Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

THƯ GIÃN




KÍNH (GƯƠNG) ĐEO MẮT


Có một bác nhà quê dốt nát, thấy một ông cụ già hễ khi đọc sách, thì lại đeo kính vào mắt. Bác tưởng rằng đeo kính thì đọc được sách. Một hôm, bác ra tỉnh, vào ngay một hiệu để mua kính.

Bác giở một quyển sách ra, cầm trước mắt để thử kính (gương). Bác thử luôn đến năm bảy thứ kính, mà thứ nào bác cũng chê rằng xấu, không thể xem được sách. Nhà hàng lấy làm lạ, hỏi rằng: "Vậy ông có biết đọc không đã?" Người nhà quê gắt lên, trả lời rằng: "Ô hay! Nếu tôi mà biết đọc, thì hà tất tôi phải đến đây mua kính của bác." Nhà hàng phì cười, bảo rằng: "Đây tôi không có thứ kính nào đọc được sách cả. Ông muốn xem được sách, xin hãy về học quốc ngữ cho thông đã."


Giải nghĩa. - Nhà hàng = chỉ người bán kính. - Ô hay = hay chưa. - Hà tất = sao cần phải. - Thông = suốt, đây là nói học cho giỏi đã.


Tác giả : Trần Trọng Kim , Nguyễn văn Ngọc 
(Nguồn:  sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư )



LÀM THẦY, LÀM TRÒ

 Trong lớp học giờ Ðạo Ðức, thầy giáo giảng bài về công ơn thầy, cô. Thầy hỏi cả lớp: “Các em cho thầy biết một câu ca dao về người Thầy.”
Lớp im lặng.
Thầy mớm ý: “Câu này có hai chữ “Mày” và “Nên.” Các em cố lên nào.”
Lớp im lặng.
Thầy lại mớm ý: “Câu này có cả hai chữ “Không” và “Ðố.” Ráng lên mấy em.”
Lớp vẫn tiếp tục im lặng.
Thầy giáo điên tiết: “Câu này có sáu chữ, có cả hai chữ “Thầy” và “Làm.” Ðây là câu gì?”
Cuối lớp, một cánh tay rụt rè đưa lên: “Thưa thầy câu đó là “Làm Thầy Mầy Không Nên Ðố.”
Thầy giáo: “?!..?!”

Tác giả:  Lm. Nguyễn Thành Long (sưu tầm, phóng tác)



Tình yêu khó hiểu

Thằng nhóc 4 tuổi ngồi hí hoáy viết, bố hỏi:
Tình yêu khó hiểu
Ảnh minh họa
- Con trai làm gì thế?
- Dạ, con đang viết thư cho bạn gái.
- Hả? Con đã biết viết đâu.
- Thế bố nghĩ cô ấy biết đọc à? Đó là tình yêu, bố không thể hiểu được đâu.
Theo Datviet

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

PHIM KINH THÁNH

Những phim Kinh Thánh sẽ xuất hiện năm 2014
Trần Mạnh Trác



Trước một cao trào phim ảnh đang và sẽ trình chiếu trong năm 2014 này, người ta tự hỏi phải chăng Hollywood đã xếp sổ các loại phim giả tưởng về 'siêu nhân và siêu thú' (superhero and zombie) mà trở về với loại phim chủ đề Kinh Thánh đã từng làm mưa làm gió trên 'màn bạc' cách đây nửa thế kỷ chăng?

Hồi đó là lúc mà người ta đã chi ra hàng chục triệu (một số tiền rất lớn thời bấy giờ ) để sản xuất các phim 'vĩ đại' như Quo Vadis (1951 với Robert Taylor), The Ten Commandments (1956 Charlton Heston), Ben-Hur (1959 Charlton Heston), King of Kings (1961 Jeffrey Hunter), The Robe (1963 Richard Burton).

Năm 1988, cuốn phim The Last Temptation of Christ với nhiều 'pha cụp lạc khiêu dâm' đã bị giới Công Giáo tẩy chay và lỗ to. Từ đó phong trào làm 'phim đạo' cũng suy xụp dần.

Phải đợi tới năm 2004, phim The Passion of the Christ cuả Mel Gibson mới trở thành một 'phim đạo' đạt được thành công đáng kể, một phần là nhờ ở những chứng nhận từ những bộ mặt danh giá từ bên Tin Lành cũng như Công Giáo, như Mục Sư Billy Graham và nhiều đoàn thể Công Giáo.

Dựa trên kinh nghiệm cuả Mel Gibson, các nhà sản xuất như Warner Bros, Sony and Fox đã ve vãn giới khán giả 'có đạo' bằng cách thành lập các văn phòng liên lạc tôn giáo. Họ dùng nhiều học giả kinh thánh làm cố vấn về cốt chuyện và lời đối thoại, đồng thời họ gởi các 'màn diễn thử' tới các vị mục sư cuả các 'mega-church' (xứ đạo lớn) để xin thêm ý kiến nhiều tháng trước khi cuốn phim ra mắt.

Những sự ve vãn như thế đã mang lại một vài thành công đáng khích lệ, thí dụ như bộ 'trường thiên tiểu thuyết' (Mini Series) The Bible chiếu trên cable channel History đã thu hút trung bình 11.4 triệu khán giả mỗi buổi tối và trở thành 'show' được xem nhiều nhất năm 2013. (đã ra DVD với tựa đề 'The Bible: The Epic Mini Series', có thể mua ở Wal Mart với giá $39.96 trọn bộ )

Một phim khá thành công khác là "Maria di Nazaret" (đức Maria thành Nazareth) (2012) đã được nhập cảng vào Hoa Kỳ hồi tháng 8 năm 2013 và trình chiếu tại các cơ sở bảo trợ tư nhân, thường là từ các hội trường giáo xứ hay từ các rạp hát nhỏ được bao thuê, và sự đăng ký đã đầy kẹt cho đến tháng 9 năm 2014. Phim Maria di Nazaret là cuốn phim phát hành độc quyền tại Mỹ cuả Ignatius Press (cuả dòng Tên), sẽ có DVD một ngày gần đây.

Đoán trước trào lưu cuả khán giả đang mỗi ngày mỗi thiên về các chủ đề Kitô giáo, nhất là với hiện tượng Đức Giáo Hoàng Phanxicô thu hút nhiều chú ý từ mọi giới, Hollywood đang đua nhau dồn nỗ lực vào việc làm 'phim đạo'.

Số khán giả Kitô Giáo là một con số rất lớn, riêng ở Mỹ đã là 91 triệu người, do đó tại Mỹ đã xuất hiện những quảng cáo rất sớm và ào ạt, thí dụ cuốn phim Mary Mother of Christ đã dược cổ võ 12 tháng trước khi ra mắt.



Với một hình ảnh cuả một cái bóng mô tả một phụ nữ đội mũ che đầu, tay dang rộng đón nhận những ánh sáng từ trên trời, dòng quảng cáo không giấu diếm và thật là đơn giản: "Bạn sẽ tin."

Tấm bích chương còn nhấn mạnh: "Đây là những câu chuyên đời cuả Mẹ Maria, Thánh Giuse và Chúa Giêsu chưa từng được trình chiếu trên màn ảnh bao giờ", phần tóm lược giải thích thêm: "Dưới triều đại khủng bố của Hêrôdê, và với những khó khăn chưa từng thấy, cặp cha mẹ trẻ đã tìm đường sống qua một thời gian nguy hiểm nhất cuả lịch sử." Cuốn phim hứa hẹn "đây là bộ phim hoạt động dựa vào đức tin" - và những ai yếu lòng tin như thánh Thoma thì sẽ không còn sống trong nghi ngờ nữa.

Odeya Rush, nữ diễn viên Israel 16 tuổi đóng vai Mẹ Maria, Ben Kingsley (từng đóng vai Gandhi) đóng vai vua Hêrôdê, Julia Ormond đóng vai bà Isave và cố tài tử Peter O'Toole, vai ông già Simeon.

Nhưng trước cuốn phim Mary Mother of Christ, còn nhiều cuốn phim khác sẽ xuất hiện:

-Vào tháng 3, Russell Crowe sẽ xuất hiện trong phim Noah cùng với Emma Watson (từng đóng trong phim Harry Potter) và Sir Anthony Hopkins đóng vai thầy cả Methuselah. Người ta đã xây một con tàu Noah cho cuốn phim tại Long Island, New York.



Tuy nhiên, một số chiếu thử tại các cộng đoàn Kitô hữu ở Arizona, và cộng đoàn Do Thái ở New York, cho thấy kết quả đã gây ra một số tranh cãi. Cuốn phim có vẻ cho rằng cơn đại hồng thủy xẩy ra vì sự biến đổi khí hậu.

-Tiếp theo phim Noah là phim Exodus (Khởi Hành) cuả Sir Ridley Scott, kể chuyện ông Maisen đưa dân Do Thái vượt qua biển Đỏ. Christian Bale đóng vai Maisen, Sigourney Weaver đóng vai bà hoàng hậu cuả Pharaoh. Nhiều cảnh Ai Cập thời xưa đã được xây dựng ở niềm Nam nước Tây Ban Nha.

-Một cuốn phim nữa có tên là Gods and Kings cũng được đề xuất với Steven Spielberg làm đạo diễn, nhưng sau đó được trao cho Ang Lee, người đoạt giải Oscar cuả phim Life of Pi.

-Một phim tựa đề là Son of God (Con Thiên Chuá ) sẽ kể lại cuộc đời cuả Chuá Giêsu với tài tử người Bồ Đào Nha Diogo Morgado thủ vai chánh.

-Tài tử nổi danh Will Smith cũng chuẩn bị cho một cuốn phim dựa trên câu chuyện huynh đệ tương tàn giữa Cain và Abel.

-Và Brad Pitt cũng có tin đồn sẽ đóng vai Philatô trong một phim khác.

-Và thêm vào đó người ta đã đưa tiếng sẽ có phim Resurrection (Phục Sinh) với câu chuyện cuả một người lính Roma được phái đi điều tra về cái chết cuả Chuá Kitô. Chuyện phim sẽ là một câu chuyện bí ấn thuộc thể loại "Gladiator".

...

Cái lý do chính cuả hiện tượng Hollywood làm phim đạo là lý do tài chánh chứ không phải là lý do tôn giáo, là ý kiến cuả ông Phil Cooke, một nhà tư vấn giữa các nhà làm phim và các đoàn thể tôn giáo. "Câu chuyện đã xảy ra là họ đã hiểu rằng cách làm kinh doanh tốt nhất là phải coi trọng các Kitô hữu, vì đây là một thị trường thực sự lớn".

"Trong nhiều năm qua Hollywood đã hoài công tìm sự ủng hộ cuả các nhóm lợi ích đặc biệt, như là môi trường hoặc nữ quyền. Nhưng cuối cùng đã nhận ra rằng có tới 91 triệu người Kitô hữu ở Mỹ mà thôi. "

Còn ý kiến cuả các giới tôn giáo thì sao?

Ông Larry Ross, chuyên lo về việc ngoại giao cho các nhà lãnh đạo tôn giáo như Rick Warren và Billy Graham, cho biết: "Các vị Mục sư không đi vào chủng viện để học làm tiếp thị cho các cuốn phim", nhưng nếu bộ phim "có tính cách xây dựng; phản ánh niềm tin cuả cộng đoàn của họ" thì họ sẽ giới thiệu nó.

(Nguồn : vietcatholic.net)


Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

NĂM 2014- NĂM TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH





         “Tân Phúc-Âm-hóa” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8), nhưng là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”.[4] 
         Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.
        Công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đòi duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi bình diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.
        Chương trình canh tân đời sống đức tin cần được lồng vào trong tổng thể của kế hoạch mục vụ mà Hội Đồng Giám Mục trình bày trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”. Thư Chung ấy là chương trình hành động của Hội Thánh tại Việt Nam trong nhiều năm. Dựa trên định hướng căn bản này, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy cùng với chúng tôi thực hiện kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014-2016):
– Năm 2014: Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình;
– Năm 2015: Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn;
– Năm 2016: Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội.
......
(Trích THƯ CHUNG GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA  của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM  ngày 10/10/2013)

                                       




Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

CHUNG QUANH NGÀY LỄ HIỂN LINH


          1. Tên ngày lễ.

          Ngày xưa ta gọi lễ này là “Lễ Ba Vua” vì dựa vào việc 3 nhà bác học từ phương Đông đến triều bái Chúa Hài Nhi với ba thứ lễ vật là vàng, nhũ  hương và mộc dược, qua ba lễ vật này người ta cho rằng những vị này là thuộc hòang tộc và gọi họ là Vua. Gọi là Ba Vua vì chú trọng đến việc các vị đi tìm Chúa Hài Nhi, còn ngày nay chúng ta gọi là lễ “Hiển Linh” (Epiphania) vì chú trọng vào việc Thiên Chúa tỏ mình ra . Như vậy, Hiển Linh là việc Thiên Chúa biểu lộ mình ra cho dân ngọai, cho thế giới ngòai Do thái giáo.

          Vì lễ Hiển Linh mừng kính việc Đức Giêsu tự tỏ mình cho thế giới dân ngọai, nên một số quốc gia mừng lễ này còn trọng thể hơn lễ Giáng Sinh. Thực thế, lễ Hiển linh là lễ Giáng sinh dành cho dân ngọai.

          2. Các đạo sĩ.

          Đọc Tin mừng Thánh lễ hôm nay, chúng ta không thấy nói về vị vua nào cả, cũng không phải ba vua, mà chỉ thấy nói về các đạo sĩ (Magi) hay các nhà chiêm tinh.  Ngày xưa ở Trung đông, nhất là tại Ba tư, các vị chiêm tinh, hoặc các đạo sĩ, là những người trí thức, thường làm cố vấn cho các vua và chuyên nghiên cứu về khoa thiên văn. Vào thế kỷ thứ 4 và 5, truyền thống dân gian Tây phương tưởng tượng ra các nhà chiêm tinh là những vị vua. Đến thế kỷ thứ 7, tục truyền lại còn đặït tên cho họ là Melchior, Gaspard và Balthazar. Rồi đến thế kỷ 15, để muốn nói rằng các vị chiêm tinh tượng trưng cho tòan nhân lọai, dân gian còn xác định chủng tộc của họ: Melchior là người da trắng, Gaspard người da vàng, và Balthazar người da đen.

          Các nhà chiêm tinh tin rằng mỗi ngôi sao là dấu hiệu của một vị thần hay dấu hiệu của một vị vua đã được thần hóa. Do đó, khi khám phá ra một vì sao lạ, và khi đối chiếu với lời tiên báo trong sách Dân số :”Một vì sao xuất hiện từ nhà Gia-cóp, một vương trượng (vua) trổi dậy từ Israel”(Ds 24,17), các ông tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, bất chấp đường xa và nguy hiểm để thờ lạy Người.

          Con số các đạo sĩ (chiêm tinh) là bao nhiêu chúng ta không biết rõ. Do chi tiết ba thứ lễ vật ở câu Mt 2,11 mà từ xưa truyền thống vẫn cho là có 3 vị đạo sĩ; thực ra gốc từ không xác định như thế, mà chỉ ở số nhiều (có thể hơn 3 mà cũng có thể dưới 3). Căn cứ vào câu 1 và 2 các nhà chú giải cho rằng các vị này xét về tinh thần thì là những con người có tâm hồn khát khao tìm kiếm chân lý (Đấng Cứu Tinh) nhưng các vị cũng là các nhà chiêm tinh nhìn các vì sao mà biết có vua mới ra đời.

      3. Trên đường đi tìm Chúa Hài nhi.

          Nhà đại thiên văn Képler khám phá ra rằng vào năm Chúa Giáng sinh, có một hiện tượng bất bình thường xẩy ra giữa các vì sao. Ông nói về hai ngôi sao Jupiter và Saturn rằng :”Bình thường chúng vẫn quay cách đều nhau.  Năm đó chúng quay sáp lại gần nhau đến độ ánh sáng của ngôi sao này cộng hưởng ánh sáng của ngôi sao kia, tạo ra một luồng sáng khác thường và kéo dài đến cả mấy tháng”.  Phải chăng đó chính là ngôi sao lạ dẫn đường cho các đạo sĩ tìm ra Chúa Hài nhi ?

          “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông”(Mt 2,2).  Người xưa cho rằng ngày ra đời của một vĩ nhân thường được báo hiệu sự xuất hiện của các ngôi sao lớn. Các chiêm tinh gia thường nghiên cứu những chuyển động của các vì  tinh tú để đoán biết định mệnh con người. Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra  sự sinh hạ của Đấng Cứu thế, vua dân Do thái (Carôlô, Sợi chỉ đỏ B, tr 96).

          Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Ngài cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Belem để gặp Đấng Cứu tinh. Tuy thế, trên bước đường đi tìm kiếm, các đạo sĩ cũng gặp khó khăn, thử thách , nhất là khi ngôi sao dẫn đường vụt tắt ở Giêrusalem. Nhưng Chúa lại thương cho ngôi sao xuất hiện để hướng dẫn các ông đi triều bái Chúa Hài nhi.


         

          4Lễ vật dâng Chúa Hài Nhi.

          Thánh Matthêu viết :”Khi bước vào nhà và nhìn thấy Hài nhi cùng Đức Maria Mẹ Ngài, họ liền quì gối xuống tôn thờ Hài Nhi đọan mang các tặng vật ra gồm vàng, nhũ hương và mộc dược dâng lên Ngài”(Mt 2,11).

          Ông Seneca ngày xưa cho biết rằng chẳng ai được vào chầu vua  mà không có lễ vật. Các đạo sĩ cũng theo tập tục ấy, các vị đã dâng ba thứ lễ vật cao qúi xứng đáng với các vị vua và nó cũng có ý nghĩa tượng trưng đối với chúng ta ngày nay. Các vị đã dâng cho Chúa Hài Nhi :

          a) Vàng.

          Vàng là vua của mọi kim lọai xứng hợp với lễ vật con người dâng cho vua. Cũng vậy, Đức Giêsu là người “sinh ra để làm vua”, nhưng Ngài không cai trị bằng vũ lực nhưng bằng tình yêu, và Ngài cai quản lòng người  không từ ngai vàng mà từ thập giá. Vềø vương quyền của Đức Giêsu, thánh Phaolô có viết trong thư gửi cho tín hữu Eâphêsô :”Chúa Cha đã phục sinh Đức Kitô từ cõi chết và đặït Đức Kitô bên hữu Ngài trên thiên quốc. Đức Kitô cai trị trên vạn vật… Thiên Chúa đã đặt mọi sự dưới chân Đức Kitô” (Ep 1,20-22).

          b) Nhũ hương.

          Người xưa thường dùng nhũ hương trong việc thờ phụng. Hương và khói bay lên trời biểu tượng những lời ca tụng và cầu nguyện dâng lên các thần linh. Các Kitô hữu cắt nghĩa  tặng vật nhũ hương tượng trưng cho thiên tính của Đức Giêsu. Khi nói về thiên tính Đức Giêsu, trong thư gửi cho tín hữu Do thái, thánh Phaolô đã diễn tả như sau :”Chúa Giêsu phản chiếu sự chói lọi vinh quang của Thiên Chúa và là hình bóng bản thể của Thiên Chúa; Ngài lấy lời quyền phép của mình để nâng đỡ vạn vật”(Dt 1,3).

          c) Mộc dược.

          Mộc dược là hương liệu để xông hay ướp xác người chết trước khi an táng. Vì chết là thân phận của con người, nên các Kitô hữu thường cắt nghĩa mộc dược được tượng trưng cho nhân tính của Đức Giêsu. Khi bàn về nhân tính của Đức Giêsu trong thư gửi cho tín hữu Philipphê thánh Phaolô nói :”Chúa Giêsu dù luôn mang bản tính Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trở nên… như mọi người… Ngài hạ mình vâng phục đến nỗi chịu chết và chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).


          Hiện nay trong nhiều quốc gia, lễ Hiển linh được mừng long trọng hơn lễ Giáng sinh. Sở dĩ như thế là vì lễ Hiển linh là lễ Chúa Giêsu xuống thế và tỏ mình ra với dân ngoại. Sự che giấu đã được thố lộ, sự gì ẩn khuất đã được trình bầy. Lễ Giáng sinh và lễ Hiển linh là hai lễ song song. Cũng như lễ Giáng sinh mừng Đức Giêsu tỏ mình ra  đặc biệt với những người Do thái, thì lễ Hiển linh mừng việc Đức Giêsu tỏ mình ra đặc biệt đối với dân ngoại.  Vì thế, lễ này được gọi là “lễ của Chư Dân”.

          Ngày xưa, Chúa đã tỏ mình ra cho dân ngoại, ngày nay Chúa còn hiển linh cho chúng ta không ? Chắc chắn là còn, nhưng bằng những cách khác nhau và đơn sơ hơn  qua những dấu chỉ thông thường trong cuộc sống hằng ngày.  Chỉ cần có đức tin mới nhìn thấy chân lý, mới có được thái độ của ba nhà đạo sĩ là phủ phục thờ lạy và tiến dâng của lễ cho Chúa Hài nhi.


       


 5Món quà dâng Chúa của chúng ta hôm nay

          Các đạo sĩ đã dâng cho Chúa Hài nhi 3 lễ vật : vàng, nhũ hương và mộc dược, lễ vật chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Những lễ vật này chỉ là dấu hiệu biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tôn kính và yêu mến của họ đối với Chúa Hài nhi, còn phía chúng ta, Chúa cần những lễ vật cao qúi hơn, đó chính là tấm lòng chúng ta, cả con người chúng ta. Hãy dâng cho Chúa tất cả.

Truyện : Vị đạo sĩ thứ tư.

          Văn sĩ Koergensen, người Đan mạch, đã nghĩ ra một câu chuyện minh hoạ cho thấy rõ điều đó. Ông đã tưởng tượng ra một vị đạo sĩ thứ tư. Vị này đến gặp Chúa Giêsu Hài đồng sau ba vị kia. Gặp Chúa, nhưng ông rất buồn vì không còn gì để dâng tặng cho Ngài. Trước khi lên đường, ông đem theo ba viên ngọc qúi giá. Dọc đường, ông gặp một cụ già đói nghèo, ông tặng viên ngọc thứ nhất. Đi thêm một đoạn đường, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông lấy viên ngọc thứ hai  thương lượng với chúng để chuộc cô gái.  Cuối cùng, khi đến Belem, ông gặp một người lính do vua Hêrôđê sai đi để tàn sát các hài nhi, ông lấy viên ngọc thứ ba cho anh ta và thuyết phục anh ta từ bỏ hành động gian ác.
 Đến khi gặp Chúa Hài đồng, ông chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình. Nhưng thật lạ lùng, Chúa Giêsu đưa hai tay ra và mỉm cười nói với ông :
”Con đã dâng cho Ta món quà qúi giá nhất. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân”.


                                                                                             ( nguồn : simonhoadalat.com)

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

LỄ HIỂN LINH



Mời xem phim :  VỊ ĐẠO SĨ THỨ TƯ 
(xin bấm vào hàng số ở dưới để xem )
[1] [2] [3] [4] [final]


Đạo diễn: Michael Ray Rhodes
- Dựa trên tác phẩm của Henry van Dyke
- Diễn viên chính : Martin Sheen, 
  Alan Arkin and James Farentino ...
- Sản xuất: Mỹ, 30.03.1985
- Thời lượng 72 phút




DIỄN NGUYỆN GIÁNG SINH :
 VỊ ĐẠO SĨ THỨ TƯ

Tác giả:  Lm. Inhaxio Trần Ngà


Ý Chính:
Phục vụ người khác
là phụng sự Chúa Giê-su.
Lời dẫn: Theo như Tin Mừng thuật lại thì khi Chúa Giê-su sinh ra tại Bê-lem, có ba nhà đạo sĩ theo dấu sao lạ tìm đến thờ lạy và dâng lễ vật: vàng, nhủ hương và mộc dược lên Chúa  Hài  Nhi.
Tuy nhiên, văn sĩ Johannes Joergensen, người Đan-mạch, cho rằng tiếp sau ba vị đạo sĩ kia, còn có một vị thứ tư cũng đã theo dấu sao lạ tìm đến thờ lạy Chúa  Hài Nhi.
Vị đạo sĩ thứ tư đó là ai? Và lễ vật ông ta dâng cho Chúa  Hài Nhi là những gì?
Giờ đây, chúng tôi kính mời quý ông bà và anh chị em đồng hành với vị đạo sĩ thứ tư nầy để cùng  đến thờ lạy và dâng lễ vật lên cho Chúa Hài Nhi.

MÀN I:
GẶP GỠ CHÚA GIÊ-SU

NHÂN VẬT:
  • Nạn nhân
  • Vị đạo sĩ
Sân khấu bố trí cảnh hoang vu, đèn mờ tối, tiếng gió vi vu rờn rợn, một nạn nhân đang nằm rên rỉ:
Nạn nhân: “Ô ô ô i i!…  Ô ô ô i i!… Lạy Trời, tôi chết mất… Ôi! Cứu tôi… Ô ô ô i i!…
Vị đạo sĩ thứ tư bước ra, lắng tai nghe ngóng:
Đạo sĩ: “Ờ, mà hình như có tiếng ai đang rên rỉ đâu đây thì phải... Nghe như tiếng ma rên quỷ hờn. Đây thật là vùng thâm u đáng sợ. Ta phải đi nhanh thôi!…”
Nạn nhân: “Ôi! Cứu tôi… Ô ô ô i i!…”
Nhà đạo sĩ thứ tư chợt nhận ra nạn nhân đang rên rỉ:
Đạo sĩ: “Ờ kia rồi ! Một nạn nhân đang rên siết.”
Ông lại gần, quỳ xuống bên nạn nhân. Người bị nạn ngước đôi mắt van nài:
Nạn nhân: “Xin thương cứu tôi!… cứu tôi!.. Tôi chết mất!… Ôi… khát quá… khát quá!…”
Đạo sĩ: “Được rồi… được rồi… Nhưng tại sao anh lại ra nông nổi nầy?” Rồi lục tìm trong hành tranh, kiếm bình nước đưa cho nạn nhân uống.

Nạn nhân (rên rỉ và thều thào) : “Cướp… bọn cướp… chúng lột hết tài sản của tôi rồi đánh tôi nhừ tử… chúng suýt giết tôi…”
Đạo sĩ (đứng lên): Như thế nầy nhé: Ta đang có việc phải đi ngay… (nhìn quanh lo ngại)  vả lại nơi đây… nơi đây âm u hoang vắng quá. (tiếng rừng âm u) Ta muốn lên đường triều yết một vị thiên vương vừa giáng thế. Ta không thể chần chừ được… (tiếng nạn nhân rên rỉ). (đạo sĩ tự nhủ:) Nhưng bỏ đi ngay thì cũng không đành… (Cúi xuống nạn nhân) Thôi được, ta sẽ giúp anh…
          Rồi ông lấy dầu xoa bóp cho nạn nhân, lấy vải buộc các vết thương (nhạc êm đềm thương xót)
Đạo sĩ: “Thật là quân vô nhân đạo, cướp của người ta chưa đủ hay sao mà lại còn muốn hại người ta nữa... Hừ ! Biết đến bao giờ hoà bình và công lý mới ngự trị trên thế gian!” Rồi nói với nạn nhân: “Nơi đây vắng vẻ quá! Ta sẽ đưa anh về quán trọ rồi sẽ lo liệu cơm cháo thuốc men cho anh… Cố lên nào! Cố lên đi! Đứng lên… đứng lên… Có vậy chứ!..”
Nhà đạo sĩ dìu anh đi với mình, lê từng bước thật vất vả. Cuối cùng ông đành cõng anh ta vào bên trong. (nhạc u buồn)

¯ ¯ ¯

MÀN HAI:
TIẾP RƯỚC CHÚA GIÊ-SU

NHÂN VẬT:
  • Chủ quán
  • Hai tôi tớ
  • Nhà đạo sĩ
  • Nạn nhân
Trời về đêm. Tiếng nhạc buồn hiu hắt… Chủ quán xoay bấc cho đèn sáng hơn rồi cầm chổi quét bàn ghế, sửa soạn đón khách…
Chủ quán: “Đã lâu rồi quán mình vắng khách… Không có khách thì lấy đâu ra lợi nhuận để nuôi sống gia đình. Mấy hôm nay có ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời, sáng rực cả vùng trời đêm. Hy vọng đây là điềm lành, may ra nhờ cơ hội nầy mà mình làm ăn phát đạt. Nghe đâu sự xuất hiện của ngôi sao nầy ứng với việc hạ sinh của một vị thiên vương…”
          Có tiếng vị đạo sĩ gọi vào:
Đạo sĩ: (vọng từ xa): “Tới rồi… tới rồi… rán lên… rán lên!… (gọi lớn tiếng): “Chủ quán ơi! Chủ quán! Làm ơn giúp tôi một tay đi!”
Chủ quán (Nét mặt hân hoan): “Đúng là ngôi sao mang lại điềm lành: ta sắp có khách đến trọ.” Rồi nói vọng ra: “Dạ, có tôi!” và hối hả đi ra. Bất chợt ông sửng sốt trước người khách bất ngờ.
Chủ quán (nhìn thấy có người khách đang bế một người bị nạn tiến vào, kinh ngạc thốt lên): “Trời ơi! Sao vậy nè!”
Đạo sĩ: “Bọn cướp đã trấn lột hết của cải anh ta trên quãng đường vắng, lại còn đánh đập, đâm chém anh ta đến trọng thương. Tôi thấy anh ta nằm thoi thóp bên đường không ai cứu chữa nên mới đưa về đây.”
Chủ quán: (Ra chiều ái ngại, không muốn tiếp) “Nhưng thưa ngài, xin ngài thông cảm cho, tôi đâu có phải là thầy thuốc. Quán của tôi cũng không phải là trạm cấp cứu hay phòng điều trị… Xin ngài vui lòng đưa bệnh nhân đi nơi khác, tôi không dám nhận đâu.” (khoa tay lắc đầu )
Đạo sĩ: “Anh ta bị đánh trọng thương, lại bị mất quá nhiều máu. Nếu không kịp thời cứu chữa, tính mạng ắt sẽ không an toàn. Xin ông… xin ông mở rộng lòng thương…”
Chủ quán: (Hơi cau có) “Nhưng thưa ngài, tôi đã nói với ngài…”
Đạo sĩ: (năn nỉ) “Xin ông đừng từ chối. Ai có lòng thương xót, kẻ ấy sẽ được xót thương; ai gieo mầm phúc đức mai sau sẽ gặt dồi dào ân huệ. Vả lại, tôi sẽ không để ông chịu thiệt đâu mà!”
Chủ quán giúp dìu nạn nhân vào nhà, đặt lên chõng
Đạo sĩ: “Nầy ông! Xin ông hãy cho tôi tớ mời gấp thầy thuốc về đây đi”.
Chủ quán: “Nhưng thưa ngài, quán trọ tôi rất nghèo…”
Đạo sĩ: “Được rồi… được rồi… Xin ông đừng lo, tôi đã có cách… À…Nầy chủ quán, cách đây không lâu, ta thấy một vì sao chói lọi xuất hiện từ phương đông, kinh nghiệm lâu năm cho ta biết đó là điềm báo có một vì vua rất cao sang xuất hiện. Vì thế ta vội cất bước lên đường tìm đến triều bái vị vua nầy. Ta có mang theo lễ vật cao quý nhất để dâng ngài, đó là… đó là hai viên kim cương quý giá. (lấy viên kim cương long lanh ra, chủ quán trố mắt nhìn) Nhưng tiếc thay, vì cuộc hành trình quá dài, tiền bạc mang theo đã cạn. Bây giờ ta không còn tiền bạc để chăm lo chữa trị cho nạn nhân nầy, vậy ta trao viên kim cương nầy cho ông… coi như…” (đưa cho chủ quán)
Chủ quán (rất đổi ngạc nhiên): “Trao cho tôi ư !? Thật vậy sao? Ngài không đùa đó chứ?
Đạo sĩ: “Ta nói nghiêm túc đó, không phải chuyện đùa đâu. Ta trao viên kim cương quý báu nầy cho ông… với điều kiện ông phải tận tuỵ chăm lo cơm cháo thuốc men cho anh ta cho đến khi bình phục hoàn toàn.”
Chủ quán (vồn vã): “Thưa được. Tôi sẵn sàng, sẵn sàng... Tôi sẵn sàng chăm lo cho anh ta chu đáo …(cất giọng) còn hơn là chăm lo cho ông bà cha mẹ của tôi…” Rồi quát tôi tớ: “Tụi bây đâu, sao đứng như trời trồng vậy. Hãy mau mau đi mời danh y bậc nhất về điều trị cho anh ta! Các ngươi không thấy anh ta đã kiệt sức rồi sao”
Có tiếng vọng của tôi tớ : “Dạ, dạ…con đi ngay.”
Chủ quán (quay về phía người bị nạn, giả bộ tỏ ra thương cảm): “Ôi! Thật tội nghiệp cho anh. Nhưng hãy yên tâm. Đi đâu không biết chứ đã vào đây là anh sẽ được lo chu đáo. Chỉ nay mai là bình phục thôi mà!
Đạo sĩ (nắm tay nạn nhân cách trìu mến): “Anh nè… Tôi có việc phải đi gấp. Anh cứ ở lại đây cho đến khi bình phục. Mọi phí tổn tôi sẽ lo liệu cho anh”. Rồi quay sang chủ quán: “Còn ông, tôi gửi gắm anh bạn cho ông. Ông hãy lo cho anh ta thật chu đáo như cho chính bà con ruột thịt của tôi. Bây giờ tôi phải lên đường gấp cho kịp với ba người bạn đồng hành. Họ cùng hẹn tôi lên đường triều bái vị vua cao cả mới hạ sinh, giờ đây chắc họ đã vượt xa tôi cả mấy chục dặm đường rồi. Thôi tạm biệt! Mai mốt… mai mốt tôi về tôi sẽ gặp lại ông.”
Chủ quán: “Xin ngài an tâm. Bái biệt ngài. Chúc ngài thượng lộ bình an.”
Đạo sĩ: “Thôi, tôi phải đi đây! Tạm biệt” Quay sang nạn nhân: “Tạm biệt người anh em”.
Đạo sĩ (bước ra bên ngoài, tự nhủ): “Thế là mất đứt một viên kim cương quý giá. Mất đi một lễ vật quý báu tiến dâng vị ấu chúa  mới giáng sinh. Nhưng dù sao, ta không thể làm khác được… không thể làm khác được…”
Nhà đạo sĩ bước đi trong tiếng nhạc hân hoan.

¯ ¯ ¯

MÀN 3

CỨU GIÚP CHÚA GIÊ-SU

           NHÂN VẬT:
  • Người mẹ ẵm con
  • Viên sĩ quan và hai người lính
  • Đạo sĩ

Cảnh xảy ra tại Bê-lem. Âm thanh ồn ào hỗn độn, tiếng lính tráng quát tháo, tiếng la khóc ồn ào…Một người lính đi qua sân khấu công bố sắc lệnh của vua Hê-rô-đê.
“A-lô! Alô ! Hoàng đế Hê-rô-đê truyền lệnh, dân thành Bê-lem hãy lắng tai nghe: Tất cả mọi trẻ nam trên toàn cõi Bê-lem từ hai tuổi trở xuống phải bị giết ngay không thương tiếc để khỏi di hoạ về sau. Alô ! alô!” (lặp lại hai lần)
Có tiếng trẻ khóc, tiếng các người mẹ kêu la, tiếng quát tháo om sòm của lính. Sân khấu vắng lặng… Một bà mẹ bồng con chạy trốn. Đến giữa sân khấu thì dáo dác tìm đường. Từ hậu trường có tiếng hô: “Đứng lại! Đứng lại! Đừng hòng thoát khỏi tay ta !” Rồi viên sĩ quan và tên lính từ hai hướng sân khấu chạy lại.
Người lính I: (Giơ tay nắm tóc người mẹ) “Mẹ con nhà nó đây rồi! Đứng lại ! ”
Còn tên lính thứ hai hung hãn giật đứa bé khỏi tay người mẹ rồi rút gươm toan giết đứa bé. Đứa bé khóc thét lên. Người mẹ chồm tới giành lại đứa con.
Người mẹ: “Trả con tôi lại cho tôi. Nó có tội tình gì mà các người giết nó! Hãy trả lại cho tôi”
Viên sĩ quan: “Lệnh vua đã truyền, bà không nghe sao? Bà có điếc không?”
Người mẹ xông vào giành lại đứa con. Viên sĩ quan nắm hai cánh tay giữ bà lại. Bà mẹ vùng vẫy van lơn:
Người mẹ: “Không! Không! Không ai được quyền giết con tôi! Nó là trẻ thơ vô tội. Nó vô tội, nó có làm gì đâu mà các ông đòi giết nó! Tôi van lạy các ông. Trăm lạy các ông. Hãy trả nó lại cho tôi! (khóc) Đừng giết con tôi. (khóc) Ôi! Con ôi là con… (khóc nức nở) con ôi… con ôi…”
Viên sĩ quan: “Ta chỉ biết thi hành lệnh vua ban, đừng có già hàm, già họng mà chết cả mẹ lẫn con bây giờ”
Người lính lại đưa gươm lên định chém đứa bé, người mẹ ôm chầm lấy chân người lính, gào lên:
Người mẹ: “Đừng! Đừng giết con tôi! Tôi van lạy các ông. Hãy trả nó lại cho tôi! Hãy trả nó lại cho tôi!”
Đang khi đó thì vị đạo sĩ thứ tư xuất hiện, dõng dạc hô lên.
Đạo sĩ: “Hãy dừng tay lại!”
Viên sĩ quan: “Ông là ai mà dám ngang nhiên cản trở công việc của chúng tôi?”
Đạo sĩ: “Tôi lên tiếng nhân danh lòng nhân đạo, tôi phải nói… tôi phải nói lên tiếng nói của lương tâm. (gằn giọng) Bộ các người không có trái tim sao?  Không còn lòng nhân ái nữa hay sao mà lại làm điều ngược với luân thường đạo lý như vậy?”
Có tiếng đọc lệnh vua ban hành vang lên từ hậu trường: “A-lô! Alô ! Hoàng đế Hê-rô-đê truyền lệnh, dân thành Bê-lem hãy lắng tai nghe: Tất cả mọi trẻ nam trên toàn cõi Bê-lem từ hai tuổi trở xuống phải bị giết ngay không thương tiếc để khỏi di hoạ về sau. Alô ! alô!”
Người lính: “Nhà ngươi hãy căng tai mà nghe cho rõ. Hãy để yên cho chúng ta thi hành mệnh lệnh. Nếu cản trở, thì hãy liệu hồn…”
Đạo sĩ: “Không lẽ mọi người cứ để… cứ để cho bất công và tội ác mặc sức hoành hành như thế nầy sao? Hừ! Thật là dã man và vô nhân đạo… (tỏ vẻ suy  nghĩ) Ừ… Thôi được! Tôi có cái nầy xin trao đổi với các anh (đưa viên kim cương ra). Nếu các anh trả đứa bé lại cho mẹ nó, tôi sẽ tặng các anh bảo vật nầy.”
Viên sĩ quan: “Gì vậy? Kim cương!  Kim cương thật sao?” Rồi mân mê viên kim cương trong tay ra chiều thích thú. Tên lính kia cũng tiến lại xem.
Đạo sĩ: “Đúng! Đó là viên kim cương quý nhất vùng Trung Đông. Tôi trao cho các anh, nhưng với điều kiện là các anh hãy trao đứa trẻ lại cho mẹ nó.”
Viên sĩ quan (bỏ viên kim cương vào túi) : “Được rồi. (hất hàm bảo người lính) trao đứa bé cho mẹ nó. (rồi quay sang người mẹ) Ta tha cho ngươi làm phúc. Khôn hồn thì cút cho nhanh!” Người mẹ ẵm con chạy biến, hai tên lính cũng đi vào bên trong, để lại một tràng cười đắc thắng.
Đạo sĩ: “Thế là hết. Giờ đây ta chỉ còn lại hai bàn tay trắng. Ba người bạn đồng hành thì đã vượt trước ta cả chục dặm đường và giờ đây chắc họ đã giáp mặt vị vua mới sinh. Còn ta, phải tụt lại đằng sau, trong tay chẳng còn gì để tiến dâng vị vua mới giáng thế. (ngừng một lát ra chiều suy nghĩ) Nhưng dù sao một khi đã cất bước lên đường thì cũng phải đi cho đến nơi đến chốn. Ta cứ tiếp tục cuộc hành trình, cứ đến gặp Ngài để bày tỏ tấm lòng thành của ta.”
Rồi vị đạo sĩ lại tiếp tục cất bước lên đường. (nhạc êm đềm thanh thoát: Ave Maria của Schubert))


MÀN KẾT
Phục vụ người khác
là phụng sự Chúa Giê-su

Vũ kịch có nội dung như sau: Thiên thần báo tin cho mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi, ba vua cũng đến thờ lạy và dâng lễ vật (lễ vật còn lưu lại bên máng cỏ). Sau đó, ba vua lên đường trở về nhà (đi vào trong). Đức mẹ ẵm con trên tay, đi đi lại lại hát ru con, thánh Giu-se sửa soạn dọn dẹp hang đá. Rồi Mẹ đặt con vào máng cỏ, quỳ bên Con. Ngay lúc đó, vị đạo sĩ tiến vào quỳ bên máng cỏ, trầm ngâm nhìn ngắm Chúa  Hài Nhi. Đạo sĩ bái lạy rồi giang hai tay thưa với Chúa  Hài Nhi.
Đạo sĩ : “Lạy Chúa  Hài Nhi, Chúa  biết vì sao tôi đến muộn và giờ đây tôi chỉ còn hai bàn tay trắng, chẳng còn gì để hiến dâng Ngài. Tôi chỉ biết dâng lên Ngài trái tim tôi, tấm lòng quý mến của tôi.”
Đáp lại món quà cao quý và thiêng liêng của vị đạo sĩ thứ tư, Chúa Hài Nhi mỉm cười với ông.
Chung quanh hang đá, thiên thần như muốn nói thay Chúa Hài Nhi bằng cách hát lên một bài ca tụng lòng nhân ái: “Có bao giờ con thấy Chúa đến xin con đôi chút cơm thừa…” (hay một bài có ý nghĩa tương tự). Rồi trên nền nhạc đó, lời Chúa (Tin Mừng Mt 25, 34-40) vọng lên:
34 Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. 35 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; 36 Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." 37 Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; 38 có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? 39 Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?" 40 Đức Vua sẽ đáp lại rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."

Cũng trên nền nhạc đó, Đức Mẹ trao Chúa Hài Đồng cho vị đạo sĩ thứ tư bồng ẵm. Chúa hôn lên hai má của vị đạo sĩ như muốn nói lên lòng biết ơn về hai viên kim cương mà vị đạo sĩ đã dâng cho Ngài qua việc cứu giúp hai người bị nạn. Rồi tất cả đi vào bên trong.

Lm Inhaxiô Trần Ngà


(Nguồn : conggiaovietnam.net)

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

HỌP MẶT CỰU HT HTDC PHỦ CAM , HUẾ TẠI SÀI GÒN NGÀY 02/01/2014







Hai mươi cựu huynh trưởng HTDC  Phủ  Cam , Huế từ An giang , Cần thơ  , và Sài gòn  quây quần trong nhà giáo lý  38 , Kỳ đồng , Q3 , SG (Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp) để tham dự thánh lễ đầu năm mới  do hai Cha Quang  (Dòng Chúa Cứu Thế) và Cha Tiến Lộc(người cộng tác thân cận của cha Anton Bùi Hữu Ngạn thủa xưa) đồng tế .

Trong lần họp mặt đầu năm lần này , Cha Tiến Lộc cũng như toàn thể ACE HT HTDC Phủ Cam , nhất trí làm thỉnh nguyện thư lên Đức Cha Tổng Giám mục Địa Phận Huế  thỉnh nguyện xin tái lập lại Phong trào HTDC  tại Thừa Thiên , Huế . 


Cùng chụp chung tấm ảnh kỷ niệm với Cha Quang và Cha Tiến Lộc sau thánh lễ . Ngoài 20 cựu HT HTDC Phủ Cam , còn có A. Ninh cựu HT HTDC gx Hòa hưng, Sài Gòn , A. Châu  gx An Hòa (cũ) , Đà Nẵng . 



Cùng Cha Quang hát bài ca tạm biệt trước khi ra về . Hẹn gặp nhau vào lần tới với một khí thế mới .
( từ bên trái qua : Cha Quang ; Anh Cửu  thay mặt A. An Liên đoàn trưởng LĐ HTDC Tabore Phủ Cam , Huế ; A. Ninh gx Hòa Hưng; Anh Bưu ; và các chị  cựu HT )



Sau khi tạm biệt  ở đây , các anh chị Phủ Cam , Huế còn đến gia đình anh An , cựu Liên đoàn trưởng  để thăm hỏi  , do hiện nay đã nhiều tuổi và sức khỏe  rất  yếu .








Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

MÙA SAO SÁNG


Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người thiện tâm

        Đó là lời hát của Ca đoàn Thiên thần vang vọng từ chốn cửu trùng trong Đêm Hồng Ân, khi Vương Nhi Giêsu mặc xác phàm và hạ sinh nơi hèn hạ nhất. Một Vua Nghèo nhưng lại đầy quyền lực và giàu có nhất. Ngài muốn dạy chúng ta bài học sống khó nghèo, sống khiêm nhường, sống yêu thương, thực sự quan tâm chăm sóc và chia sẻ với những người nghèo hèn nhất trong xã hội. Chính Ngài là Vua Nghèo, nói theo “văn chương” thì Ngài là “Đệ nhất Hàn vương”.
          Lời ca của ca đoàn thiên thần có một triết lý. Vế thứ nhất “Vinh Danh Thiên Chúa trên trời” là điều tất nhiên, nhưng vế thứ nhì là điều chúng ta cần suy nghĩ: “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Ai thiện tâm thì mới được Chúa thương, tức là được bình an tâm hồn. Bình an tâm hồn và bình an thể lý khác nhau. Có bình an thể lý chưa chắc có bình an tâm hồn. Có thể cuộc sống của bạn bị bắt bớ, bị tù đày, bị phiền phức nhiều thứ,… nhưng có điều chắc chắn là tâm hồn bạn được bình an. Đó mới là bình an đích thực cần thiết. Bằng chứng: Các vị tử đạo không hề bình an về thể lý vì họ bị voi giày, ngựa xéo, lăng trì, xử trảm,… và chết thê thảm, nhưng tâm hồn họ luôn bình an – vì họ làm đúng lương tâm, đúng đường lối Chúa. Chính Chúa Giêsu cũng đã bị khinh miệt và chết thảm thương bằng hình phạt tồi tệ nhất là chết nhục nhã trên thập giá.

ÁNH SÁNG ĐỨC TIN
         Chắc hẳn nhiều người đã quen thuộc ca khúc “Mùa Sao Sáng” của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, một ca khúc thường được nghe vang lên trong mùa Giáng Sinh, ca khúc này có lời thoại mở đầu: “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao”.
        Ca khúc Mùa Sao Sáng có giai điệu vừa đẹp vừa nhẹ nhàng, nghe như thánh ca, và ca từ cũng đẹp: “Một mùa sao sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời. Người hẹn cùng tôi ngày về khi đất nước yên vui. Quỳ lạy Mẹ Maria, lòng Mẹ từ bi bao la, tấu khúc nhạc lên xin ơn trên ban cho nhà Nam. Từ mùa Đông trước qua mùa Đông tiếp theo sau này, người bạn còn đi mà niềm tin vẫn thắm trên môi… Lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao… Lạy Mẹ đồng trinh ban ơn, người Việt cùng thương nhau hơn, đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”.
          Không biết ông có niềm tin Kitô giáo hay không, nhưng các ca từ ông viết nghe đầy “chất” Công giáo. Phải chăng ông là người ngoại đạo nhưng luôn hướng về Chúa, luôn tin rằng “lớp lớp đoàn chiên quyết sáng danh Chúa trên trời cao” và “đất nước này đây sáng đức tin Chúa trên trời cao”?
Đó là Ánh Sáng Đức Tin soi đường dẫn lối và đó cũng là một cách rao truyền Ơn Cứu Độ, thật là “đẹp thay trên đồi núi, bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng Thiên Chúa ngươi là Vua hiển trị” (Is 52:7). Chúng ta luôn sống “đời vọng” vì vững lòng tin tưởng: “Trước mặt muôn dân, Đức Chúa đã vung cánh tay thần thánh của Người: ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta, người bốn bể rồi ra nhìn thấy” (Is 52:10).
         Trong niềm tin tưởng, tác giả Tv 98 đã cất cao lời tuyên xưng: “Hát lên mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã thực hiện bao kỳ công. Người chiến thắng nhờ bàn tay hùng mạnh, nhờ cánh tay chí thánh của Người. Chúa đã biểu dương ơn Người cứu độ, mặc khải đức công chính của Người trước mặt chư dân; Người đã nhớ lại ân tình và tín nghĩa dành cho nhà Ít-ra-en. Toàn cõi đất này đã xem thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Tung hô Chúa, hỡi toàn thể địa cầu, mừng vui lên, reo hò đàn hát. Đàn lên mừng Chúa khúc hạc cầm dìu dặt, nương khúc hạc cầm réo rắt giọng ca. Kèn thổi vang xen tiếng tù và, tung hô mừng Chúa, vị Quân Vương!” (Tv 98:1-6).
        Thật hạnh phúc khi chúng ta được kế thừa đức tin Công giáo! Ánh sáng đức tin đã, đang và sẽ chiếu sáng dẫn đường cho chúng ta suốt cuộc lữ hành trần thế.

ÁNH SÁNG YÊU THƯƠNG
          Giáng sinh là Mùa Sao Sáng vì là Mùa Bình An, Mùa Yêu Thương, Mùa Hồng Ân Cứu Độ, đồng thời là Lễ Hội không chỉ riêng ai – cả Kitô giáo và không Kitô giáo. Nhịp điệu Giáng sinh có gì đó rất độc đáo, khiến lòng người vừa lắng đọng vừa chộn rộn. Nỗi mong chờ càng rút ngắn, lòng người càng nôn nao, vì không ai lại không hạnh phúc khi được gặp “người mình yêu quý nhất”, huống chi được gặp chính Đấng Cứu Độ, vị đại ân nhân của mình.
       “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1:1). Thánh Tử là Chúa Giêsu, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Đấng Yêu Thương (1 Ga 4:8). Thánh Phaolô nói rằng Ngài phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật Ngài là Đấng tẩy trừ tội lỗi, Ngài ngự bên hữu Đấng Cao Cả trên trời, Danh hiệu Ngài được thừa hưởng, cao cả hơn danh hiệu các thiên thần bao nhiêu thì Ngài lại trổi hơn họ bấy nhiêu (Dt 1:3-4).
        Thiên Chúa chưa hề nói cùng vị thiên thần nào như đã nói với Đức Giêsu: “Con là Con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con. Ta sẽ là Cha Người, và chính Người sẽ là Con Ta” (Dt 1:5). Khi đưa Trưởng Tử Giêsu vào thế giới loài người, chính Thiên Chúa cũng đã xác định:“Mọi thiên thần của Thiên Chúa phải thờ lạy Người” (Dt 1:6).
       Chúa Giêsu là Trưởng tử, là Huynh trưởng, là “Đại ca”, là Sư phụ, là Mặt Trời Công Chính. Huấn giáo của Ngài giản dị mà thâm thúy: Yêu thương. Tất cả chỉ tóm gọn là mến Chúa và yêu người. Nghĩa là yêu thật, phải chứng tỏ bằng hành động chứ không nói suông. Thánh Giacôbê xác định: “Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Lời nói gió bay, làm mới tin! Người ta rất sợ những người mang họ “hứa”. Dụ ngôn Phú hộ và Ladarô (x. Lc 16:19-31), nghe riết có thể hóa… nhàm, nhưng đó là chuyện có thật chứ không là tiểu thuyết hoặc viễn tưởng. Chúa rất thực tế khi thể hiện yêu thương, vì Ngài bảo không thể cho hòn đá khi người ta cần bánh hoặc cho con rắn khi người ta cần cá (Mt 7:9).
        Thấy dân chúng lầm than vất vưởng, Ngài đã chạnh lòng thương (x. Mt 9:35-37), và rồi Ngài đã thể hiện tình thương ấy rất nhiều lần và rất cụ thể. Ngài đã tỏa Ánh sáng Yêu thương ở bất cứ nơi nào Ngài tới, chúng ta là môn đệ của Ngài thì cũng phải chiếu Ánh sáng ấy cho hết mọi người. Thời kỳ cuối này, Chúa không sai ai mà đích thân Ngài đến để minh chứng tình yêu, để ban phát Lòng Thương Xót, đồng thời Ngài cũng thúc giục mọi người noi gương thực hiện Lòng Thương Xót với tha nhân như Ngài vậy.

ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ
        Thánh Gioan viết: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa. Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, không có Người thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1:1-3). Ngôi Lời đó đã hóa thành nhục thể, mặc xác phàm, trở nên hoàn toàn giống phàm nhân – trừ tội lỗi. Thật vậy, “điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1:4-5). Chính Ngôi Lời Nhập Thể là Ánh sáng muôn dân, là Ánh sáng Cứu độ.
        Trước 6 tháng, Thiên Chúa đã sai Gioan đến để làm chứng về Ánh sáng, dù ông không là ánh sáng, mà chỉ để mọi người nhờ ông mà tin (x. Ga 1:6-8). Thánh Gioan là VIP vì ông là người tiền phong mở đường cho Chúa Giêsu, là ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước, và là nhịp cầu nối kết Cựu ước với Tân ước. Trọng trách của ông đặc biệt, nhưng ông biết có một “siêu VIP” là Đức Kitô, như ông giải thích: “Người đến sau tôi nhưng trổi hơn tôi, vì Người có trước tôi” (Ga 1:15).
         Phúc âm hôm nay nhắc đi nhắc lại 5 lần danh từ “Ngôi Lời” và 8 lần danh từ “ánh sáng”. Thánh Gioan biết rõ Ngôi Lời cực kỳ quan trọng, vì “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (x. Ga 1:9).
         Tuy nhiên, 9 người 10 ý, Phúc âm gọi là “lúa và cỏ lùng”, người đời gọi là “vàng thau lẫn lộn”. Thế nên, “Ngài ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1:10-11). Đó là lời cảnh báo!
Vì vậy, những ai có Ánh sáng Đức tin và Ánh sáng Yêu thương thì mới xứng đáng lãnh nhận Ánh sáng Cứu độ. Chính Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng ta đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Đồng thời tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Và nếu chúng ta đã “được cho không thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10:8). Tất cả là Hồng ân (Rm 4:16) nên tất cả phải “miễn phí” theo Tôn Ý Chúa Giêsu.
         Thánh “phượng hoàng” Gioan nói: “Ai giữ lời Ngài dạy, nơi kẻ ấy tình yêu Thiên Chúa đã thực sự nên hoàn hảo” (1 Ga 2:5). Quả thật, “bạn rất khôn ngoan vì bạn mang Chúa Giêsu đến cho những tâm hồn chưa nhận biết Ngài” (Cn 11:30). Giáng sinh là Nhập thể, là lên đường, là vào đời, là ra khơi…

         Lạy Chúa, xin thương xót chúng con là những tội đồ (Lc 18:9-14) vì lâu nay còn câu nệ đủ thứ, chưa thực sự thể hiện Ánh sáng Yêu thương như Ngài dạy. Xin giúp chúng con mạnh dạn dấn thân thực sự vì sáng Danh Chúa chứ không vì ý đồ riêng tư nào khác, để chúng con khả dĩ tận hưởng bình an đích thực. Chúng con cầu xin nhân Danh Chúa Hài Đồng. Amen.

TRẦM THIÊN THU