Thứ Sáu, 20 tháng 1, 2017

NĂM LỜI KHUYÊN ĐỂ TĨNH TÂM TẠI GIA!

Bạn dành ra mỗi tháng một ngày (hoặc vài giờ!) để nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình
Praying-father-child.jpg 

«Tôi nói với tâm hồn mình, hãy bình yên»– T.S. Eliot

Khi bạn đọc những hàng này thì đây là ngày tĩnh tâm thinh lặng thứ tám hàng năm của tôi.

Mỗi lần tôi nói với bạn bè, mỗi năm, tôi được ưu đãi có tám ngày thinh lặng với Chúa Giêsu, họ thường nhìn tôi với vẻ ganh tị. Đặc biệt các bà mẹ có đông con. Tôi rất thông cảm. Nhưng các bạn đừng lý tưởng hóa đời sống của tôi, các bạn biết là mỗi ơn gọi đều có cái được cái mất của nó.

Dù sao đa số các người nhìn tôi như thế, họ không nghĩ các ngày tĩnh tâm này cũng ở trong tầm tay của họ. Thật sự là vậy. Bạn chỉ cần dành ra mỗi tháng một ngày (hoặc chỉ vài giờ!) để nuôi dưỡng đời sống tâm linh của mình. Chắc chắn các bạn sẽ nghĩ: «Một ngày mà thấm gì so với tám ngày?». Nhưng Chúa có nhìn đến những chuyện này đâu.

Chúa đâu có giới hạn ơn của Chúa với lý do bạn bận bịu thay tã lót cho con mà không có thì giờ thinh lặng một mình với Chúa đâu. Thánh I-Nhã, người viết ra Bài tập Linh thao cho rất nhiều người đi tĩnh tâm đã nói, một giờ cầu nguyện ở trong hầm Manresa đã dạy cho ngài biết về nhiều huyền nhiệm của Chúa hơn bất cứ bài học nào. Một giờ!

Như thế thật đáng công để bạn dành thì giờ làm một cuộc «tĩnh tâm nhỏ» tháng này. Dù chỉ là một buổi sáng. Nếu bạn có thì giờ xem phim trên Netflix nhiều lần mỗi tuần, nếu bạn tính tổng số thì giờ bấm điện thoại, thì khi đến giờ chết, có lẽ số giờ này lên đến hàng năm, vậy thì bạn có thì giờ để làm loại tĩnh tâm này!

Đây là năm lời khuyên cho việc đi tĩnh tâm này:

1. Tắt điện thoại

Đúng. Trừ ra bạn là bác sĩ giải phẫu trực hay thật sự có một việc khẩn cấp, thì chúng ta có thể tắt điện thoại ít nhất nửa ngày. Bạn để điện thoại ngoài xe hay ở nhà. Cũng trong tinh thần này, bạn đừng dùng e-mail, máy tính hay máy truyền thanh truyền hình. Cố gắng tối đa giữ thinh lặng với Chúa. Chính trong thinh lặng mà Ngài nói với chúng ta.

2. Bắt đầu ngày bằng cách đi lễ

Một bước đầu tốt đẹp cho bất cứ một cuộc tĩnh tâm nào. Nếu được, bạn nên đi sớm để đọc Phúc Âm của ngày hôm đó và cầu nguyện trước thánh lễ. Vì bạn đã dành ra một buổi sáng, cố gắng dự thánh lễ một cách chiêm niệm. Đừng nghĩ đến tương lai và những chuyện mình phải làm. Hãy xin thiên thần hộ thủ của mình giúp mình tập trung. Khi cha dâng Mình Thánh, bạn xin Chúa Giêsu ban ơn để có một ngày tĩnh tâm tốt đẹp.

3. Chầu Mình Thánh Chúa

Nếu bạn đi lễ có chầu Mình Thánh Chúa ở nhà nguyện, đó là nơi lý tưởng để bạn đến cầu nguyện sau thánh lễ. Có thể bạn ít có dịp cầu nguyện như vậy, vậy đừng để mất thì giờ. Bạn xin Chúa Giêsu thấm nhập vào tâm hồn mình. Bạn xin Ngài ban ơn và sự sáng suốt cần thiết để bạn cảm thấy mình được tái sinh, trở lại và biến đổi sau ngày tĩnh tâm này.

4. Đi dạo với tràng chuỗi của mình

Tôi rất thích đi dạo với tràng chuỗi. Sau khi cầu nguyện buổi sáng, bạn đi dạo nơi yên tỉnh, vừa đi vừa lần hạt. Ngắm cảnh đẹp chung quanh mình và cám ơn Chúa; để thiên nhiên nói chuyện với bạn. Nếu bạn thích chụp hình, bạn dừng lại để chụp cảnh đẹp, hoặc bạn viết một bài thơ. Rồi bạn tiếp tục cầu nguyện với tràng chuỗi.

5. Thử cầu nguyện qua ba giai đoạn

Nếu bạn tĩnh tâm nửa ngày, bạn hãy làm trọn vẹn. Bạn dành trọn thì giờ để cầu nguyện. Nó không khó khăn như bạn nghĩ đâu. Bạn có thể chia buổi sáng làm ba giai đoạn cầu nguyện. Giữa các giai đoạn này, bạn có thể đọc các bài đọc thiêng liêng hoặc chỉ cần nhìn ra cửa sổ. Nếu bạn không đi lễ được, bạn tìm một nơi yên tỉnh và thanh vắng. Khi tôi còn nhỏ, mẹ tôi có một góc cầu nguyện nhỏ trong nhà và khi bà cầu nguyện, tôi biết, tôi không được làm phiền bà.

Cũng có nhiều chuyện khác để làm trong nửa ngày tĩnh tâm này, đây chỉ là những đề nghị nhỏ. Bạn đừng suy nghĩ gì nhiều, cứ việc bắt tay vào làm! Điều quan trọng là thì giờ thinh lặng với Chúa.

Nếu bạn dám dành ra một ít thì giờ, bạn sẽ không hối tiếc. Bạn lên lịch và dành một ngày nhé!

Chúc bạn thành công!

«Ngôn ngữ Chúa thích là tình yêu thinh lặng»– Thánh Gioan Thánh Giá

(Marta An Nguyễn chuyển dịch, phanxico.vn 31.08.2016/aleteia.org, Xơ Theresa Aletheia Noble, 2016-08-16) 

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2017

LÀM SAO ĐỂ TĨNH TÂM TỐT ?



Lm. Phêrô Phạm Hữu Lai, SJ.
Nhập nguyện
Lạy Chúa Thánh Thần, xin dạy cho con hiểu thế nào là một cuộc tĩnh tâm tốt, chỉ cho con biết phải làm thế nào để cuộc tĩnh tâm con bắt đầu theo đem lại kết quả như Ngài muốn.
I. Suy chiêm
1. Cuộc tĩnh tâm chúng ta sắp theo phải thế nào mới được coi là tốt?
a. Thế nào là một cuộc tĩnh tâm tốt?
Một cuộc tĩnh tâm tốt không nhất thiết phải là một cuộc tĩnh tâm sốt sắng. Một cuộc tĩnh tâm không sốt sắng nhưng gây được những biến đổi căn bản và lâu dài thì vẫn phải coi là một cuộc tĩnh tâm tốt.
Một khóa tĩnh tâm khô khan cũng không nhất thiết là một cuộc tĩnh tâm không tốt. Khô khan mà biến đổi căn bản và lâu dài thì vẫn là một cuộc tĩnh tâm tốt.
Tóm lại, một cuộc tĩnh tâm tốt là một cuộc tĩnh tâm gây được sự biến đổi căn bản và lâu dài.
b. Sự biến đổi phải thế nào mới là căn bản?
Căn bản là gốc rễ từ đó mọc lên cây, lên cành hoa và lá. Cái gì biến đổi thì gây ra những biến đổi khác thì đó là biến đổi căn bản. Khi lối nhìn của ta về Chúa, về người, về vũ trụ và về bản thân mà thay đổi thì lối sống của ta đối với Chúa, với Người, với vũ trụ và với bản thân cũng thay đổi. Như vậy biến đổi lối nhìn là căn bản. Lối nhìn của ta về Chúa mà thay đổi thì lối nhìn của ta về Người, Vật và Mình cũng thay đổi thì lối nhìn về Chúa còn căn bản hơn nữa.
Như vậy, biến đổi lối nhìn là căn bản. Biến đổi lối nhìn về Chúa còn căn bản hơn.
c. Cuộc tĩnh tâm đạt được mục đích đã là một cuộc tĩnh tâm tốt hay chưa?
Một cuộc tĩnh tâm đạt được mục đích bao giờ cũng là một cuộc tĩnh tâm gây sự biến đổi. Đích mà cuộc tĩnh tâm đề ra bao giờ cũng mang tính chất căn bản. Chính vì thế, một cuộc tĩnh tâm đạt được đích tất nhiên là một cuộc tĩnh tâm tốt.
d. Cuộc tĩnh tâm chúng ta sắp bước vào phải như thế nào mới là một cuộc tĩnh tâm tốt?
1) Ơn xin của cuộc tĩnh tâm này là gì? (CoB1:1)
2) Căn cứ vào ơn xin, cuộc tĩnh tâm này phải đạt được điều gì mới được coi là một cuộc tĩnh tâm tốt?
3) Nếu cuộc tĩnh tâm có gây được sự biến đổi và lâu dài nhưng khác với ơn xin của cuộc tĩnh tâm, thì đó đã là một cuộc tĩnh tâm tốt hay chưa?
I. Làm sao để cuộc tĩnh tâm này tốt?
a. Căn cứ vào kinh nghiệm của bản thân
1) Hãy nhớ lại những khóa tĩnh tâm không gây được sự biến đổi căn bản và lâu dài hoặc không đạt được ơn xin. Phân tích những kinh nghiệm ấy để xem bạn đã tĩnh tâm thế nào mà không đạt được ơn xin hoặc không gây được sức biến đổi.
Vậy phải tránh điều gì trong khóa tĩnh tâm này?
2) Hãy nhớ lại những khóa tĩnh tâm đã đạt được ơn xin hoặc đã gây được sự biến đổi căn bản và lâu dài. Phân tích những kinh nghiệm quý báu ấy để biết phải tĩnh tâm khóa này thế nào mới đạt được sự biến đổi căn bản và lâu dài hoặc đạt được ơn xin của khóa.
Vậy, phải tĩnh tâm khóa này thế nào để đạt được ơn xin hoặc gây được sự biến đổi căn bản và lâu dài?
b. Căn cứ vào kinh nghiệm của nhiều người khác
Theo kinh nghiệm của nhiều người thì thành công của khóa tĩnh tâm lệ thuộc vào người đó tin tưởng vào sự hướng dẫn của Thần Khí là chính, sau đó là những điều kiện sau: mức độ của lòng khao khát, tâm hư không, thấu hiểu mục đích và ơn xin và cuối cùng là việc nắm vững và sử dụng phương pháp cầu nguyện.
1) Tin tưởng phó thác vào sự dẫn dắt của Thần Khí
– Bạn có kinh nghiệm về tầm quan trọng của Thần Khí trong cầu nguyện hay không?
– Thánh Phao-lô cho chúng ta biết gì về vai trò của Thần Khí trong việc cầu nguyện cho phải? (Rm 8,26-27)
2) Tĩnh tâm với lòng khao khát mãnh liệt được ơn xin.
– Trong khóa tĩnh tâm này bạn khao khát được điều gì?
Bắt đầu vào tĩnh tâm hay Linh Thao, cần biết ngay mục đích của khóa và ao ước của bản thân mình. Tiếp đến thống nhất mục đích và ao ước để làm thành ơn xin. Nên tóm tắt ơn xin thành một kinh hay một châm ngôn cho đúng, đủ, vắn, rõ và dễ nhớ.
– Phải khao khát đến mức nào?
– Tại sao phải có lòng khao khát như vậy? Bạn có kinh nghiệm về tầm quan trọng của lòng khao khát đối với kết quả của việc tĩnh tâm hay chưa? Kinh nghiệm của Ni-cô-đê-mô (Ga 3,1-21) và người phụ nữ Sa-ma-ri cho ta biết điều gì? (Ga 4,6-30).
3) Tĩnh tâm với tâm hư không
Tâm hư không là tâm không chất chứa những cản trở Lời Chúa lọt vào.
– Tĩnh tâm mà tâm không hư không nhưng đầy ắp thì kết quả sẽ như thế nào? Tại sao?
– Bạn có kinh nghiệm gì về tình trạng này hay không?
– Bạn có tìm được một số thí dụ trong Tân Ước để minh họa mức độ cần thiết phải có tâm hư không? (Ga 3,1-13; Mc 1,15-22; việc các môn đệ khó nhận ra Đức Giê-su là Đức Ki-tô chịu đóng đinh; Ga 6).
– Nơi bạn, có điều gì cản trở bạn tiếp nhận các điều Chúa dạy không? Nếu có bạn tĩnh tâm làm gì bây giờ?
4) Hiểu rõ mục đích và ơn xin của khóa
– Mục đích và ơn xin của khóa là gì? (CoB1:1)
– Nếu không hiểu rõ và ao ước mãnh liệt mục đích và ơn xin thì khóa tĩnh tâm sẽ như thế nào?
5) Nắm vững phương pháp cầu nguyện
– Bạn thường cầu nguyện với phương pháp nào? Có sức biến đổi và lâu dài không? Nếu đã có một phương pháp tốt rồi, bạn tính sử dụng phương pháp ấy để cầu xin được mục đích và ơn xin của khóa thế nào? Nếu chưa được một phương pháp cầu nguyện hữu hiệu như lòng mong ước thì bạn tính làm thế nào?
– Bạn đã nắm vững chu kỳ cầu nguyện hay chưa? Bạn sẽ vận dụng chu kỳ ấy thế nào phối hợp với phương pháp cầu nguyện của bạn để có thể xin đạt được mục đích và ơn xin?
6) Tận dụng các phương tiện của khóa tĩnh tâm.
– Bạn sẽ tận dụng các phương tiện của khóa tĩnh tâm cho bạn như thế nào?
– Bạn sẽ dùng các giờ chia sẻ khác nhau như thế nào cho ích lợi?
– Bạn sẽ xây dựng bầu khí tĩnh tâm và giữ thinh lặng thế nào để ích lợi cho bạn và mọi người.
– Bạn nhờ người hướng dẫn như thế nào là tốt nhất cho bạn?
Kết nguyện
Sau khi đã suy nghĩ cẩn thận những điều trên đây, bạn phải tự mình vạch rõ cách tĩnh tâm thế nào cho tốt. Ghi lại kết quả một cách chính xác, đầy đủ vắn gọn và rõ ràng. Trình lên Chúa để xin Chúa xác chuẩn và giúp đỡ.

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2017

CẤM PHÒNG

"Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng" (Mt. 11,28).
Chúa Giêsu đã vào hoang địa 40 đêm ngày để ăn chay, cầu nguyện và kết hợp với Chúa Cha (Lc. 4,1). Chúa vào hoang địa tịnh tâm để chuẩn bị sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Noi gương Chúa Giêsu, hằng năm Giáo Hội cho chúng ta 40 ngày chay thánh để tìm về chính nguồn cuộc sống. Thời gian dài đủ để mỗi người có cơ hội cầu nguyện, ăn chay, làm việc bác ái và ăn năn hối cải. Cấm phòng là một thời gian tĩnh lặng trở về với Chúa và với lòng mình.

Cấm phòng còn gọi là tĩnh tâm. Tĩnh tâm cần có bầu khí thanh thoát và yên tịnh. Tĩnh tâm mà xô bồ, xôi động lại làm chúng ta trở thành động tâm. Tôi còn nhớ ngay khi còn ở Tiểu Chủng Viện, mỗi năm có ba ngày cấm phòng cho các chú. Những ngày cấm phòng không phải đi học, nhưng được nghe rất nhiều bài giảng, bài huấn đức và phải giữ im lặng. Im lặng ngay cả trong giờ ăn. Bầu khí xem ra lắng đọng và thánh thiện. Thật ra khi còn trẻ, tôi cũng không hiểu và ý thức nhiều về mục đích của những buổi cấm phòng. Suốt trong những ngày phòng, lúc nào cũng bút mực ghi ghi, chép chép các lời vàng ngọc của cha giảng phòng vào cuốn sổ tay, sau đó cất đi và chẳng mấy khi ngó lại.

Các cuộc cấm phòng nói chung bao gồm những buổi nghe giảng, thuyết trình, chia sẻ và cầu nguyện. Các vị giảng thuyết phải dọn bài để có một số kiến thức suy niệm, hướng dẫn sống đạo và áp dụng hành đạo. Nội dung của các bài giảng và thuyết trình thì rất dồi dào ý tưởng thâm sâu và có ý nghĩa. Những tư tưởng đạo đức này sẽ giúp ích cho mọi người tự phản ảnh và tự kiểm đời mình. Nhưng rồi việc tĩnh tâm và cấm phòng dần dần đi vào cách thức sinh hoạt, hội họp và học hỏi rộng rãi hơn, nên mọi người ít có cơ hội tĩnh lặng bên Chúa thật sự. Tĩnh tâm không phải chỉ đi tìm những sự hiểu biết, cảm xúc hay cảm giác nhất thời mà là một cuộc đổi đời trở về. Là một sự đánh động tâm linh thật sự để trở về cùng Chúa là nguồn tình yêu.

Tôi đã được tham dự rất nhiều buổi cấm phòng. Có những cuộc cấm phòng hằng năm, hằng tháng và những cuộc cấm phòng đặc biệt vào các dịp thụ phong chịu chức. Vào phòng rồi ra phòng, mỗi lần cấm phòng là mỗi lần hâm nóng lại đời sống tâm linh. Gợi nhớ lại những hồng ân Chúa đã trao ban trong cuộc sống và xét mình qua những hoa trái đã sinh lợi, rồi làm một quyết tâm nào đó cho tương lai. Có nhiều cuộc cấm phòng đã qua đi mà chẳng thu lợi được chi. Những giờ cầu nguyện và tham dự phụng vụ có lóe sáng nhưng rồi vụt tắt. Vì có thể chúng ta đã không có một quyết tâm cụ thể nào. Đôi khi chỉ làm một quyết định mơ hồ, ôm đồm nhiều qúa và cũng có thể vì không muốn thay đổi. Sau những ngày phòng, chúng ta trở lại cuộc sống đời thường và mọi sự đâu lại vào đó. Tính nào vẫn tật đó.

Nếu đi cấm phòng chỉ để nghe giảng hay chỉ để học hỏi thêm kiến thức, thì sự cấm phòng mất dần ý nghĩa thiết yếu. Việc quan trọng nhất là đi vào nội tâm và kết hợp với Chúa. Cấm phòng là một cuộc đi nghỉ ở lại bên Chúa. Cần có nhiều phút giây tĩnh lặng và cầu nguyện. Cấm phòng không phải lấp đầy thời gian bằng công việc này hay sinh hoạt kia. Cấm phòng không phải chỉ là bận rộn trong thụ động, mà là phải vận động tâm trí trở về với Chúa và với mình. Đi tận sâu vào tâm can mình để lắng nghe cõi lòng.

Trong cuộc sống, đi đâu chúng ta cũng có thể đi. Đôi khi chúng ta cũng chẳng quản ngại đường xá xa xôi, tiền bạc, công sức và thời gian. Chúng ta cảm thấy vui và phấn khởi khi đi được nhiều nơi và biết thêm nhiều thứ. Chính tôi cũng cảm thấy hình như hướng ngoại thì dễ hơn là hướng nội. Đi vào nội tâm của mình để xét mình thì rất ngại và khó khăn. Có rất nhiều người khi xét mình xưng tội, họ cũng không thể nhớ là đã xưng tội được bao lâu rồi. Nhìn lại mình nó sâu thẳm làm sao. Thật là ngại ngùng khi phải tự vấn lương tâm. Ngồi xét tội và lỗi lầm của người khác thì dễ dàng và dễ chịu hơn nhiều. Tội của mình thì chất đống, mắt bị che mờ và lương tâm cùn nhụt. Chúng ta chẳng muốn nhìn đến cái xấu xa của mình nữa. Chúng ta cứ lấp lém đi cho xong. Đã bao lần chúng ta đi cấm phòng nhưng cuộc sống của chúng ta vẫn thế, chẳng thay đổi được chi!

Điều quan trọng nhất trong việc tĩnh tâm là nhìn biết về chính mình. Biết mình đang sống ở nấc thang nào, để từ đó có thể đi lên hay đi xuống. Khi đời sống đạo đi xuống như bê tha, lười biếng, tội lỗi và thiếu sót bổn phận làm con Chúa. Chúng ta phải cố gắng sửa mình, tập tành nhân đức và hướng tới sự chân thiện. Khi sự hành đạo đang đi lên theo các khuynh hướng phô trương, vụ hình thức, khoe khoang và tự cao tự đại, khi đó chúng ta lại phải bước xuống trong khiêm hạ. Chúng ta nên nhìn vào tận thâm sâu của cách sống đạo và hành đạo. Những sinh hoạt bề ngoài xem ra thành công nhưng đời sống nội tâm đôi khi hời hợt. Chúng ta không nên đánh giá cuộc sống đạo chỉ dựa vào những mặt nổi bên ngoài.

Như xưa, sau một ngày các tông đồ bận rộn, vất vả và mỏi mệt, Chúa khuyên các ông hãy vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi. Người bảo các ông: "Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút." (Mc.6,31). Ai cũng cần có sự nghỉ ngơi dưỡng sức và thư dãn tâm hồn. Trong Giáo Hội có nhiều phương thế giúp cho các tín hữu tìm về nguồn chân thiện. Có nhiều Giáo Xứ mở các Tuần Đại Phúc, Linh Thao và các cuộc cấm phòng kéo dài cả tuần. Nhiều người có cơ hội đi nghe giảng, có giờ cầu nguyện và có giờ suy gẫm và xét mình. Tĩnh tâm luôn là nhu cầu cần thiết cho tâm linh. Cấm phòng có nhiều hình thức. Có những cuộc cấm phòng dài một tháng liền. Có những cuộc cấm phòng một tuần hoặc ba ngày. Cúng có những buổi cấm phòng hay tĩnh tâm ngắn hạn, một buổi hay một vài giờ. Tùy theo hoàn cảnh môi trường và sinh hoạt của mỗi cộng đoàn.

Những sinh hoạt hội họp rất cần thiết về nhiều mặt trong cuộc sống. Hội họp để chia sẻ, góp ý và xây dựng cho nhau. Chúng ta không thể sống đơn côi hay độc hành trong đời sống đạo. Trong đời sống của Đạo Công Giáo, chúng ta rất may mắn có các Hội Đoàn và các Nhóm sinh hoạt. Các Hội Đoàn sống đức tin qua việc phục vụ và làm việc bác ái. Cùng sinh hoạt chung để nâng đỡ và khuyến khích nhau sống đạo tốt và nên trọn lành hơn. Chúng ta hãy quan sát hình ảnh một bếp lò cháy nóng bởi những cục than đỏ hỏn, nhắc nhở rằng mọi người hãy liên kết với nhau và cậy dựa bên nhau làm cho sức nóng tình yêu tỏa lan và sưởi ấm tâm hồn.

Tĩnh tâm hay cấm phòng đúng nghĩa là phải tịnh tâm và đi vào nơi thanh vắng để được kết hợp với Chúa. Chúa là nguồn sống và là niềm an vui cho tâm hồn. Chỉ khi nào chúng ta được an nghỉ trong Chúa, chúng ta mới hưởng nếm niềm vui đích thực. Thánh Augustinô đã miệt mài đi tìm kiếm Chúa khắp nơi qua sách vở, qua các học thuyết và qua kiến thức con người xã hội. Augustinô không thể thỏa mãn được cơn khát khao của tâm hồn. Cuối cùng ngài đã tìm gặp Chúa ngay trong tâm hồn mình. Ngài nói rằng Chúa ở trong con mà con lại đi ra ngoài tìm Chúa. Cho tới khi con tìm gặp được Chúa thì ra Chúa vẫn hiện diện đó trong trái tim con rồi. Thánh Augustinô cũng viết rằng lạy Chúa, trái tim của chúng con được dựng nên cho Chúa và chúng không thể nghỉ yên cho tới khi đươc an nghỉ trong Chúa.

Mỗi người đều mang hình ảnh của Chúa. Gặp gỡ anh chị em chung quanh là chúng ta đang gặp gỡ chính Chúa. Nhưng nếu chúng ta không có Chúa hiện diện trong tâm hồn, chúng ta khó có thể nhận biết Chúa nơi người khác. Hãy mở rộng cửa đón Chúa Kitô. Có khi nào chúng ta mời Chúa đến cư ngụ trong tâm hồn của mình chưa? Chúng ta nghe Lời Chúa, rước Mình và Máu Thánh Chúa, nhưng nhiều khi chỉ làm như một thói quen. Chúng ta qúa quen với mầu nhiệm đức tin, nên nghĩ rằng đức tin không còn là mầu nhiệm nữa. Miệng lưỡi chúng ta lãnh nhận Mình Thánh Chúa Kitô nhưng tâm trí của chúng ta còn mải mê mãi nơi nào. Chúa đến với chúng ta nhưng chúng ta lại mở cửa ra đi. Cho nên mãi mãi chúng ta chẳng gặp được Chúa.

Với sự hợp nhất của cộng đồng của Dân Chúa, khởi đầu mỗi thánh lễ, chủ tế chào chúc mọi người: Chúa ở cùng anh chị em. Chúa ở cùng chúng ta mỗi khi chúng ta tụ họp cầu nguyện. Chúa phán rằng: Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ."(Mt. 18,20). Có Chúa hiện diện, chúng ta sẽ có sự bình an và niềm an vui. Sau khi sống lại từ cõi chết, mỗi lần Chúa hiện đến với các tông đồ, Chúa chúc lành cho các ông: Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em! "(Lk. 24,36).

Tiên tri Giêrêmia đã ngụp lặn trong niềm tin vào Thiên Chúa, ngài viết: Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Chúa và có Chúa làm chỗ nương thân. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, đâm rễ sâu vào mạch suối trong, mùa nóng có đến cũng chẳng sợ gì, lá trên cành vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại và không ngừng trổ sinh hoa trái (Jer. 17,7-8). Lạy Chúa, trong những ngày chay thánh này, xin cho chúng con được đón nhận Chúa vào lòng chúng con và xin Chúa trở nên gia nghiệp đời chúng con. Xin Cho nguồn ân sủng tràn đổ trong tâm hồn chúng con để chúng con được no say tình Chúa.
Lm Giuse Trần Việt Hùng (nguồn vietcatholic.org)

Thứ Ba, 17 tháng 1, 2017

SAO TÔI CẦN ĐI TĨNH TÂM ?



Bạn thân mến,
Ai cũng có nhu cầu nghỉ ngơi, nhất là sau thời gian mệt nhoài. Tìm một nơi thanh bình để tâm hồn mình lặng xuống trước mọi bôn ba của phận người cũng là điều cần thiết. Bạn biết đấy, tĩnh tâm là một hình thức nghỉ ngơi, nhưng là nghỉ ngơi trong Chúa. Ví như thể dục, thể thao là những việc thao luyện nhằm giúp cho thân thể cường tráng, thì cũng thế, tĩnh tâm nhằm giúp linh hồn khoẻ mạnh, là luyện tập cho tinh thần, là tu tập cho đời sống thiêng liêng. Chính trong thinh lặng của bầu không khí tĩnh tâm, người ta có dịp đối diện với lòng mình, với Chúa. Để từ đó, bạn nhận ra Thiên Chúa luôn yêu thương bạn và Ngài có một kế hoạch ưu việt dành cho cuộc đời bạn. Thật quý biết bao khi bạn dám can đảm vượt qua mọi khó khăn để bước vào khung trời của tĩnh tâm nơi ấy hy vọng bạn gặp được Thiên Chúa!
Lúc này, tĩnh tâm có thể xa lạ với bạn, bởi bạn thường nghe đồn rằng việc đi tĩnh tâm cứ phải thinh lặng, lại lẵng phí thời gian và hao tốn tiền bạc! Điều ấy hẳn là chính đáng khi người ta dám đánh đổi thời gian và tiền bạc cho những điều cao quý hơn. Quả thực người đi tĩnh tâm xác tín rằng họ cần gặp Chúa và mong được sống hạnh phúc hơn. Bởi thế họ dám đánh đổi để trải qua những ngày nghỉ ngơi với Thầy Giêsu. Bạn sẽ ngạc nhiên khi còn nhiều người yêu thích thời gian ở với Chúa và họ kinh nghiệm được Thiên Chúa trong cuộc đời mình.
Có lẽ bạn chưa quen với đời sống nội tâm, nên tĩnh tâm hay linh thao quả là xa lạ với bạn. Thử làm quen để nhận ra những giá trị của tĩnh tâm sẽ cho bạn niềm hứng khởi để bước vào tĩnh tâm! Bạn biết không, sở dĩ người ta ưu thích linh thao là vì họ muốn tu tập sống đời sống cầu nguyện. Qua đó, họ tập cách trò chuyện và sống thân mật với Chúa, để mở lòng đón nhận ánh sáng và sức mạnh của Ngài. Bởi thế, tâm hồn người tĩnh tâm được thanh luyện và sắp xếp cuộc đời mình theo ý Chúa. Khi ấy, họ dám sống trọn kế hoạch của Chúa dành cho riêng họ. Đó là điều then chốt dành cho những ai đang mưu cầu “hạnh phúc đời đời”, bạn à!
Tiếng ve gọi hè đang rộn ràng trên khắp thành thị, thôn quê. Tiếng ồn ào ấy quen thuộc với tính cách náo nhiệt của bạn. Tuy vậy, trong một góc nhỏ của tâm hồn mình, chắc hẳn bạn cũng nghe được tiếng gọi của Thầy Giêsu: “Hỡi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.” Đó là niềm hạnh phúc bình an đang đón chờ những người đến với Chúa. Nhất là trong thời gian tĩnh tâm, ước mong bạn sẽ nhận được niềm vui hạnh phúc của Thiên Chúa dành cho cuộc đời bạn.
Thiên Chúa đang chờ đợi và mời gọi bạn hãy tạm rời cuộc sống náo nhiệt xô bồ, ở với Chúa một thời gian và đón lấy sức mạnh thần linh, và trở về với cuộc sống hằng ngày với nguồn năng lượng mới. Đó là năng lượng của sức mạnh nội tâm, của kinh nghiệm về một Thiên Chúa hằng đồng hành và yêu mến bạn. Ước mong bạn bắt đầu bước vào thời gian hấp dẫn ấy. Bắt đầu từ những tĩnh lặng ít phút trong ngày, lặng ít giờ cuối tuần, và lặng ít ngày với Chúa trong mùa hè này, bạn nhé!
Xin Chúa khơi lên trong bạn lòng khao khát đến với Thầy Giêsu. Xin với Ngài những điều cần với bạn bây giờ và lúc này?!
Thân chào bạn,
Giuse Phạm Đình Ngọc, S.J.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

ĐÂY CHIÊN THIÊN CHÚA


SUY NIỆM 
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN - NĂM A       15/1/2017 

                                                                    ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Trong Thánh Lễ, ta đọc Chiên Thiên Chúa nhiều lần. Có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa của cụm từ “Chiên Thiên Chúa”. Nhưng khi Gioan Baotixita giới thiệu Chúa Giêsu cho dân Do Thái: “Đây là Chiên Thiên Chúa” thì người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ.
Trong Kinh Thánh, chiên được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái.
Thế nhưng chiên còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Hằng năm, vào Lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết. Người Do Thái ăn thịt Chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu. Nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.
Lễ Vượt Qua được cử hành vào đầu mùa xuân. Người Do Thái nhớ đến con chiên. Con chiên đã chết cho họ được sống. Máu chiên đã đưa họ ra khỏi mùa đông tăm tối, tiến vào mùa xuân tươi sáng. Máu chiên đã giúp giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, đưa họ về miền Đất Hứa, sống trong tự do.
Chúa Giêsu đã chịu tử hình vào dịp Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Bữa tiệc ly chính là tiệc Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu ăn với các môn đệ. Chịu chết vào dịp Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu chính là con chiên của Thiên Chúa bị sát tế để cứu nhân loại.
Chúa Giêsu là con chiên hiền lành, không hé môi khi bị đem đi xén lông. Người khiêm nhường gánh lấy tội lỗi nhân loại.
Bản tiếng Việt dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Từ ngữ “xóa” là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng, nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘airein’, tiếng La tinh dùng từ ‘tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy. Có lẽ nên dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng ‘gánh’ lấy tội nhân loại thì đúng hơn. Xóa là đứng ngoài cuộc. Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc. Người đã nhập cuộc, gánh lấy thân phận con người, và nhất là gánh lấy tội lỗi của con người. Chính vì gánh lấy tội lỗi mà Người, Đấng hoàn toàn trong sạch, vô tội đã chịu hạ mình xếp hàng giữa những người tội lỗi xin Gioan rửa tội. Chính vì gánh lấy tội lỗi nhân loại mà Người lui tới với những người tội lỗi, chuyện trò với họ, ăn uống đồng bàn với họ. Nhưng nhất là chính vì gánh lấy tội nhân loại mà Người phải chịu chết giữa hai tội phạm, đồng số phận với họ, đồng bản án với họ, như những người trộm cướp.
Người gánh lấy tội của ta để ta được tha thứ. Người hạ mình xuống để ta được nâng lên. Người trở nên nghèo hèn để ta được giàu có. Người làm con loài người để ta được làm con Thiên Chúa. Người trở nên yếu hèn để ta được nên mạnh mẽ. Người chịu nhục nhã để ta được vinh quang. Người nhận lấy thân phận nô lệ để ta được tự do. Người cam lòng chịu chết để trả lại cho ta sự sống.
Người tín hữu thường được gọi là “Con chiên của Chúa”. Danh hiệu đó ngầm chứa một lời cầu chúc: Mong cho người tín hữu được xếp vào loại ‘chiên’ trong ngày phán xét. Được đứng bên hữu Vua Thẩm Phán. Được vào hưởng vinh quang trong nước Chúa.
Nhưng danh hiệu đó phải chăng cũng gợi lên một ước mong. Ước mong người tín hữu sống theo gương của Chiên Thiên Chúa. Ước mong những con chiên con nối gót theo chiên mẹ đầu đàn đi vào con đường hiền lành khiêm nhường. Ước mong đoàn chiên tự hiến đời mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa. Và ước mong đoàn chiên gánh lấy số phận của người khác, để yêu thương, đoàn kết, liên đới, chia sẻ với anh em tất cả mọi niềm vui nỗi buồn của họ.
Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội con, xin thương xót con.

Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2017

TÌM KIẾM DẤU TÍCH TRẬN ĐẠI HỒNG THỦY NOAH





BÍ ẨN  ĐẠI HỒNG THỦY VÀ CON TÀU NO-E

Bản văn sau đây là một thông tin, chứ không phải là một xác nhận của chúng tôi về sự kiện. Bởi lẽ còn rất nhiều yếu tố, từ bản văn Kinh Thánh với “thể văn” nói về trận Lụt với con tàu ông Nôê, đến các yếu tố “sử học” và các khám phá mới đây, cần phải được khảo sát phối hợp kỹ càng hơn.

Vào năm 1959, Llhan Durupinar, lúc ấy đang là một viên đại úy quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, đã khám phá ra một hình thù bất thường trong khi đang kiểm tra các bức ảnh chụp từ trên không. Vật thể này lớn hơn một sân bóng đá, nổi bật lên khỏi địa hình đồi núi mấp mô ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
Tọa độ con tàu: 39 26’ 26.09″ Bắc, 44 14’ 04.29″ Đông
Con tàu nằm giữa một dòng bùn cổ (Ảnh chụp năm 1959)
Đây là một khu vực xa xôi hẻo lánh, chỉ có dân cư của một số ngôi làng nhỏ sinh sống tại đây. Trước đó chưa hề có báo cáo nào về vật thể kỳ lạ này. Vì vậy đại úy Llhan Durupinar đã chuyển âm bản của bức hình cho chuyên gia chụp ảnh trên không là tiến sĩ Brandenburger, thuộc Trường đại học bang Ohio nước Mỹ. Sau khi nghiên cứu bức ảnh chụp của đại úy Llhan Durupinar, Brandenburger kết luận: “Tôi chắc chắn, rằng vật thể này là một con tàu. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi chưa từng trông thấy vật thể nào như cái này…”.
Vào năm 1960, bức ảnh phía trên đã được xuất bản trong tạp chí LIFE trong bài viết tựa đề “Có phải tàu Noah?”. Cũng trong năm đó một nhóm nghiên cứu người Mỹ đã đi theo đại úy Llhan Durupinar đến địa điểm trong tấm hình. Họ trông đợi sẽ tìm được những cổ vật hay cái gì đó mà có thể chứng minh vật thể lạ kia đúng thật là một con tàu. Sau hơn một ngày đào bới trong khu vực mà không tìm được, họ tuyên bố rằng vật thể lạ có vẻ chỉ là một kiến tạo tự nhiên. Câu chuyện nhanh chóng chìm vào quên lãng.
Vào năm 1977, Ron Wyatt tới viếng thăm địa điểm này. Được chính quyền địa phương cho phép, Ron và những người khác đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu vực này trong nhiều năm. Họ sử dụng máy dò kim loại, máy quét radar ngầm, tiến hành thăm dò cẩn thận, thực hiện các phân tích hóa học, v.v… Những kết quả thu được hoàn toàn xứng đáng với tâm sức mà họ đã bỏ ra. Những khám phá của họ đã làm chấn động Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Vật thể lạ quả thực là một con tàu cực kỳ cổ xưa. Đó là một con tàu rất lớn, thuộc “thời tiền sử”, tại sườn núi ở độ cao 2.000m trên mực nước biển,… và không chỉ có thế.
Bằng chứng trực quan
Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo các kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, đầu kia bo lại – đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m (chính xác 300 cubit Ai Cập).
Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, đã được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy dáng cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khác, phần lớn vẫn chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được.
Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao cuộc khảo sát năm 1960 đã không có kết quả, bởi tại những chỗ mà họ tìm kiếm, gỗ đều đã hóa thạch và xói mòn từ rất lâu trước đó.
Dấu vết những thanh sườn gỗ hóa thạch bên mạn tàu
Con tàu này nằm giữa một dòng bùn khô. Căn cứ theo vị trí của con tàu và dòng bùn, có thể thấy rõ vật thể này đã bị cuốn trôi cùng dòng chảy của bùn, ra cách xa khỏi vị trí ban đầu của nó khoảng 1,6 km. Các nhà địa chất học tin rằng ban đầu con tàu này nằm ở vị trí cao hơn chỗ hiện tại khoảng 300m, và bị bao bọc trong một lớp bùn cứng hơn. Họ cho rằng một trận động đất hồi năm 1948 đã phá vỡ lớp vỏ bùn cứng ấy và làm con tàu lộ ra. Điều này cũng được dân làng xung quanh đó xác nhận.
Phân tích tàn tích của con tàu, sử dụng các phương tiện khác nhau, người ta xác định con tàu ban đầu có cấu trúc khá phức tạp, với các kích thước cụ thể ghi trong hình:
Radar xuyên đất
Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu của nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR).
Đội các nhà địa chất đánh dấu các dải băng màu vàng dọc theo vật thể. Sau đó họ rà quét theo các đường này để thu thập dữ liệu và phân tích. Sau khi phân tích toàn bộ, họ đã lập ra được bản đồ của vật thể cùng với những gì đang nằm bên dưới mặt đất. Và kết quả là đây:
Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất.
Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý.
“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…” - Ron Wyatt cho biết.
Radar cũng cho thấy nhiều cấu trúc cây gỗ bên trong thân tàu. Các phân tích đã xác định chúng là những thanh gỗ sống tàu, sống phụ, mép tàu, các buồng ở, các buồng động vật, hệ thống thang (con tàu có 3 tầng), cánh cửa phía mũi mạn phải, 2 cái thùng lớn ở gần mũi tàu kích thước 14 x 24 inch, và một giếng trời nhỏ ở khu vực chính giữa con tàu để thông khí cho toàn bộ 3 tầng của con tàu tiền sử vĩ đại này.
Các hiện vật
Sử dụng máy Radar xuyên đất, Ron Wyatt đã khám phá ra một khoang trống ở bên mạn phải của con tàu. Ông khoan vào bên trong khoang trống này để lấy mẫu và đã thu được những thứ rất thú vị.
Trái: lỗ khoan dò. Phải: phân động vật hóa thạch
Trái: gạc hươu hóa thạch. Phải: một chùm lông mèo
Có lẽ khám phá quan trọng và đáng kinh ngạc nhất thu được từ hiện trường là một miếng gỗ đã hóa thạch. Khi mới được tìm thấy, người ta tưởng rằng đó là một miếng gỗ đơn thuần của sàn tàu. Nhưng khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, nó hóa ra gồm 3 tấm ván khác nhau, được cán mỏng sau đó gắn chặt với nhau bằng một loại keo dán hữu cơ. Nó rất giống với cách chế tạo gỗ dán của chúng ta ngày nay! Gỗ dán có sức bền lớn hơn nhiều so với gỗ thường. Điều này chứng tỏ người cổ xưa có trình độ công nghệ rất cao.
Trái: Các kiểm tra do phòng thí nghiệm Galbraith Labs tại Knoxville, Tennessee,
Mỹ thực hiện, cho thấy mẫu gỗ hóa thạch chứa 0,7% carbon hữu cơ.
Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt
Kiểm tra cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ. Bề ngoài của mẫu vật từng được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch.
Điều thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nữa, là người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này.
Trong sách Genesis 6:14, Thiên Chúa bảo Noah “hãy tự đóng một con tàu bằng gỗ gopher”.
Từ “Gỗ gopher” này thực ra là lỗi dịch sai, đúng ra phải là “gỗ kopher”. Kopher nghĩa là nhựa đường, “gỗ kopher” nghĩa là gỗ được phủ nhựa đường.
Ký tự tương đương với “g” và “k” trong tiếng Do Thái cổ
Nguyên nhân là khi người ta dịch Genesis từ văn bản tiếng Do Thái cổ sang tiếng Anh, thì họ đã bị lẫn lộn giữa ký tự G và ký tự K, vốn có cách viết rất giống nhau trong tiếng Do Thái. Thực ra bản Bible tiếng Anh, phiên bản King James, có nhiều lỗi dịch sai tương tự như thế. Ví dụ: Acts 7:45, Hebrews 4:8,… Đáng chú ý là nhiều phiên bản Bible các thứ tiếng khác lại dịch từ tiếng Anh ra, cho nên lỗi hiểu sai và dịch sai còn phổ biến hơn nhiều.
Chúng ta thường bị dạy một cách quá bài bản rằng loài người trải qua “thời kỳ đồ đá”, “thời kỳ đồ sắt”, vv… Người ta xếp “thời kỳ đồ sắt” vào khoảng hơn 3.000 năm trước đây. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có những cây đinh sắt, cắm bên trong một tấm gỗ dán đã hóa thạch, của một con tàu khổng lồ thời tiền sử.
Mẫu vật đáng kinh ngạc nhất đã được khám phá nhờ các máy dò kim loại. Đội nghiên cứu đã xác định được một số vị trí mà ở đó có tín hiệu mạnh nhất. Sau khi đào lên, họ đã tìm thấy những cái đinh tán lớn có hình đĩa. Quan sát, chúng ta đều có thể thấy chỗ mà những đinh tán này đã được gõ bẹt đầu sau khi xỏ xuyên qua lỗ.
Chiếc đinh tán cắm ngập vào phần thân gỗ hóa thạch. Kết quả phân tích cho thấy nó được làm bằng một loại hợp kim mà thành phần có chứa cả nhôm
Người ta tiến hành phân tích để tìm hiểu xem kim loại gì đã được sử dụng để làm ra những cái đinh tán đó. Kết quả là: nó có chứa sắt (8.38%), nhôm (8.35%) và titan (1.59%). Nhưng đó chỉ là phần kim loại chưa bị rỉ sét hẳn, cho nên thành phần nguyên thủy ban đầu của thứ hợp kim kỳ lạ này chính xác gồm những gì vẫn còn là bí ẩn.
Kết quả phân tích của phòng thí nghiệm Galbraith
Sách giáo khoa nói rằng trong tự nhiên nhôm không tồn tại ở dạng kim loại, rằng đến cuối thế kỷ 19 người ta mới sản xuất được nhôm vì việc này đòi hỏi công nghệ luyện kim và kỹ thuật rất cao. Hợp kim Sắt-Nhôm tạo ra lớp nhôm ôxit mỏng có khả năng chống rỉ và ăn mòn rất tốt. Thành phần titan giúp hợp kim bền vững hơn. Có lẽ nhờ vậy mà những chiếc đinh tán còn tồn tại được đến tận ngày nay mà chưa bị rỉ nát.
Tàu Noah bị lãng quên từ bao giờ?
Cách con tàu vài cây số, người ta tìm thấy nhiều khối đá rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm ngã trên mặt đất. Những khối đá này nặng nhiều tấn, có lỗ xuyên qua. Các nhà nghiên cứu đã xác định rõ rằng chúng là những cái neo, còn những cái lỗ là để buộc dây thừng.
Những khối đá neo này thường có nhiều dấu khắc chữ thập. Những dấu khắc hình chữ thập trên những khối đá này là do những người hành hương từ thời Trung cổ tới đây để được chiêm ngưỡng con tàu huyền thoại. Thực ra, con tàu này đã nổi tiếng ngay từ thời Trung cổ, thậm chí là từ trước đó nữa. Địa điểm của con tàu này đã được ghi lại trong nhiều tài liệu lịch sử khác nhau.
Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) nói rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại. Địa điểm trong thực tế tên là Nasar.
Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Một giọng nói cất lên: “Đất hãy rút nước của ngươi. Trời hãy ngừng mưa của ngươi”. Hồng Thủy dịu đi và ý chí của Allah đã được thực hiện. Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết”. Chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm, trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.
Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc bộ sách Bible) ghi: “Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10, ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn núi ấy”. (chính xác)
Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab. (chính xác)
Cuốn Theophilus của Antioch (115-185) nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong những ngọn núi của người Arab. (chính xác)
Vào thế kỷ 13, một du khách tên là Willam đã nói rằng ngọn núi Masis là vị trí mà con tàu nằm lại. Chính xác, ngày nay ngọn núi này có tên là Ararat.
Cuốn Geographia của Ptolemy (1548) nói dãy núi Armenia là vị trí của con tàu. Du khách Nicolas de Nicolay (1558) cũng nói như vậy. (chính xác)
Không phải ngẫu nhiên mà các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylonia, Lưỡng Hà, Sumeria, Peru, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, châu Mỹ, xứ Wales, Hawaii, Scandinavia, Sumatra, Polynesia, v.v…, tất cả đều có các phiên bản riêng của họ về một trận Đại Hồng Thủy cực lớn toàn cầu. Thống kê cho thấy toàn thế giới có khoảng 2.000 “truyền thuyết” như vậy. Dưới đây là phân tích sơ bộ một phần nhỏ trong số này.
Bảng phân tích nội dung các câu chuyện Đại Hồng Thủy khắp toàn cầu (35/~2000). Phần lớn các câu chuyện đều cho biết đại ý rằng: Đại Hồng Thủy là do Thần tạo ra để hủy diệt loài người vì nhân loại thời kỳ đó đã không còn lương tâm đạo đức, không còn xứng làm người. Nhấn vào hình ảnh để phóng lớn.
Báu vật quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Ron Wyatt và đằng sau là tàn tích hóa thạch của con tàu Noah “huyền thoại”. Địa điểm tại độ cao 2.000m trên mực nước biển thuộc dãy núi Ararat này đã trở thành Công viên Quốc gia Noah’s Ark – Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ
Tờ báo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ: Chính phủ xác nhận: “Đây là tàu Noah”
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ công nhận
Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Noah. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ.
Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy là sự thật. Nó đã được công nhận từ 24 năm trước. Nhưng, tại sao sự kiện này bị phớt lờ và hầu như không có phương tiện truyền thông đại chúng nào của thế giới dám nhắc đến? Ai đã buộc họ phải im lặng? Câu hỏi này thực ra còn bí ẩn hơn bản thân con tàu “huyền thoại” ấy.
Minh Trí
 (Nguồn : http://ditimchanly.org/)