Tại sao Thiên Chúa lại không can thiệp vào vụ khủng bố đẩm máu 11/09/2001 ?
Vụ
KHỦNG BỐ đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ tại toà tháp đôi của Trung Tâm
thương mại Thế giới New York ngày 11/09/2001 đã làm 2.996 người bị chết,
hơn 6.000 người khác bị thương, ngoài ra còn gây thiệt hại về tài sản
và cơ sở hạ tầng ít nhất 10 tỉ đôla và gây tổn thất tổng cộng 3 nghìn tỷ
đôla.
Sự kiện 11 tháng 09 năm 2001 vào sáng thứ Ba là một loạt bốn vụ tấn công
khủng bố có mục tiêu bởi nhóm khủng bố Hồi giáo al-Qaeda chống lại Hoa
Kỳ.
Nỗi đau đớn thể xác và xót xa tinh thần của vụ khủng bố này sẽ hằn sâu vào ký ức của nhiều người và sẽ không bao giờ ngơi.
Sau
biến cố 11 tháng 9 năm 2001 tại Mỹ, con gái của một vị Mục sư giảng
thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và người
hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ta như sau:
“Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy ?”
Câu trả lời của thiếu nữ này thật là thâm thúy:
“Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta.
Từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta.
Ngài
là người 'quân tử' nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể
mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin
Ngài để mặc chúng ta một mình ?
Về
những biến cố mới xảy ra như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường
học, chiến tranh ..., tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với Madeleine
Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không nên đọc kinh trong trường
học nữa. Và chúng ta đã đồng ý!
Rồi
lại một người khác lại có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh
nơi trường học, cũng chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta: 'Chớ
giết người, chớ trộm cắp, yêu thương tha nhân như chính bản thân mình,
v.v...', và chúng ta cũng đã đồng ý!
Sau
đó bác sĩ Benjamin Spock lại nói là chúng ta không được đánh con cái
mình khi chúng làm gì xấu, vì chúng ta có thể làm sai lệch nhân cách bé
nhỏ của chúng và làm cho chúng không biết tự quý trọng bản thân mình
nữa.
Thế
rồi con trai của chính vị bác sĩ ấy khốn thay đã tự tử. Người ta bảo
rằng một chuyên viên chắc chắn phải biết mình nói gì, còn ông ấy nói với
chúng ta điều mà chính thực tế gia đình ông ấy thất bại , và chúng ta
cũng đồng ý luôn !!!
Bây
giờ chúng ta lại tự hỏi là tại sao con chúng ta không có lương tâm, tại
sao chúng ta không phân biệt được thiện ác, và tại sao chúng ta có thể
nhẫn tâm giết chết một thai nhi, một người thân hay chính mình.
Có thế sau khi suy nghĩ chín chắn, chúng ta đi đến kết luận: Chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả ấy.
Điều Kì Lạ... là con người có thể vứt bỏ Chúa một cách dễ dàng, rồi sau đó lại tự hỏi tại sao thế giới biến thành địa ngục.
Điều Kì Lạ... là chúng ta lại có thể tin những gì báo chí nói mà lại nghi ngờ những gì Kinh Thánh nói.
Điều
Kì Lạ... là chúng ta gửi cho nhau những chuyện vui cười qua email và
chúng được truyền đi tiếp như lửa rơm, nhưng khi gửi những thông điệp về
Thiên Chúa thì chúng ta lại đắn đo suy nghĩ trước khi gửi đi tiếp.
Điều
Kì Lạ... là khi bạn gửi đi thông điệp này, có thể bạn không gửi đi cho
nhiều người lắm trong danh sách của bạn, vì bạn không biết họ có tin
Chúa không hoặc họ sẽ nghĩ gì về bạn.
Điều Kì Lạ… là chúng ta lại hay lo sợ người đời nghĩ sao về chúng ta, hơn là những gì Thiên Chúa nghĩ về chúng ta.
Hãy chia sẻ thông điệp này, nếu bạn nghĩ nó đáng được gửi đi. Nếu không, bạn cứ vứt nó đi, cũng chẳng ai biết đâu!
Nhưng nếu bạn cắt đứt chuỗi suy nghĩ này, thì đừng bao giờ than phiền về tình trạng tồi tệ của thế giới chúng ta đang sống.
(Tác giả : Dòng Đồng Công Hoa Kỳ ; Nguồn : Báo Công Giáo ; Ngày đăng : 12/9/2018)
Một vài suy nghĩ khi đọc thư của ĐTC Phanxicô gởi cho dân Chúa về những tội phạm tình dục trong hàng giáo sĩ.
Hội
Thánh Công giáo đang phải đối diện với một thử thách lớn, có thể gây
tác động rất xấu lên đời sống đức tin của các tín hữu cũng như uy tín
tinh thần của Hội Thánh trên thế giới. Làn sóng cáo buộc những tội phạm
tình dục trong hàng giáo sĩ Chile chưa nguôi ngoai thì mới đây, làn sóng
đó lại dâng cao hơn nữa tại Hoa Kỳ.
Đức TGM McCarrick, nguyên Hồng y TGM Washington, DC., bị cáo buộc những
tội phạm được cho là có cơ sở và đáng tin. Không lâu sau đó, Tòa án bang
Pennsylvania (trong đó có 6 Giáo phận Công giáo) công bố kết quả điều
tra: “Ít nhất là cả ngàn nạn nhân của lạm dụng tình dục, lạm dụng quyền
lực, lạm dụng lương tâm do các linh mục trong thời gian gần 70 năm qua” (Thư của Đức Thánh Cha).
Ngoài ra còn có những cáo buộc các giám mục đã tìm cách che giấu tội
phạm hoặc dàn xếp kín rồi thuyên chuyển đương sự đi nơi khác.
Trong
bối cảnh đó, Đức Thánh Cha Phanxicô viết thư, không chỉ gửi cho người
Công giáo tại Hoa Kỳ hay Chile nhưng là cho toàn thể Dân Chúa. Hi vọng
lá thư này sẽ sớm được dịch sang tiếng Việt để mọi người có thể trực
tiếp đọc và suy nghĩ. Ở đây chỉ xin chia sẻ vài suy nghĩ.
1. Nỗi đau chung chứ không của riêng ai.
Thư
của Đức Thánh Cha mở đầu bằng lời của Thánh Phaolô: “Nếu một chi thể bị
đau, mọi chi thể cùng đau” (1Cr 12,26), và lời này cũng được chọn làm
tiêu đề cho hai phần chính của lá thư. Chọn lựa đó làm nổi bật tình liên
đới giữa các chi thể trong cùng một Thân thể Đức Kitô là Hội Thánh. Đó
là sự liên đới trong tình thương cảm với các nạn nhân, với nỗi đau thể
lý và tinh thần mà họ phải chịu đựng trong nhiều năm qua.
Đó
là sự liên đới trong việc thực thi công lý, chứ không thể chỉ tìm cách
che giấu hoặc dàn xếp bên trong cho ổn thỏa, còn kẻ thủ ác cứ tiếp tục
lối sống cũ.
Đó
còn là sự liên đới trong việc ngăn ngừa những tội phạm tình dục, ngăn
ngừa bằng giáo dục, bằng những quy định và bằng cả luật pháp.
Đó
cũng là sự liên đới trong việc đền bồi phạt tạ vì scandal này quá lớn
trong lòng Hội Thánh: “Đức Kitô bị phản bội do chính các môn đệ Ngài, do
việc họ rước Mình Máu Chúa cách bất xứng, chắc chắn đây là nỗi đau khổ
lớn nhất mà Đấng Cứu độ phải chịu; nó đâm thấu trái tim Ngài. Từ đáy
lòng, chúng ta chỉ có thể kêu lên: Kyrie eleison, Lạy Chúa, xin cứu chúng con” (Hồng y Joseph Ratzinger, Thư của Đức Thánh Cha).
2. Lạm dụng tình dục và những mối liên hệ.
Thông
thường, khi nói đến scandal hiện nay, người ta chỉ nhấn mạnh việc lạm
dụng tình dục, nhưng trong Thư gửi Dân Chúa, Đức Thánh Cha Phanxicô luôn
nói đến bộ ba: lạm dụng tình dục, lạm dụng quyền lực, lạm dụng lương
tâm. Bởi lẽ những lạm dụng tình dục bị tố giác thường xảy ra trong tương
quan giữa người cầm quyền và người dưới quyền: nhà đào tạo và người
được đào tạo, cha giáo và chủng sinh, bề trên và bề dưới, cha và con
thiêng liêng. Ngoài ra, khi xảy ra sai phạm, người trên lại tìm cách ép
buộc hoặc gây áp lực để người dưới không được tiết lộ, với đe dọa ngầm
là sẽ phải nguy hiểm hoặc chịu thiệt thòi. Những lạm dụng này gắn liền
với chủ trương giáo sĩ trị, vì thế, Đức Thánh Cha khẳng định: “Nói không
với lạm dụng là cương quyết nói không với mọi hình thức của giáo sĩ
trị”. Đây chẳng phải là lời cảnh cáo, hoặc ít ra là lời mời gọi gửi đến
các giám mục, linh mục sao? Không chỉ về những lỗi phạm luật độc thân
nhưng còn là cách sử dụng quyền bính trong việc điều hành cộng đoàn được
trao phó cho mình.
Ngoài
ra, tuy không được nói đến trong thư nhưng có một vấn đề được bàn tới
rất nhiều trong giới Công giáo tại Hoa Kỳ, là vấn đề đồng tính luyến ái.
Độc giả nào quan tâm có thể đọc một vài bài sau trên mạng internet.
- Msgr. Charles Pope, Active Homosexuality in the Priesthood Helped Cause this Crisis, ncregister.com
- Daniel Mattson, Why Men like me should not be Priests?firstthings.com
- Dominic Legge, O.P., Cleansing the Church,firstthings.com
Các
tác giả nêu lên mối quan ngại về quan hệ đồng tính trong các chủng viện
và hàng giáo sĩ, đến nỗi được cho là thứ văn hóa ngầm (subculture), và
điều này được cho là nguyên nhân chính dẫn đến những cáo buộc về lạm
dụng tình dục hiện nay. Mối quan ngại trên không phải là không có cơ sở
vì theo bản Tường trình năm 2004 do chính Hội đồng Giám mục Hoa
Kỳ chủ trương thì: (1) 81% những vụ linh mục bị cáo buộc lạm dụng tình
dục là với trẻ nam; (2) 78% những vụ cáo buộc là quan hệ tình dục đồng
tính với những trẻ nam đã qua tuổi dạy thì chứ không phải với trẻ con
(x.The Nature and Scope of the Problem of Sexual Abuse of Minors by Catholic Priests and Deacons in the United States).
Ngoài
ra, theo Đức Ông Charles Pope, chỉ cần nhận thức thông thường cũng đủ
thấy không nên nhận những thanh niên có khuynh hướng đồng tính vào chủng
viện, vì để một chủng sinh đồng tính (homosexual) sống trong chủng viện
chẳng khác gì để một chủng sinh có khuynh hướng dị tính (hetero-sexual)
ở trong một tu viện nữ! Tuy Đức Thánh Cha Phanxicô không nói đến vấn đề
này trong thư nhưng ngài từng nói với các nhà đào tạo chủng viện: “Nếu
có chút nghi ngờ nào thì tốt hơn là đừng nhận vào”.
3. Giải pháp thiêng liêng.
Trong
lá thư quan trọng này, Đức Thánh Cha kêu gọi toàn thể Dân thánh Chúa
“thực hành sám hối bằng cầu nguyện và chay tịnh”. Người ta có thể thắc
mắc: Trước một scandal lớn như thế mà chỉ kêu gọi ăn chay và cầu nguyện
thôi thì giải quyết được gì? Thế nhưng từ nhãn quan thiêng liêng, đây
chính là giải pháp căn cơ nhất vì chính Chúa Giêsu đã dạy: “Không thể
trục xuất giống qủy này nếu người ta không ăn chay cầu nguyện” (Mt
17,21).
Lời
kêu gọi của Đức Thánh Cha cũng phản ánh tâm tư của nhiều người trong
cuộc. Đức Cha Scharfenberger, Giáo phận Albany tại Hoa Kỳ, nói: “Chúng
ta có thể và tôi tin tưởng là chúng ta sẽ củng cố những luật lệ, quy
định và biện pháp để ngăn ngừa những vi phạm trầm trọng này, thế nhưng ở
tâm điểm của vấn đề, đây không chỉ là chuyện thi hành luật pháp, đây là
cuộc khủng hoảng sâu xa về mặt thiêng liêng”. Giám mục Robert Baron
viết, “Thánh Phaolô đã cảnh giác là chúng ta không chỉ chiến đấu chống
lại xác thịt và máu huyết nhưng là chống lại “những quyền lực thần
thiêng”. Vì thế công việc chính của Hội Thánh trong thời điểm tàn phá
này là phải cầu nguyện, ý thức và kiên trì kêu cầu Đức Kitô và các
thánh”. Giáo sư Robert P. George, Đại học Princeton, cho rằng gốc rễ của
vấn đề là sự bất trung và giải pháp tốt nhất là sự trung tín của những
người có chức thánh: trung tín với lời thề hứa khi chịu chức, trung
thành với giáo huấn của Hội Thánh.
Tất
cả đều hàm chứa lời mời gọi quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo thiêng
liêng cho những người chuẩn bị lãnh nhận chức thánh. Đào tạo tri thức và
mục vụ đương nhiên là cần thiết trong thời đại ngày nay, nhưng ở nền
tảng vẫn là việc đào tạo nhân bản và thiêng liêng, hướng đến sự trưởng
thành nhân bản và thiêng liêng nơi các chủng sinh. Đây là nền tảng để
các linh mục tương lai sống ơn gọi của mình cách đúng đắn, thiết lập
những tương quan lành mạnh, vững vàng trước những thử thách và cảm nhận
niềm vui trong đời dâng hiến.
8 giờ sáng 31/8/2018, tại Trung Tâm Mục Vụ 2 của Giáo phận Long Xuyên , Đức cha GIUSE TRẦN VĂN TOẢN , Giám mục phó Giáo phận Long Xuyên , Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dân của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã tiếp đoàn đại diện các Huynh trưởng HTDC các Giáo phận phía Nam do Linh mục Giuse Nguyễn Tiến Lộc và một số anh chị Trưởng HTDC đại diện . Sau phần trình bày của Cha Giuse Tiến Lộc , Niên trưởng Lê Ngọc Bưu , và Trưởng Nguyễn Thị Sửu về tình hình hoạt động của PT HTDC trước 1975 , cũng như tình hình sinh hoạt của các đoàn HTDC hiện nay tại giáo phận Đà Nẵng và tại các giáo phận khác như Phú Cường , Đà Lạt , Xuân Lộc ,Sài Gòn , …. Đức Cha Giuse chia sẻ : - Các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành hiện nay: Hướng Đạo CG, Thiếu Nhi Thánh Thể , Hùng Tâm Dũng Chí ,….. đều là hoa trái do Đức Chúa Thánh Thần ban cho, chúng ta phải gìn giữ và phát triển - Trong điều kiện giáo dục của nước nhà , và đặc biệt giáo dục giới trẻ hiện nay trong “sứ mạng loan báo Tin Mừng” , việc trăm hoa đua nở các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành là tự nhiên và cần thiết Sau khi thăm hỏi về hướng hoạt động của Phong trào trong tương lai , Ngài ân cần góp ý thêm : - PT HTDC nên mau chóng huấn luyện các Trưởng trẻ làm lớp kế thừa để củng cố Phong trào . - Đức cha Giuse hứa với trách nhiệm của Uỷ Ban Giáo Dân , Ngài sẽ mang vấn đề phát triển của HTDC trình lên cho HĐGMVN trong kỳ họp vào tháng 9 sắp tới ; - Đồng thời sẽ gặp gỡ các anh chị HTDC trong lần Đại Hội HTDC toàn quốc năm 2019 tại Vũng Tàu nếu điều kiện cho phép . - Dù rất bận công việc, Đức cha Giuse Chủ tịch Ủy Ban Giáo Dân vẫn vui vẻ chup ảnh lưu niệm chung với đoàn trước khi ra về .
Bạn
có thể biết Nhật Bản là quốc gia của anime, của sumo, và hoa anh đào.
Nhưng bạn đã bao giờ nghe đến các nhà vệ sinh vô cùng sáng tạo, những
chuyến tàu luôn chính xác đến từng giây, hoặc máy bán hàng tự động đầy
trứng tươi.
Các trường học ở Nhật không có người làm vệ sinh. Thay vào đó, các học
sinh tự vệ sinh trường lớp của mình. Bằng cách này, các em học được cách
tôn trọng trường học và có ích hơn cho xã hội.
Đây là minh chứng đoàn tàu ở Nhật chạy êm như thế nào
Nhật Bản có những nắp cống đẹp nhất thế giới
Người Nhật luôn tuân thủ nghiêm túc các quy tắc trong xã hội. Ngay cả
khi cầu thang bên phải không một bóng người, vẫn không ai lấn sang bên
đó để đi cho nhanh, vì đó là lối đi xuống.
Một chiếc túi bị lạc được đặt cẩn thận dưới gốc cây chờ người chủ đến nhận lại.
Giá treo ô có khóa để bạn không cần phải mang theo nó bên mình liên tục và tránh người khác sơ ý cầm nhầm.
Những chú cá Koi hồn nhiên bơi tung tăng trong cống thoát nước
Một chiếc tủ lạnh chia ô, có khóa để khách hàng có thể cất thực phẩm vào đây rồi tiếp tục mua sắm các hàng hóa khác.
Một số đoàn tàu ở Nhật có bể ngâm chân, giúp hành khách thư giãn hơn.
Hầu hết người dân Nhật Bản đều quay ngược đầu khi đỗ xe để lấy ra tiện hơn.
Một nhà hàng ở Nhật bày các món ăn giả làm từ chất dẻo trông y như các món ăn thật.
Còn đây là một máy bán hàng tự động bán trứng gà tươi
Một số thang máy ở Nhật có chế độ báo trời mưa cho người sử dụng thang máy.
Cổ động viên Nhật Bản nán lại sau trận đấu tại World Cup 2014 để giúp thu dọn rác.
Hầu hết các nhà vệ sinh công cộng của Nhật Bản đều có ghế giữ em bé gắn vào tường để giúp mẹ bé có vài phút tự do.
Bạn đã bao giờ gặp một chiếc bồn cầu như thế này chưa? Rửa tay xong sử dụng nước rửa tay để xả bồn cầu luôn.
Đây là những bữa ăn tại một bệnh viện Nhật Bản dành cho bà mẹ vừa sinh
Tờ giấy ghi dòng chữ “Tôi vô tình va phải xe và làm hỏng chuông. Tôi vô cùng xin lỗi”
Nhà vệ sinh công cộng ở Nhật có bảng hệ thống thông báo các nhà vệ sinh nào đã kín, nhà vệ sinh nào còn trống.
Con cá thứ nhất là cá
hồi chó.
Cá hồi chó sống ở vùng nước sâu trong đại dương bao la. Cá
hồi chó mẹ sau khi đẻ trứng sẽ đợi ở một
bên, trứng sau khi nở thành cá con vẫn chưa thể tự
kiếm ăn, chỉ có thể dựa vào thịt của mẹ để lớn.
Cá mẹ nhịn đau đớn không hề kêu ca. Khi cá con lớn lên, cá
mẹ chỉ còn lại một đống xương, đó là minh chứng đắt giá nhất cho tình
mẹ vĩ đại trên thế giới này.
Cá hồi chó là con cá tượng trưng cho tình mẹ.
Con cá thứ hai là cá lóc Tàu
Nghe nói loài cá này sau khi sinh con sẽ bị mất đi khả năng
nhìn, không thể kiếm mồi mà chỉ có thể nhịn đói. Khi trứng nở thành
hàng ngàn con cá con, đàn cá con không nỡ nhìn mẹ chết nên từng
con, từng con một chủ động bơi vào miệng mẹ để giúp mẹ đỡ đói.
Cá mẹ sống lại, lượng cá con còn tồn tại chẳng đáng là bao,
chỉ còn chưa đến 1/10, số còn lại vì mẹ mà hy sinh tấm thân non nớt của
mình.
Cá lóc tàu là con cá tượng trưng cho sự hiếu thảo của người làm con.
Con cá thứ ba là cá hồi
Mỗi năm cứ đến mùa sinh sản, cá hồi lại tính trăm phương ngàn kế
để từ đại dương rộng lớn trở về dòng sông trong đất liền.
Bởi lẽ loài cá này không sinh nở ở các vùng biển nước mặn mà di cư bơi về
dòng suối ngọt, nơi chúng được sinh ra để tiếp tục đẻ trứng.
Cuộc hành trình di cư thật sự vất vả và gian lao khi chúng
phải bơi ngược dòng chảy của tự nhiên để trở về quê hương, trên đường trở
về phải đối mặt với bao hiểm nguy thách thức, nào là vượt thác, nào là lo
bị gấu xám ăn thịt…
Những con cá không vượt được thác phần lớn sẽ rơi vào bụng gấu.
Những con vượt thác thành công cũng sức cùng lực kiệt, vừa phải tiếp
tục bơi vừa phải đề phòng loài ó cá kiếm mồi.
Chỉ có một số ít những con cá may mắn vượt qua mọi khó khăn
và sự bủa vây để trở về quê hương, hoàn thành việc quan trọng nhất đời
mình, đó là tìm con đực, giao hợp, đẻ trứng và cuối cùng là chết một cách
yên bình ở chính nơi mình sinh ra.
Và khi mùa xuân đến, đàn cá con lại trôi theo dòng nước ra
biển, bắt đầu hành trình cuộc đời mình.
Cá hồi là loài cá tượng trưng cho tình yêu quê hương xứ sở. *
Chúng ta hãy thường xuyên nghĩ rằng, trên đời này có ít nhất 3
con cá khiến chúng ta phải cảm động:
Con cá thứ nhất là cha mẹ, người đã cho chúng ta sinh mệnh, luôn dõi
theo mọi bước chân ta đi, không trách cứ oán giận, sẵn sàng hi sinh tất cả cho
con cái mà không hề đòi hỏi bất cứ điều gì.
Con cá thứ hai là con cái, từ khi oa oa cất tiếng khóc chào đời, con cái
đã hoàn toàn tin cậy và ở bên cha mẹ cho đến già.
Con cá thứ ba là cố hương. Bất luận là đi xa đến đâu, cũng sẽ có một
ngày chúng ta tìm cách trở về quê nhà.
Nhà
báo Lưu Trọng Văn và tôi, Hoàng Hưng, vừa làm xong một việc có ý nghĩa ở
Lisbon, thủ đô Bồ Đào Nha, coi như mở đầu cuộc tôn vinh Chữ Quốc Ngữ
(CQN) mà một nhóm người yêu tiếng Việt khởi xướng từ tháng 3 năm nay
(2018).
Ông
Nguyễn Đăng Hưng, nguyên GS Đại học Liege Bỉ, nhiều năm về Việt Nam
giúp đào tạo cao học, là người có sáng kiến tôn vinh Cha Alexandre de
Rhodes (nguyên cớ trực tiếp là do GS bất bình với “đề án chữ Việt mới”
của một vị đã từng gây ồn ào truyền thông hồi đầu năm). Sáng kiến này
được ông đưa lên Facebook cá nhân và đưa ra trong buổi họp mặt các nhà
văn thân hữu của mạng Văn Việt cuối tháng 3/2018.
Động
thái đầu tiên của GS Nguyễn Đăng Hưng là tìm đến ngôi mộ người có công
lớn trong công cuộc tạo ra Chữ Quốc Ngữ là Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de
Rhodes người Pháp, ở Isfahan, Iran. Ông đã kiên trì vận động để được
chính quyền sở tại cho phép, và thuê làm bia “Tri ân Cha Alexandre de Rhodes, người có công lớn trong việc tạo tác Chữ Quốc Ngữ”
bằng 4 thứ tiếng (Việt, Pháp, Anh, Iran). Bia sẽ được Giáo sư cùng một
số chiến hữu từ Việt Nam và nước ngoài sang Isfahan dựng vào dịp 358 năm
ngày mất của cụ Rhodes (5/11/1660).
Cùng
lúc, Giáo sư kết nối với các nhà nghiên cứu và trí thức ở Huế, Quảng
Nam… kiểm lại những chứng tích của buổi khai sinh Chữ Quốc Ngữ ở vùng
này, quan trọng nhất là 3 ngôi mộ của các Giáo sĩ Dòng Tên ở Thanh
Chiêm, một trong số đó rất có thể là mộ của Giáo sĩ Francisco de Pina,
đã được giới nghiên cứu khẳng định là người mở đầu công cuộc hình thành
CQN từ đầu thế kỷ 17.
Một
dự án lập Khu Tưởng niệm F. de Pina đã nhanh chóng ra đời với sự hưởng
ứng của một số cựu lãnh đạo địa phương và trung ương, sự đóng góp tài
vật (đất đai, tiền bạc) của doanh nhân và người dân. Nhóm khởi xướng
“Tôn vinh CQN” gồm các nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà báo, nhà giáo… đã
hình thành như thế.
Câu
chuyện trở nên càng hấp dẫn, khi bà Thuỷ Tiên Nguyễn, Chủ tịch Hội Hữu
nghị Việt Nam- Bồ Đào Nha cho biết, sắp có cuộc Hội thảo về quan hệ Bồ
Đào Nha – Việt Nam tại Hội Địa lý Lisbon (Sociedade Geografia de Lisboa)
vào đầu tháng 7.
Lập tức 2 thành viên “Nhóm Tôn vinh CQN” chúng tôi đăng ký sang Lisbon dự Hội thảo.
Nhà thơ Hoàng Hưng, TS Đào Hằng và nhà báo Lưu Trọng Văn tại Thư viện
Ajuda, nơi lưu giữ văn bản nghiên cứu CQN đầu tiên của F. de Pina
Chiều
5/7, tại trụ sở Hội Địa lý Lisbon, đã diễn ra cuộc “Hội thảo Quốc tế về
Quan hệ Bồ-Việt xưa và nay” do Hội Địa lý Lisbon và Hội Hữu nghị
Việt-Bồ đồng tổ chức.
Ông Chủ tịch Hội Địa lý Lisbon khai mạc Hội thảo Quan hệ Bồ-Việt xưa và nay
Bốn
báo cáo về vai trò của các giáo sĩ Bồ và việc hình thành CQN của GS
Nguyễn Đăng Hưng, nhà báo Lưu Trọng Văn, nhà giáo Lê Nam Trung Hiếu, nhà
thơ Hoàng Hưng, nhà giáo Thuỷ Tiên Nguyễn đã gây hứng khởi lớn cho cử
toạ là các nhân sĩ trí thức Bồ mong muốn quốc gia này nối lại mối quan
hệ vốn có từ lâu đời với xứ sở mà cha ông họ từng có giao tình, cũng như
một số doanh nhân đang muốn tìm hiểu một địa chỉ làm ăn mới đầy triển
vọng.
Hôm
trước hội thảo, các thành viên của nhóm Tôn vinh CQN từ Việt Nam xa xôi
cũng có cơ duyên được thăm thánh tích của Đức Chân Phước Andre Phú Yên,
một học trò thân tín của A. de Rhodes, thờ tại Giáo đường cổ kính St
Roque của Dòng Tên Bồ Đào Nha và thăm Thư viện Biblioteca da Ajuda, đọc
tận mắt bản chép lại công trình đầu tiên về CQN của Cụ Pina (đầu TK 17)
trong cuốn sách cổ từ TK 18: “Manuductio ad Linguam Tunckinensem” (Sổ
tay về Tiếng Tonkin).
Thông
tin về Hội thảo lan truyền rất nhanh về Việt Nam, lập tức chúng tôi
nhận được những hứa hẹn góp sức cho những việc làm sắp tới của nhóm Tôn
Vinh CQN.
Cũng
từ Việt Nam, đã có thông tin về kế hoạch khai mạc một Viện (Institute)
thuộc trường Đại học Duy Tân, Đà Nẵng), bao gồm nhiều nhân sĩ trí thức
Việt Nam cũng như quốc tế. Viện có mục tiêu tôn vinh những người có công
xây dựng, phát triển CQN, bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, dạy
tiếng Việt cho người nước ngoài và con cháu người Việt trên khắp thế
giới… Việc làm trước mắt của tổ chức này sẽ là xây dựng khu Tưởng Niệm
Cụ Pina ở Quảng Nam và hội thảo quốc tế kỷ niệm 100 năm ngày Vua Khải
Định ra Đạo dụ bãi bỏ Khoa cử, coi như thừa nhận CQN là chữ viết chính
thức của quốc gia (1919).
Đây có thể coi là bước đi mới của công cuộc tôn vinh CQN đã diễn ra từ sau Đổi Mới.
Lần
đầu tiên là vụ phục hồi danh dự và công lao Alexandre de Rhodes vào năm
1993. Báo Lao Động khởi ra việc này với các bài viết của Minh Hiền,
Hoàng Hưng, bác bỏ sự buộc tội bất công kéo dài mấy mươi năm đối với
Giáo sĩ (những phát biểu của ông đã bị diễn giải theo định kiến chính
trị tiêu cực).
Khi
đó theo yêu cầu của báo Lao Động, GS Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học
Lịch sử, đã có bài viết quan trọng xác nhận công lao của Giáo sĩ. Ban
Bí thư Đảng Cộng sản còn đề nghị báo Lao Động sưu tầm và cung cấp cho
Ban tất cả tư liệu đã có về A. de Rhodes (trong việc này, chúng tôi đã
được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các đồng nghiệp ở báo Công giáo &
Dân tộc). Từ đó đưa tới Hội thảo Khoa học Lịch sử về A. de Rhodes và
sau đó, tên đường, bia tưởng niệm Giáo sĩ đã được phục dựng.
Bước
thứ hai là việc Quỹ Phan Châu Trinh đưa những người đặt nền móng cho
tiếng Việt hiện đại với CQN như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm
Quỳnh vào danh mục các danh nhân Văn hoá được Quỹ tôn vinh hằng năm.
Ông Chủ tịch Hội Địa lý Lisbon khai mạc Hội thảo Quan hệ Bồ-Việt xưa và nay
Nhiều
người hy vọng rằng, ở bước đi mới hôm nay, đông đảo người dân Việt Nam
sẽ có cơ hội biết đến và tri ân công lao của những người đặt những viên
gạch đầu tiên của Lâu đài CQN – các Giáo sĩ Bồ Đào Nha Gaspar do Amaral,
António Barbosa, và đặc biệt Francisco de Pina.
Người
ta cũng chờ đợi những động thái tích cực rõ ràng từ các cơ quan hữu
trách chính thức, dẫn đến việc tôn vinh Cụ Pina một cách xứng đáng, đúng
với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt Nam.
Giáo dục gia đình là nền móng khởi đầu của đời người, có tác dụng đối với cả một đời con người, và có ảnh hưởng sâu sắc hơn so với giáo dục ở nhà trường và xã hội.
Nhưng nhìn vào hiện trạng giáo dục gia đình ngày nay, có một số tồn tại lệch lạc, như:
– Coi trọng học tri thức mà coi nhẹ bồi dưỡng đạo đức, học để làm người – Coi trọng chăm sóc mà coi nhẹ tự lập – Coi trọng thuyết giáo mà coi nhẹ làm mẫu – Coi trọng quản lý mà coi nhẹ dẫn dắt tích cực
Giáo dục gia đình là giáo dục nhân sinh quan trọng, nhiều cha mẹ lại không hiểu được tầm quan trọng của nó, không coi trọng và có hành động thích đáng. Rất nhiều người nói ngay không phải nghĩ ngợi rằng: “Từ xưa đến nay cha mẹ quản lý giáo dục con đâu có nói trách nhiệm gì, nguyên tắc gì? Con của mình, muốn dạy thế nào thì dạy như thế”. Trên thực tế, trong văn hóa truyền thống luôn luôn có truyền thống tốt đẹp coi trọng giáo dục gia đình.
Giáo dục gia đình là nền móng khởi đầu của đời người.
Người xưa coi giáo dục con cái là chức trách quan trọng của đời người
Gia đình xưa vừa là một tế bào của cuộc sống lại vừa là cơ sở sản xuất và cơ sở giáo dục. Người xưa coi trọng quan hệ giữa tề gia và trị quốc, nói theo ngôn ngữ hiện nay tức là quản lý gia đình và quản lý xã hội.
Trong chương Lễ Ký sách Đại Học có viết: “Người xưa muốn đức sáng chiếu khắp thiên hạ, thì trước hết họ phải quản lý tốt quốc gia của mình. Người muốn quản lý tốt quốc gia của mình, thì trước hết phải quản lý tốt gia đình mình. Người muốn quản lý tốt gia đình mình, thì trước hết phải tu tốt bản thân mình”. Cũng có nghĩa là, người xưa cho rằng “Tu thân rồi mới tề gia, tề gia rồi mới trị quốc, trị quốc rồi mới bình thiên hạ”. Vì “Cái gốc của thiên hạ là quốc gia, cái gốc của quốc gia là gia đình, cái gốc của gia đình là bản thân mình”.
Điều đó đã nói rõ ràng đầy đủ quan hệ giữa cá nhân, gia đình và quốc gia. Quản lý quốc gia phải bắt đầu từ quản lý gia đình, quản lý gia đình phải bắt đầu bằng giáo dục con cái. Xuất phát từ mục tiêu “Tề gia trị quốc”, người xưa đã coi giáo dục gia đình là “Gốc rễ của quốc gia”, rất coi trọng tác dụng của giáo dục gia đình.
Bản Gia huấn chữ nôm có câu:
“Lại khuyên con việc tề gia Phải cho cần kiệm thuận hòa là hơn”
Người xưa coi việc giáo dục con cái là trọng trách của cha mẹ. Nuôi con thì phải dạy, nuôi con mà không dạy thì không những nguy hại đến bản thân mà còn nguy hại đến người khác, và càng nguy hại hơn cho quốc gia. Sách giáo khoa dạy trẻ em xưa, nổi tiếng nhất là Tam Tự Kinh cũng có câu:
“Dưỡng bất giáo, phụ chi quá, Giáo bất nghiêm, sư chi đọa”
Nghĩa là:
“Nuôi con mà không dạy dỗ, đó là cái lỗi của người cha (bậc cha mẹ) Dạy dỗ mà không nghiêm, đó là sự lười biếng của người thầy”
Trình Di, bậc thầy Nho học đời Tống nói: “Niềm vui của đời người, không gì bằng đọc sách. Việc trọng yếu nhất của đời người, không gì bằng giáo dục con cái”. Cách nhìn nhận này của người xưa cũng có nhiều ý nghĩa thực tiễn, có giá trị trong xã hội ngày nay.
Người xưa coi giáo dục con cái là chức trách quan trọng của đời người. (Ảnh: youtube.com)
Giáo dục gia đình xưa chú trọng giáo dục chí hướng
Người xưa có câu: “Người không gây dựng được chí hướng, thì không phải là người”.
Có thể thấy người xưa vô cùng chú trọng gây dựng chí hướng cao xa cho con cái, làm một người chính trực. Người xưa không những nhận ra tầm quan trọng của lập chí mà còn đề ra lập chí thế nào là tốt nhất.
Dương Kế Thịnh đời Minh nói: “Con người cần gây dựng chí hướng… Chúng ta quyết tâm gây dựng chí hướng làm người quân tử. Không câu nệ chấp vào việc có làm quan hay không, thì mọi người đều kính trọng chúng ta. Do đó chúng ta việc đầu tiên là phải gây dựng được chí hướng”.
Có thể thấy người xưa không quá coi trọng làm quan, mà chú trọng phải hiểu rõ đạo lý, đầu tiên phải làm một người quân tử chính trực.
Cách nhìn nhận “gây dựng chí hướng” gắn liền với “làm người” như thế này, là cách nhìn hiếm có và quý báu trong xã hội ngày hôm nay. Chúng ta thường thấy các cha mẹ muốn con cái phải như thế nào, như thế nào, sau này phải trở thành chuyên gia gì, quan chức gì, hay bậc thầy gì…
Tất nhiên xã hội cần các loại chuyên gia, các loại quan chức, các loại thầy, nhưng để xây dựng một xã hội hòa ái, an toàn, thì cần phải có những con người lòng ôm chí lớn, chính trực, hiểu rõ đạo lý làm người.
Người xưa giáo dục con cái coi trọng giáo dục cần kiệm chất phác, liêm khiết
Lấy cần kiệm làm gốc, yêu tiếc từng manh áo bát cơm, đó là một phần trong giáo dục vỡ lòng về đạo đức nhân sinh. Người xưa tôn sùng cần la, tiết kiệm, đơn giản, chất phác, cho rằng: “Xem cái thường tình của con người, từ tiết kiệm sang xa hoa rất dễ, mà từ xa hoa về tiết kiệm thì rất khó”.
Rất nhiều danh nhân xưa đã để lại các gia huấn. Họ đều hiểu rõ “Thành công bởi cần kiệm, thất bại bởi xa hoa”, coi đơn giản tiết kiệm là một đức tính tốt đẹp trong cuộc đời.
Đạo lý này không có gì là thâm sâu huyền diệu, và cũng chẳng có gì mới lạ, nhưng ngày nay, đại đa số các bậc cha mẹ đều không biết. Ngày nay, thường nghe thấy các cha mẹ nói câu này “Tiền không tiêu cho con cái thì để làm gì?”. Ngay cả những bậc cha mẹ đang chịu cực khổ, tiền nong chẳng có gì gọi là dư dật cũng nghĩ như vậy, cho rằng: “Chúng ta hồi nhỏ khổ cực nhiều rồi, để cho con cái hưởng phúc tiêu pha nhiều một chút cũng không có gì là quá đáng”.
Chính vì có suy nghĩ như thế dẫn đến thực tế giáo dục gia đình của họ có rất nhiều người thất bại. Rất nhiều trẻ em và thanh thiếu niên hiện nay vung phí tiền bạc, quần áo mới mặc vài lần vất đi, làm giẻ lau, đồ ăn thừa thãi đổ đi, nhiều đồ còn chưa động đũa cũng đã đổ đi.
Ngược lại, những người khi còn nhỏ được tiếp thu giáo dục truyền thống thì đều hiểu và thực hiện tốt: “Mỗi bát cơm bát cháo, nên nghĩ có được không dễ. Sợi tơ, mảnh vải, thường niệm vật lực gian nan”.
Lấy cần kiệm làm gốc, yêu tiếc từng manh áo bát cơm, đó là một phần trong giáo dục vỡ lòng về đạo đức nhân sinh của người xưa. (Ảnh: wikipedia.org)
Ngoài ra, hiện nay có không ít người đã đánh mất đức tính truyền thống tốt đẹp, thường cho con cái hưởng thụ vật chất, vui chơi giải trí đắt tiền, coi đó là việc quan trọng, là phần thưởng cho con cái. Thực ra cứ như thế thì khi đứa trẻ lớn lên, chúng rất ích kỷ, các tố chất tâm lý, khả năng chịu đựng, ý chí đều rất yếu kém, như thế thì các khổ đau trong cuộc sống đang chờ đợi phía trước chúng.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến thanh thiếu niên ngày nay thường gặp các vấn đề về tinh thần, tâm lý, nhiều em đã trầm cảm, sinh bệnh, thậm chí tự sát, và nhiều em lại trở nên buông thả, cờ bạc, game, rượu, ma túy, đánh nhau, thậm chí phạm tội trộm cắp cướp giết…
Giáo dục gia đình xưa không chỉ tôn sùng cần kiệm, mà còn chú trọng giáo dục chính trực liêm khiết, coi trọng “Thanh bạch truyền gia” (Giữ thanh bạch làm báu vật truyền gia).
Người xưa tu dưỡng khổ luyện thành tài, tài đức song toàn, nhưng sống thanh bạch, cần kiệm, không tích trữ tiền bạc tài sản, không để lại tài sản cho con cháu, mà chú ý giáo dục con cháu có đức hạnh, có lối sống thanh bạch, cần kiệm, coi đó mới là báu vật gia truyền. Vì họ quan niệm, nếu con cháu cũng hiền tài, đức hạnh như họ thì còn cần tiền bạc tài sản làm gì? Vì tiền tài chỉ làm cho tổn hao ý chí, mài mòn chí hướng mà thôi. Còn nếu con cháu ngu dốt, kém đức hạnh, thì cũng để tiền bạc tài sản lại cho chúng làm gì? Vì tiền tài sẽ làm tăng thêm tội lỗi cho chúng.
Người xưa dạy con rất kỵ nuông chiều
Người xưa dạy con, coi trọng nhân từ yêu thương, hết sức tránh nuông chiều. Hàn Phi Tử nói: “Gia đình nghiêm khắc thì sẽ không có con cháu ngỗ ngược phạm tội. Mẹ hiền từ thì sẽ không có con bại hoại”. Tư Mã Quang nói: “Là người làm mẹ, không lo mình không đủ nhân từ, mà phải lo chỉ biết yêu thương mà không biết dạy dỗ con”.
Người xưa cho rằng, cha mẹ yêu thương con cần lý trí và có chừng mực thì mới có tác dụng tốt. Yêu thương con quá mức sẽ thành nuông chiều, sẽ khiến cho con cháu có tính bừa bãi phóng túng, kiêu ngạo, ích kỷ, rất nguy hại đến đường đời sau này của con, thậm chí lầm đường lạc lối. Do đó Yêu không được Chiều.
Về phương pháp giáo dục con của người xưa, thì bức thư Gia Cát Lượng gửi con “Thư răn dạy con” là ngắn nhất mà lại chứa đầy đủ nhất tư tưởng giáo dục gia đình của người xưa:
“Nết người quân tử, tĩnh để tu thân, kiệm dùng dưỡng đức.
Không đạm bạc chí chẳng sáng soi, không tĩnh tâm tiến xa chẳng nổi.
Học cần tâm tĩnh, tài cần phải học.
Không học, tài chẳng mở mang, không chí, chẳng thành nghiệp học.
Biếng nhác ắt chẳng thể tinh thông, nóng nảy sao tu thành tâm tính.
Tháng ngày vùn vụt, ý chí qua đi, thân đã già nua, chưa hiểu sự đời.