thúc bách (x. 2 Cor 5, 14), cần học nơi Ngài gương yêu thương phục vụ cũng như kín múc nơi Ngài sức mạnh cho hoạt động bác ái của mình. Cầu nguyện giữ trong tâm hồn thái độ khiêm tốn, coi việc chia sẻ như một ân ban, không dám tự phụ cho mình có quyền giải quyết tất cả, hay ngược lại thất vọng, buông xuôi khi đứng trước đại dương nghèo đói khổ đau của đồng loại. Ngay cả khi thấy khó hiểu trước sự thinh lặng của Thiên Chúa trong đau khổ tha nhân, họ vẫn luôn tin rằng Thiên Chúa là Cha và hằng yêu thương con cái Ngài. (TCTY số 38). 
* * * * *
Tới đây chúng ta đã cùng đọc lại hướng dẫn của các vị Chủ Chăn để có thêm ánh sáng cho công việc bác ái của mình. Bài này khép lại khi có tin cuộc khủng hoảng kinh tế mới đốn ngã thêm một gã khổng lồ tài chính khác: Citigroup bị chẻ đôi, còn Bank of America chịu lỗ tổng cọng 17 tỉ USD để có thể tồn tại! Cho hay các ngân hàng đầu bảng đâu có phải nơi bảo đảm tuyệt đối cho số tài khoản được ký gửi. Trong khi đó cho dù một việc cỏn con như li nước lả cho người anh em nhỏ bé cũng được Chúa Kitô kể là làm cho Ngài và sẽ được ân thưởng.(x. Mt 10, 42; 25,40). Xem thế, đồng tiền chia sẻ cho người nghèo là gửi vào kho bạc an toàn và có lãi xuất cao nhất: Ngân Hàng Thiên Chúa Tình Yêu!  Địa chỉ này không ở đâu xa bởi lẻ: 
“Người nghèo luôn có bên cạnh anh em.” ( Mt 26, 11).

 (Nguồn : caritasdanang.org)

Thứ Hai, 11 tháng 4, 2016

BÁC ÁI THEO TINH THẦN PHÚC ÂM


Có một người phong cùi quần áo rách nát hằng ngày ngồi xin bố thí bên vệ đường. Thỉnh thoảng cũng có những người qua đường mủi lòng để rơi một vài đồng xu vào trong cái mũ lá đặt bên chân người ấy. Có điều lạ là người ăn xin đó không hề tỏ dấu hiệu biết ơn nào, không một lời nói cũng không một nụ cười, hoặc một cái gật đầu.
Một hôm, có người thường xuyên đi ngang qua lối đó thấy vậy liền dừng lại và không khỏi ngạc nhiên lên tiếng hỏi người phong cùi xin bố thí:
- Tại sao ông không một lời hoặc một cử chỉ biết ơn nào đối với những người tỏ lòng trắc ẩn bố thí cho ông?
Người phong cùi thản nhiên đáp:
- Nhưng tại sao tôi phải cám ơn họ? Thiên Chúa đã muốn dùng tôi như cơ hội tốt đẹp để họ có dịp làm việc thiện, làm một cử chỉ nhân từ, một hành động bác ái. Có lẽ tốt hơn là họ phải cám ơn Chúa vì sự bất hạnh khốn cùng của tôi để nhờ đó mà họ có công nghiệp đáng được vào Nước Trời.
Nghe vậy, khách qua đường mỉm cười mỉa mai bỏ đi trong lòng thầm nghĩ người ấy hoặc là mất trí hoặc là vô ơn. Nhưng câu trả lời của người phong cùi cứ văng vẳng bên tai làm cho vị khách qua đường phải hồi tâm suy nghĩ. Sau cùng, người ấy tự nhủ: "Xét cho kỹ thì người phong cùi hẳn có lý. Thực ra, bất kỳ việc tốt gì chúng ta làm cho người khác, tức là làm cho chính mình vậy". Từ ngày đó trở đi, mỗi lần đi ngang qua người phong cùi ăn xin bên vệ đường, người ấy luôn rút trong túi ra hai đồng tiền, một đồng để làm phúc bác ái cho người phong cùi, còn một đồng để tỏ lòng biết ơn người ấy.
* * *
Có lẽ nhiều lúc chúng ta cũng vội vàng và dễ dàng xét đoán cách nông cạn và sai lầm về việc làm của những người khác. Lời nói của người phong cùi nghe như lời nói của kẻ vô ơn, tệ bạc là lời thức tỉnh lòng ích kỷ tự nhiên của con người và nhắc nhở chúng ta có bổn phận phải quan tâm đến những người chung quanh chúng ta. Lắm khi chính chúng ta sai lầm khi nghĩ rằng thực thi đức bác ái chỉ là một lời khuyên bảo tốt, một việc làm thêm có thể làm hoặc cũng có thể bỏ qua. Trái lại, theo tinh thần Phúc Âm Chúa Kitô thì thực thi đức bác ái là một bổn phận nòng cốt trong đời sống người tín hữu. Trong Phúc Âm Chúa Giêsu quả quyết với dân chúng: "Các con phải thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con". Hơn thế nữa, lòng bác ái thương người là một vinh dự của các môn đệ Chúa, bởi vì "Hễ điều gì các con làm cho một trong những người hèn mọn là các con làm cho chính Thầy vậy" (Mt 26,45).
Lòng bác ái theo tinh thần Phúc Âm còn đi xa hơn cán cân công bằng của người thế trần: mắt đền mắt, răng thế răng, trái lại, "Cần phải yêu thương cả thù địch và làm điều tốt cho những người thù ghét cac con nữa, có như thế những người khác mới nhận biết rằng các con là môn đệ của Thầy được". Chúa Giêsu dạy chúng ta cần phải nhắm cao và nhìn xa thấy rộng hơn trên con đường của đức bác ái. Có lần Chúa Giêsu nói với người đã mời Ngài tới dùng bữa rằng "Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng mời bạn bè, anh em hay bà con hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông. Và như thế ông được đáp lễ rồi. Khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật và què quặt đui mù. Họ sẽ không có gì đáp lễ và như thế ông mới thật có phúc vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày kẻ lành sống lại".
Tình thương nhưng không và vô vị lợi của Chúa Giêsu được thể hiện ngay từ giây phút đầu tiên của mầu nhiệm cứu độ. Tin mừng Ðấng cứu thế giáng trần đã không được loan báo cho những người giàu sang, quyền cao, chức trọng, nhưng trước tiên là cho các mục đồng, những tâm hồn đơn thành luôn rộng mở tâm hồn đón nhận tình thương của Chúa. Họ không có gì để đáp đền tình thương Chúa ngoài việc hiến dâng cho Ngài sự khó nghèo của họ. Giữa đêm khuya giá lạnh họ đã tới sưởi ấm cho Ngài bằng tấm lòng khiêm tốn biết ơn của họ.
Lạy Chúa Giêsu là thái tử hòa bình, là vua tình thương.
Xin ban cho con quả tim quảng đại như Chúa, luôn vươn lên cao, vượt qua mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình của Chúa. Xin ban cho con trái tim đủ lớn để con biết khiêm tốn đến với người con không ưa và để tỏ lòng biết ơn với cả những người vô ơn nữa.
(Nguồn :catholic.org.tw)

Chủ Nhật, 10 tháng 4, 2016

CHUYỆN TÌNH BUỔI BÌNH MINH


SUY NIỆM 

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH - NĂM C 
Các bạn trẻ thân mến,
Sau một đêm vất vả nhưng không bắt được con cá nào, các tông đồ chèo thuyền vào bờ trong tâm trạng u buồn về tinh thần, đói lả về thân xác. Nghe theo lời khuyên của một người lạ, họ quyết định thử thả lưới lần cuối với chút hy vọng mong manh. Ai ngờ, chỉ một mẻ lưới tình cờ đã có thể bắt được rất nhiều cá. Nhạy cảm trước sự kiện lạ này, Gioan đã nhận ra Thầy chính là người lạ đã đưa ra lời chỉ dẫn kia. Thế rồi họ vào cũng vào bờ, mang ít cá mới bắt được đến bên bếp lửa đã được Thầy nhóm sẵn. Cùng với chút bánh Thầy mang tới, tất cả dùng chung với nhau bữa ăn sáng đạm bạc nhưng chan chứa niềm vui.
Trời lúc ấy mới hừng đông. Ánh mặt trời con non nớt, chiếu qua những hạt sương long lanh. Tiếng sóng vỗ rì rào theo chiều gió thổi. Có lẽ đã lâu lắm rồi, Thầy với trò mới có được một bữa ăn nhẹ nhàng và an bình như thế. Từ sau khi Thầy bị bắt, ngày nào họ cũng phải sống trong lo sợ và u ám. Cái chết kinh khiếp của Thầy như vẫn còn đâu đây. Tiếng la hét, tiếng khóc than, tiếng búa gõ vào đầu đinh sắt… những hình ảnh thê lương ấy sao dễ có thể phai nhạt được. Nhưng giờ đã qua hết rồi, những khoảnh khắc u sầu tăm tối. Phút yên bình bên bếp lửa đỏ, với miếng cá nồng vừa bắt được và chút bánh thơm phức hương men, Thầy và trò cùng chia sẻ với nhau sự ung dung tự tại, hệt như những ngày vừa gặp gỡ.
Ăn sáng vừa xong, mỗi người một việc. Chỉ còn lại Phêrô và Giêsu bên bếp lửa. Khoảng không gian thanh tịnh đến lạ kỳ. Phêrô hẳn là nghẹn ngào lắm. Vui vì được nhìn thấy Thầy, bình an vô sự; nhưng cũng buồn vì nhớ lại lầm lỗi của mình chỉ vài ngày trước đây thôi. Nhớ lại đêm cuối cùng trước khi Thầy chịu khổ nạn, Phêrô luôn mồm khẳng định yêu Thầy, yêu hơn hết mọi người, yêu đến nỗi sẵn sàng chết vì Thầy. Ấy vậy mà khi sự cố xảy đến, ông đã thề độc, chối bỏ mối tương quan gắn bó sâu sắc giữa mình với Thầy. Sợ mạng sống của mình bị đe dọa, ông đã gạt Giêsu ra khỏi cuộc đời mình. Cái nhìn của Giêsu đã thấu chạm đến tim ông, gợi nhớ lại trong ông những ân tình đã có. Bất chợt, bao cảm xúc ùa về, ông đã khóc như chưa từng được khóc, những ngọt nước mắt của hối lỗi, của ăn năn. Ông khóc cho thân phận kém cỏi của mình, khóc cho những lần kiêu ngạo của mình, khóc cho một cuộc tình vì bị ông chối từ vì sợ hãi.
Giờ đây, chỉ còn hai người – Thầy và ông – trên một bãi biển hồ vắng. Ông nghẹn ngào chẳng biết nói điều chi. Ông tự cảm thấy mình phải thu nhỏ người lại trước Thầy, không còn dám vỗ ngực xưng tên, không còn tự cho mình là người thánh đức nữa. Nhưng dẫu sao, ông vẫn thấy mình có lỗi với Giêsu, ông nợ Giêsu một lời xin lỗi. Là một người Thầy thấu cảm tâm tư của trò, Giêsu đã lên tiếng trước. Giêsu không muốn nghe từ ông lời xin lỗi, vì những giọt nước mắt kia đã nói lên tất cả rồi. Giêsu cũng không cần nghe từ ông lời cam kết sẽ không tái phạm, vì phận người yếu đuối, có ai biết được ngày sau. Giêsu chỉ muốn ông cho Giêsu biết, chỉ một điều duy nhất thôi: sau biết bao những biến cố ấy, ông có còn yêu mến Giêsu không? Ba lần hỏi của Giêsu là ba lần làm ông nghẹn ngào khó tả. Phêrô không còn dám nói là mình yêu Chúa hơn các anh em khác nữa. Phêrô thú thật với Thầy là Thầy biết con yêu mến Thầy; chỉ có điều tình yêu ấy còn mong manh quá, còn yếu đuối quá, nên đã bao lần khiến Thầy thất vọng và buồn phiền. Nhưng thật sự là có, có một tình yêu dành cho Thầy, có một sự lôi kéo trái tim hướng về Thầy. Tình yêu dành cho Thầy và sự yếu đuối đi song đôi trong trái tim của Phêrô, Phêrô nhận ra điều đó.
Các bạn trẻ thân mến,
Tâm trạng của Phêrô cũng là tâm trạng của mỗi người chúng ta mỗi khi chúng ta phạm tội. Ta thấy hổ thẹn với bản thân, vì dù đã nhiều lần ta đã nỗ lực không muốn phụ tình yêu Giêsu dành cho mình, nhưng sao ta vẫn chứng nào tật ấy, không sao chừa được. Sự yếu đuối và tội lỗi cứ đeo bám ta, khiến ta thấy mình như bất lực trong cuộc chiến chống lại chúng. Nhưng Thầy Giêsu của chúng ta là một người thầy rất tuyệt vời. Ngài không bao giờ hạch họe ta, không bao giờ khoét sâu trong trái tim ta những nỗi đau vốn đã sẵn có. Ngài biết ta yếu đuối, Ngài biết ta mỏng dòn, Ngài biết là sẽ có ngày ta bội phản Ngài, bội phản lại tình yêu Ngài dành cho chúng ta. Nhưng không bao giờ Ngài đối xử với ta một cách tồi tệ. Điều duy nhất là Ngài muốn ta trả lời khi đến với Ngài là “con có còn yêu mến Thầy không?” Chỉ một câu hỏi ấy thôi. Ngài muốn biết trong ta có còn tình yêu dành cho Ngài hay không, muốn biết trái tim ta có còn chỗ cho Ngài không. Chỉ cần ta trả lời có, bấy nhiêu cũng đủ rồi.
Vâng, tình yêu của Chúa vượt trên những tội lỗi của ta. Mỗi khi ta vì yếu đuối và vấp ngã, ta đừng tra tấn mình bằng những cảm xúc tiêu cực, hãy tự vấn mình: ta có còn yêu mến Giêsu không, ta có còn vì Ngài mà cố gắng sống tốt hơn không. Giêsu chỉ cần ta yêu mến Ngài. Mọi sự khác, Ngài chẳng quan tâm, vì Ngài biết, tình yêu của Ngài sẽ giúp ta chiến thắng.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
(Nguồn:dongten.net)

Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2016

LƯU DẤU MỘT LẦN VỀ VỚI BIÊN HÀ - BÌNH DƯƠNG

                                                

Chúng tôi trở về vùng Chiến khu D của những ngày tháng hôm nay với đầy  những nỗi niềm cùng  người dân xứ đạo vùng xa xôi như thế này .
Cái nắng gay gắt của mùa khô miền Nam đang trông chờ những hạt mưa đến với mảnh đất cằn cỗi, nhưng có lẽ không khô cằn với lòng những người bao dung mong làm sáng danh Ngài .
Rời thành phố Biên Hòa khi đang  ngân vang những hồi chuông và còn ngân nga những lời nguyện cầu trong thánh lễ ngày Chúa Nhật thứ II Phục sinh 3/4/2016 , có lẽ  đã  mang đến cho nhóm  những cựu Trưởng  ngày xưa tại miền Trung  những “liều thuốc ” để mong làm sống dậy phong trào HTDC nơi  xứ đạo xa xôi này .
Biên Hà là một xứ đạo nghèo – có lẽ nghèo còn hơn Tha la xóm đạo ngày ấy và hôm nay tại Tây Ninh, dân số ở đây hầu hết là những con chiên xứ đạo tận ngoài Thái Bình vào đây khẩn hoang lập ấp để sinh sống, thế mà ngày xưa họ cũng vẫn gầy dựng được một nhà nguyện nho nhỏ cùng với vị linh mục tiên khời là cha Thomas Nguyễn Bá Phùng và sau đó là Cha ĐaMinh Hà Chí Luyến… cho đến hôm nay là một vị linh mục trẻ là Cha Petrus Nguyễn Văn Tươi – một người con của dãi đất miền Trung.
Cùng với Cha Chánh xứ ,thầy Phó tế Trí  dòng Chúa Cứu Độ, Trưởng Thủy Tiên của xứ Biên Hà , những con người như các cựu Trưởng Tâm, Phiên,  Duyên , Châu, Cửu , Sửu, Ninh …. với nhiệt tâm  cháy bỏng mong muốn làm sống lại một phong trào giáo dục – Phong Trào HTDC -  một Phong trào Hoạt động Tông đồ Thiếu nhi  để cùng với các em  trở thành những con người sống có ích cho xã hội và giáo hội .
Đây  đúng là cách  sống trong một Mùa Phục sinh mới là đi Rao giảng và truyền bá Tin Mừng cho mọi người  với những hành động thiết thực và cụ thể nhất…
Hy vọng rằng những việc làm hôm nay Phong trào HTDC  sẽ bén rễ tại Biên Hà  và lan tỏa dần qua  các giáo xứ  khác .

NguyenNgocHai ghi 



                                     
                                               Nhà thờ Giáo xứ Biên hà và Cha xứ ngày xưa 

Lm. Phê rô Phan Văn Tươi, cha sở Biên Hà hiện nay 

Bên trong nhà thờ Biên Hà 

Họp các Đội trưởng 



Các đội sửa soạn thi trắc nghiệm giáo lý và tìm hiểu về PT Hùng Tâm Dũng Chí 

Trước khi trắc nghiệm các đội tự ôn thi riêng 

Các Trưởng giúp mỗi đội ôn riêng

Thầy Phó tế Minh Trí đang trao thưởng cho các em 

Dặn dò trước khi ra về 


Trao đổi 


Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2016

THƯƠNG NGƯỜI CÓ MƯỜI BỐN MỐI


Thương người có mười bốn mối
Thương xác bảy mối:
Thứ nhất: Cho kẻ đói ăn
Thứ hai: Cho kẻ khát uống
Thứ ba: Cho kẻ rách rưới ăn mặc
Thứ bốn: Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc
Thứ năm: Cho khách đỗ nhà
Thứ sáu: Chuộc kẻ làm tôi
Thứ bảy: Chôn xác kẻ chết
Thương linh hồn bảy mối:
Thứ nhất: Lấy lời lành mà khuyên người
Thứ hai: Mở dậy kẻ mê muội
Thứ ba: Yên ủi kẻ âu lo
Thứ bốn: Răn bảo kẻ có tội
Thứ năm: Tha kẻ dể ta
Thứ sáu: Nhịn kẻ mất lòng ta
Thứ bảy: Cầu cho kẻ sống và kẻ chết

THƯƠNG XÁC BẢY MỐI

                                                                                            LÀ BÁC ÁI VỚI THA NHÂN .

(Trích sách Tô-by-a, ch.1-4 và 12 1)

Ông Tô-bi bị Vua San-ma-na-da bắt làm phu tù, đi lưu đầy cùng với người Israen sang Ni-ni-vê. Ông là người công chính, giữ lề luật Chúa trọn vẹn, và rất có lòng kính sợ Thiên Chúa. Lòng đạo của ông không chỉ là đi dự lễ, đến nhà thờ, đọc kinh, nguyện ngắm Lời Chúa, mà còn diễn tả ra bằng các việc lành phúc đức. Ông không những làm gương sáng cho người lân cận, mà còn giúp đỡ họ tận tình : giúp tiền cho kẻ mồ côi, góa bụa và khách tha phương, bố thí cho kẻ nghèo đói, túng thiếu. Ông kể rằng :
- Người đói, tôi cho bánh ăn ; kẻ mình trần, tôi cho áo xống ; nếu thấy có thây chết nào bị quăng ngoài tường lũy Ni-ni-vê, tôi đem chôn cất.
Số là Vua mới tên Sa-ne-kê-ríp lên nối ngôi vua trước, ông rất ghét người thờ phượng Thiên Chúa, nên tìm giết họ như những tên đại gian, đại ác. Ông Tô-bi không sợ cơn bắt bớ, cứ thăm viếng kẻ tù ngục, yên ủi, giúp đỡ họ, và khi họ bị giết, ông lén lấy trộm xác đi chôn cất tử tế. Bị người Ni-ni-vê tố cáo lên Vua, ông bị kết án tử hình. May nhờ các bạn tâm phúc, ông trốn được, ẩn náu một nơi, còn gia tài ông bị tịch biên hết không còn gì. Ít lâu sau, vua độc ác kia bị ám sát, Tô-bi lại trở về Ni-ni-vê, đoàn tụ với vợ con và tiếp tục làm việc nghĩa.
Hôm ấy, ngày đại lễ Ngũ Tuần, người ta dọn một bữa tiệc thịnh soạn mừng ông. Thấy món ăn la liệt trên bàn, ông chạnh lòng nhớ đến những kẻ đói nghèo, và sai con rằng :
- Này con, hãy ra đường và gặp ai nghèo đói trong anh em ta, hãy dẫn về đây chia sẻ bữa ăn với cha. Này cha đợi con về đó !
Lúc đưa một người nghèo đói về, cậu con nói với cha :
- Cha ơi ! Có một người Israen bị sát hại, người ta quẳng xác ngoài bùng binh.
Vừa nghe, ông Tô-bi chỗi dậy, bỏ bữa ăn, đi lấy xác người đó, đem về giấu đi, đợi đến tối mịt đem chôn. Sau đó, ông mới tắm rửa và ngồi ăn uống. Nhưng bữa tiệc lúc ấy đã biến thành “ăn bánh trong tang sầu”. Đến tối mịt, ông đào huyệt chôn xác người ấy. Hàng xóm thấy thế xì xào :
- Hắn vẫn chưa sợ ! Đã bị tầm nã và kết án tử hình, phải bỏ trốn, thế mà bây giờ hắn vẫn lại chôn xác kẻ chết !
Họ không biết rằng ông Tô-bi kính sợ Thiên Chúa hơn sợ vua As-sy-ri, và lòng thương người lớn lao đến nỗi không làm ông chùn bước trước một hi sinh nào.
Đã vậy, ông có được Chúa thưởng gì đền đáp đâu ! Chỉ gặp toàn là tù ngục, kết án, chạy trốn, gia tài bị tịch thu... Và lần này, xui xẻo hơn nữa : tối đó, vì quá mệt, trời lại nóng bức, ông nằm ngủ bên mé tường, nên bị cứt chim từ mái nhà rớt xuống làm ông bị mù cả hai mắt. Chỉ mãi sau này, như ta đã biết, ông được cậu con là Tôbya lấy mật gan cá rịt cho ông, mắt ông mới sáng lại.

* Đó là Lời Chúa ! - Tạ ơn Chúa !

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

TẠI SAO LẠI GỌI LÀ "DÒNG BA"?

Tại Sao Lại Gọi Là "Dòng Ba"?

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.

Tại Việt Nam, có nhiều hội viên Dòng Ba Đaminh, Dòng Ba Phanxicô, Dòng Ba Carmêlô. Tại sao gọi là Dòng Ba?
Từ “Dòng Ba” giả thiết “Dòng Nhì” và “Dòng Nhất”. Cho đến thời gian gần đây, người ta cho rằng từ này xuất hiện thời Trung cổ, cách riêng với Thánh Phanxicô Assisi. Ngày nay, các sử gia cho rằng nó đã được sử dụng ít là ba thế kỷ trước Thánh Phanxicô. Thiết tưởng nên lưu ý về danh từ Ordo trong tiếng La-tinh (tương đương với Ordre tiếng Pháp, Order tiếng Anh). Ordo tự nó không phải là một Dòng Tu, nhưng chỉ có nghĩa là một đoàn ngũ, chẳng hạn như ngày nay bên Pháp, từ Ordre vẫn còn dùng cho đoàn ngũ các y sĩ, luật sư, ký giả. Trong Giáo hội thời cổ, chúng ta thấy bên cạnh đoàn ngũ các giám mục, linh mục, trợ tá (ordo episcoporum, presbyterorum, diaconorum), còn có đoàn ngũ các trinh nữ (ordo virginum), đoàn ngũ các góa phụ (ordo viduarum). Sang thời Trung cổ, từ thế kỷ X, người ta thấy vài tác phẩm nói đến ba hàng ngũ (đẳng trật) trong Giáo hội, đó là: hàng giáo sĩ, hàng đan sĩ, và hàng giáo dân. Các giáo dân được xếp vào hàng ngũ thứ ba, tertius ordo, sau các giáo sĩ và các tu sĩ. Với Thánh Phanxicô Assisi, người ta sử dụng một lối phân hạng khác: dòng nhất là các nam tu sĩ, dòng nhì là các nữ tu Clara, Dòng Ba là các giáo dân sống ngoài đời. Từ đó, Dòng Ba được hiểu là các giáo dân sống ngoài đời, nhưng muốn nên trọn lành qua việc khấn hứa giữ một bản tu luật.
Như vậy là Thánh Phanxicô là người đầu tiên lập ra Dòng Ba phải không?
Trước đây (nghĩa là cho đến giữa thế kỷ XX), câu trả lời là: đúng thế! Nhưng kể từ thập niên 60 của thế kỷ vừa rồi, những cuộc nghiên cứu lịch sử Dòng Tu thời Trung cổ đã lật ngược câu trả lời. Vì thế ngày nay, các sách lịch sử về các Dòng Ba phải được viết lại. Thực ra, ngay từ thế kỷ VIII, đã có nhiều giáo dân muốn chia sẻ nếp sống tu trì của các đan sĩ Biển đức dưới nhiều dạng thức (tựa như các bõ ngãi hay các cư sĩ ở Việt Nam). Họ xin đến trọ tại các đan viện, tình nguyện làm công không lấy lương, và bù lại họ muốn được tham gia vào sinh hoạt phụng vụ của nhà dòng. Đôi khi họ cũng mặc áo dòng như các đan sĩ, nhưng họ không tuyên khấn. Đó là hình thức oblati, donati, conversi. Nhưng sang đến thế kỷ XII-XIII, chúng ta lại chứng kiến một hiện tượng khác, đó là: nhiều phong trào gíao dân nổi lên, yêu cầu cải cách Giáo hội, bằng việc trở về với nếp sống khó nghèo của Phúc âm.
Tuy rằng một số phong trào đó đã ly khai khỏi Giáo hội, nhưng đa số không dừng lại ở chỗ kêu gào cải cách bằng miệng nhưng còn thực hành lý tưởng bằng đời sống bản thân. Họ mang danh là đoàn ngũ các hối nhân (Ordo penitentium). Đến khi Dòng Thánh Đaminh và Dòng Thánh Phanxicô xuất hiện thì họ đến nhờ các tu sĩ hướng dẫn. Dĩ nhiên là họ cũng chia sẻ lý tưởng Phúc âm mà hai thánh tổ phụ đề ra, và thậm chí còn xin mặc tu phục của hai dòng đó. Từ đó, hàng ngũ hối nhân (Ordo penitentium) chia thành hai ngành, ngành xám (màu áo Dòng Thánh Phanxicô) và ngành đen (màu áo choàng của Dòng Thánh Đaminh). Lần lượt các bản luật cũng được soạn ra: luật ngành xám được Toà thánh châu phê từ năm 1289; còn luật ngành đen thì được cha Munio de Zamora soạn từ năm 1285, nhưng mãi tới năm 1405 mới được Toà thánh châu phê. Lần lượt Toà thánh cũng châu phê bản luật của các Dòng khác soạn cho các giáo dân muốn chia sẻ tinh thần của mình, chẳng hạn như: dòng Âutinh (1399 cho nữ giới và 1470 cho nam giới), Dòng Tôi tớ Đức Mẹ (1424), dòng Carmêlô (năm 1476), vv. Nên biết là Dòng Thánh Phanxicô đã sớm gọi hàng ngũ hối nhân của mình là “Dòng Ba Phanxicô” (như nhận thấy qua một văn kiện năm 1292), chứ các dòng khác thì mãi mấy thế kỷ sau mới du nhập từ ngữ Dòng Ba.
Các hội viên Dòng Ba có mặc áo dòng như các tu sĩ không?
Như vừa nói trên đây, từ thế kỷ XIII, các hối nhân đã phân thành hai nhánh - xám và đen - dựa theo màu áo choàng. Nói chung, vào lúc đầu các hội viên Dòng Ba cũng xin được mặc áo dòng như các tu sĩ. Nhưng dần dần, vì sự tiến triển y phục bên châu Âu cũng như vì công tác lao động, cho nên các hội viên Dòng Ba không mặc toàn bộ áo dòng như các tu sĩ (trừ khi tham dự các buổi rước kiệu và lúc tẩm liệm trong quan tài), nhưng chỉ mặc một áo cộc, làm biểu hiệu.
Các hội viên Dòng Ba có phải tuân giữ những nghĩa vụ nào không?
Dĩ nhiên các tín hữu xin gia nhập Dòng Ba không phải để lãnh áo dòng làm kiểng. Như đã nói trên đây, nguồn gốc của các Dòng Ba là phong trào các hối nhân: họ chủ trương nếp sống khắc khổ, trở về với những yêu sách của Tin mừng. Trên thực tế, đã có nhiều sự thay đổi về kỷ luật các hội viên Dòng Ba từ thế kỷ XIII cho đến nay. Vào lúc đầu, các hội viên cũng tuyên khấn tuân giữ vài nghĩa vụ mà bản Kỷ luật đặt ra, chẳng hạn như việc cầu nguyện (nguyện kinh nhật khóa), thực hành khổ chế (trong đó có việc kiêng thịt suốt đời, khước từ tham dự các buổi lễ hội giải trí dân gian), và đôi khi lời hứa giữ khiết tịnh (ai chưa lập gia đình thì phải giữ độc thân, còn người đã có gia đình thì không được tái hôn).
Như vậy, các hội viên cũng phải tuyên khấn như các tu sĩ hay sao?
Bản luật của Dòng Ba Đaminh soạn năm 1285 đã dự trù một thời kỳ tập luyện là 1 năm, và sau đó hội viên tuyên khấn. Tuy nhiên, bản chất pháp lý của lời khấn Dòng Ba không được coi như tương đương với lời khấn của các tu sĩ. Điều này càng rõ rệt hơn khi mà trong số các hội viên Dòng Ba, một vài người đã họp nhau thành cộng đoàn, tuân giữ một bản luật khác với bản luật dành cho các giáo dân. Người ta gọi họ là “Dòng Ba tu trì” (tertiarii regulares), đối lại với “Dòng Ba đời” (tertiarii seculares). Các hội viên Dòng Ba tu trì - đa số là nữ giới - sống thành cộng đoàn, giữ ba lời khấn dòng; họ chỉ khác với các đan nữ dòng nhì ở chỗ là họ không ở trong nội vi, nhưng tham gia các công tác tông đồ và bác ái. Đó là nguồn gốc của các dòng nữ tu hoạt động tông đồ vào thời nay.
Từ khi các cộng đoàn Dòng Ba tu trì lớn mạnh, cách riêng từ thế kỷ XV, thì vai trò của các hội viên Dòng Ba “đời” bị giảm. Nhiệt tình của phong trào “hối nhân” giảm sút. Vì thế, các nghĩa vụ của họ cũng được giảm nhẹ. Tính cách pháp lý của lời khấn hứa của họ không đáng kể. Mãi đến cuối thế kỷ XIX, các Dòng Ba đời mới được phục hồi, nhưng thường được đồng hóa với các hội đoàn đạo đức cầu nguyện, nhưng không tác dụng vào đời sống Giáo hội cách mạnh mẽ như hồi thế kỷ XIII-XIV nữa. Dĩ nhiên, đó là nói các đường hướng chung, chứ khi đi vào lịch sử của mỗi Dòng Ba thì có nhiều đặc trưng khác nữa.
Hiện nay có bao nhiêu thứ Dòng Ba?
Sự phân biệt giữa Dòng Ba “tu trì” với Dòng Ba “đời” coi như không còn nữa. Các Dòng Ba tu trì trở thành các Dòng Tu như bao nhiêu Dòng Tu khác, chẳng hạn như các Dòng nữ tu Đaminh, Phanxicô, Cát minh, vv. Còn các Dòng Ba “đời” thì dần dần cũng đổi tên: thay vì gọi Dòng Ba Đaminh đời, thì người ta gọi là “huynh đoàn giáo dân Đaminh”; một cách tương tự như vậy, “Dòng Ba Phanxicô đời” được đổi thành “Dòng Thánh Phanxicô tại thế” (bỏ tính từ “thứ ba” để khỏi gây mặc cảm).
Dưới một khía cạnh khác, có thể nói được là có nhiều thứ Dòng Ba dựa theo các linh đạo khác nhau. Về điểm này ta thấy có sự khác biệt khá lớn giữa bộ giáo luật 1917 và bộ giáo luật 1983. Trong bộ giáo luật 1917, chỉ có các Dòng sau đây được phép nhận hội viên Dòng Ba: Phanxicô, Đaminh, Augustin, Carmêlô, Tôi tớ Đức Mẹ, Chúa Ba ngôi, Prémontrés, Minimi, Đức bà chuộc kẻ làm tôi, Biển đức. Như vậy, con số khá hạn hẹp, và chỉ giới hạn vào vài Dòng cổ điển. Ngược lại, Bộ giáo luật hiện hành không còn đặt giới hạn như vậy. Điều 303 của bộ giáo luật 1983 cho phép tất cả các Dòng Tu (dù cổ hay tân, dù là nam hay nữ) cũng đều có quyền kết nạp các giáo dân muốn tham gia vào linh đạo của mình. Đó là nói trên nguyên tắc. Cần phải chờ một thời gian nữa thì mới biết được điều luật này được áp dụng như thế nào.
Mặt khác, cũng nên biết rằng nhiều Dòng Tu, điển hình là Dòng Tên, tuy vốn không có Dòng Ba, nhưng vẫn điều khiển nhiều phong trào đạo đức gíao dân (thí dụ như trước đây gọi là Hiệp hội thánh mẫu, Hội tông đồ cầu nguyện, Phong trào Linh thao, vv). Sau cùng, để kết thúc bài hôm nay, cần thêm một nhận xét khác không kém phần quan trọng. Trong quá khứ, các phần tử Dòng Ba tìm đến các Dòng Tu để tìm con đường nên thánh, và con đường nên thánh được diễn tả qua việc hãm mình cầu nguyện.
Từ sau công đồng Vaticanô II, với cái nhìn mới về sứ mạng của các tín hữu giáo dân, đường nên thánh của các giáo dân không thể chỉ giới hạn vào việc hãm mình đền tội, đọc kinh cầu nguyện mà thôi, nhưng còn phải tìm cách đem men Phúc âm vào các môi trường sinh sống: từ gia đình, nghề nghiệp, cho tới các cơ chế kinh tế, chính trị. Hậu nhiên, Giáo hội mong đợi nơi các phần tử Dòng Ba không phải chỉ là những chuyên viên đọc kinh cầu nguyện, nhưng còn là những cộng sự viên của hàng giáo phẩm trong các sinh hoạt mục vụ giáo xứ (chẳng hạn: dạy giáo lý, thăm viếng người bệnh tật), các công tác bác ái xã hội, cũng như là những chứng tá tin mừng trong các môi trường giáo dục, lao động, chính trị. Tại Italia, người ta đang tiến hành thủ tục phong thánh cho ông Giorgio La Pira, một hội viên Dòng Ba Đaminh, nguyên thị trưởng thành phố Firenze (1904-1977). Giữa thời chiến tranh nóng bỏng tại Việt Nam, ông đã đưa ra chủ trương đàm phán. Nếu tôi không lầm, thì ông là chính khách đầu tiên của khối Tây phương đi gặp chủ tịch Hồ chí Minh tại Hà nội, vào tháng 8 năm 1965, để tìm cách bắt nhịp cầu.

(Nguồn : catechesis.net)