Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

GIẢI ÐÁP MỘT SỐ THẮC MẮC VỀ "XƯNG TỘI"


                                                 Linh Mục Giuse Vũ Thái Hoà

Linh mục Vũ Thái Hoà hiện cư ngụ tại Pháp, hiện nay đang dạy phụng vụ trong đại chủng viện Rennes và trách nhiệm Ủy Ban Phụng Tự của địa phận Rennes là tác giả của bài viết này, bài đã được đăng trên nguyệt san Dân Chúa Âu Châu. Xin chân thành cám ơn tác giả linh mục Vũ Thái Hoà đã gởi bài và đồng ý cho Lavang Parish webmaster đăng bài viết này.


Chúng ta nhận xét thấy rằng, ngày nay, người công giáo ngày càng ít đi "xưng tội", nhất là ở các xứ tây phương. Họ không đi vì nhiều lý do khác nhau. Lý do quan trọng nhất, có lẽ họ chưa hiểu tường tận ý nghĩa và sự phong phú của bí tích Hòa Giải. 

Trong tinh thần ấy, tôi xin mạn phép trả lời và giải thích vắn tắt một vài lý do mà một số tín hữu thường đưa ra, cũng như giải đáp một số thắc mắc về vấn đề "xưng tội".

1. Tại sao bí tích Hòa Giải có nhiều cách gọi khác nhau?

Qua dòng lịch sử, bí tích Hòa Giải được gọi nhiều cách khác nhau:
Thống hối, hoặc sám hối, nhấn mạnh đến hành vi hối cải của tội nhân, chê ghét tội đã phạm và dốc lòng không phạm tội nữa;
Xưng tội chú trọng tới việc thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục (chúng ta thường dùng danh từ này để chỉ định bí tích);
Giải tội nhấn mạnh việc tha tội. 
Như thế, mỗi tên gọi chỉ nhấn mạnh đến một trong bốn điểm chính của bí tích Hòa Giải: 
- Thống hối ăn năn, 
- Xưng tội với một linh mục. 
- Lãnh ơn tha tội. 
- Làm việc đền tội. 
Hiện nay Giáo Hội không gọi "bí tích giải tội" nữa, nhưng là "bí tích Hòa Giải". Việc đổi danh từ làm nới rộng ý nghĩa sâu xa của bí tích này. Thật vậy "hòa giải" chỉ rõ mục đích và kết quả của bí tích: tình thân hữu được nối lại giữa Thiên Chúa và con người. Ðiều quan trọng nhất của bí tích không phải đặt nơi việc xưng tội nhưng là để Thiên Chúa hòa giải với chúng ta. Nói cách khác, đi "xưng tội" không phải để gây ra ơn tha thứ của Chúa, nhưng để lãnh nhận ơn tha thứ đó. Dụ ngôn người con hoang đàng trong Phúc Âm (Lc 15,11-32) cho chúng ta hiểu hơn về điểm này: trước khi người con thứ hối hận trở về, người cha, với đôi tay luôn mở rộng, hằng kiên nhẫn ngóng chờ con trước ngõ. Chúng ta đi "xưng" tội, nhưng đồng thời, chúng ta "tuyên xưng" lòng nhân từ vô biên của Chúa và niềm hân hoan khôn xiết của Ngài khi được ôm chúng ta chặt hơn nữa trong vòng tay của Ngài. 
Nhưng "hòa giải" cũng có nghĩa là sự hối cải trở về của chúng ta để làm hòa với Thiên Chúa, với tha nhân và với chính bản thân mình. Như thế, để có bí tích Hòa Giải, phải có hai đối tượng: tội nhân sám hối trở về, và Thiên Chúa là Ðấng giàu tình thương và tha thứ.

2. Bí tích là gì?

Các bí tích là những dấu chỉ hữu hiệu (efficace, efficacious) của ân sủng do Chúa Kitô thiết lập và được trao ban lại cho Giáo Hội để ban sự sống thiêng liêng cho chúng ta.
Không những bí tích là dấu chỉ hữu hình diễn tả ân sủng vô hình, mà bí tích còn chuyển thông ân sủng nữa, vì chính Chúa Kitô hành động trong bí tích nhờ Thánh Thần của Ngài. Ðể lãnh nhận bí tích, cần phải có đức tin, đồng thời, cử hành bí tích là diễn tả và nuôi dưỡng đức tin. 
Chúa Kitô đã không ấn định rõ ràng con số 7 của bí tích. Nhưng theo dòng thời gian, trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần và với tư cách là người quản lý trung thành các Mầu nhiệm của Thiên Chúa (1 Cr 4,1), Giáo Hội đã xác định 7 bí tích: Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể, Hòa Giải, Xức dầu bệnh nhân, Truyền chức thánh và Hôn phối. 
Qua bí tích Hòa Giải, Thiên Chúa ban ơn tha tội, ban ơn hòa giải : hòa giải với Ngài, với Giáo Hội, với mọi người và với chính bản thân mình.

3. "Tôi ngại đi xưng tội vì lần nào cũng xưng tội đó hoài!"

Câu nói này nhắc lại cho chúng ta bốn điểm chính của bí tích Hòa Giải: thống hối ăn năn, xưng tội với một linh mục, lãnh ơn tha tội, làm việc đền tội.
Trước khi vào tòa cáo giải, chúng ta nhìn nhận những tội đã phạm, ăn năn sám hối và dốc lòng thay đổi đời sống: dốc quyết chừa cải những tội lỗi đã phạm cũng như đền bù những thiệt hại gây nên cho người khác bằng những quyết định cụ thể, chứ không bằng những quyết định hoặc lời hứa chung chung, không rõ rệt. 
Nhưng đàng khác, chúng ta cũng đừng ngạc nhiên khi chúng ta thường tái phạm những tội đó.Chúa có muốn chúng ta phạm thêm tội mới đâu! Ngay khi chúng ta thành thật sám hối và dốc lòng chừa, chúng ta vẫn còn tái phạm, vì tính xác thịt yếu đuối luôn ở trong chúng ta. Thánh Phaolô có nói: "Vẫn biết rằng Lề Luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho tội lỗi. Thật vậy, tôi làm gì tôi cũng chẳng hiểu: vì điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét, thì tôi lại cứ làm." (Rm 7,14-15). Ơn Chúa không hủy bỏ bản tính loài người của chúng ta, nhưng làm cho nó được hoàn thiện, với điều kiện là chúng ta chấp nhận biến đổi tâm hồn chúng ta. Vả lại hoán cải là một hành trình dài, và phải luôn tin vào tình thương tha thứ của Chúa.

4. "Tôi không biết phải nói gì với vị linh mục"
Muốn đi "xưng tội", nhưng phải có tội mới đi xưng được! Tuy thế, một số người mất cảm thức về tội lỗi của mình và khó nhận định được thế nào là tội, hoặc ngược lại, kiếm đủ mọi lý do để biện hộ hoặc tương đối hóa những hành động xấu của mình. 
Tội là sự bất tuân lề luật Chúa. Tội chỉ định một thái độ tiêu cực đối với Chúa, với tha nhân và với chính bản thân mình. Tội không chỉ là một loạt các điều vấp phạm "trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót" (Kinh Sám Hối đầu Thánh lễ), nhưng là sự phủ nhận tình yêu thương, đóng kín trái tim mình đối với người khác, hoặc sự đồng lõa của mình vào các sự dữ. 
Tội nặng hay nhẹ tùy theo nhân đức bị lỗi phạm, nhất là đức ái; cũng tùy theo nhiều yếu tố: hoàn cảnh, ý muốn của mình, trình độ vô ơn với Thiên Chúa, gây gương xấu cho kẻ khác. 
Tội trọng là tội trực tiếp nghịch với cùng đích đời sống siêu nhiên là đức ái. Thành tội trọng khi việc làm tự bản chất là một lỗi nặng, và cố tình phạm khi hoàn toàn hiểu biết. 
Ðể thành tội trọng, phải có đủ cả ba điều kiện này: 1. tự bản chất là một lỗi nặng (giết người, ngoại tình, làm chứng gian...); 2. ý thức rõ ràng về lỗi nặng đó; 3. cố tình phạm.

Bình thường, các hối nhân xét mình và xưng tội dựa theo mười Ðiều Răn Ðức Chúa Trời, sáu Ðiều Răn Hội Thánh và bảy mối tội đầu như: "Con phạm Ðiều Răn thứ... (bao nhiêu) lần". Ngoài cách trên đây, mỗi người có thể đến gặp linh mục để kiểm điểm đời sống mình và nhìn nhận những tội lỗi, thiếu xót của mình một cách chi tiết và cụ thể đối với Chúa, đối với tha nhân và đối với chính bản thân mình. 
Sau đây là những gợi ý giúp xét mình: 
- Ðối với Chúa:
- Là người tín hữu, có bao giờ ta quan tâm đến việc học hỏi giáo lý, Kinh Thánh để hiểu biết và giải thích cho những người khác biết thế nào là Thiên Chúa, và Chúa Giêsu Kitô là ai?
- Có bao giờ ta biết dành chút thời giờ trong tuần hoặc vài phút giây trong ngày để cầu nguyện không? 
- Việc thờ phượng Thiên Chúa: ta có siêng năng lãnh nhận các bí tích là nguồn ơn siêu nhiên (Thánh lễ, bí tích Hòa Giải...)? 
- Khi gặp những hoàn cảnh khó khăn, thất bại... ta có biết sống tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa không? Hay ngược lại, ta chỉ biết than thân trách phận, nguyền rủa xúc phạm thánh danh Chúa? 
- Nơi trường học hay tại sở làm, ta có xấu hổ hoặc sợ người khác biết mình là Kitô hữu không? 
- Thay vì tin Thiên Chúa là tình yêu, là Ðấng cứu độ duy nhất và là sức mạnh trong cuộc sống, ta có mê tín tin dị đoan không: bói bài, tử vi...?

- Ðối với tha nhân:
- Thay vì yêu thương và giúp đỡ, ta có sống bất công và làm thiệt hại kẻ khác: ăn cắp, nói dối, vu khống làm thiệt hại thanh danh người khác? 
- Thay vì yêu thương và tha thứ, ta có làm cho gia đình, bạn bè hoặc những người khác đau buồn bởi sự khắc nghiệt, nóng giận, ghen tương hoặc bất trung của mình, không chịu tha thứ hoặc làm hòa với người khác, đã vậy ta còn thù oán hoặc chúc dữ họ? 
- Ta có làm gương xấu do lời nói hoặc việc làm của mình? 
- Ta có từ chối hoặc tránh giúp đỡ người khác do lòng ích kỷ hoặc keo kiệt của mình? - Ðối với chính bản thân 
- Ta có hay kiêu căng, tự phụ không? 
- Ta có thiếu sót bổn phận của mình trong gia đình, trong cộng đoàn...? 
- Ta có rượu chè say sưa, ăn uống không điều độ làm hại đến sức khỏe của mình? 
- Ta có phạm lỗi đức thanh sạch không? 
Mỗi người diễn tả theo cách của mình chứ không theo khuôn mẫu nhất định nào cả. Một số người có thói quen tốt trước khi xét mình, là đọc một đoạn Kinh Thánh, nhất là trong Phúc Âm (chẳng hạn: Mt 5,1-12: Tám mối Phúc thật; Mt 25,31-46: ngày Phán xét chung; Lc 15,11-32: dụ ngôn người con hoang đàng; Lc 19,1-10: Chúa vào nhà ông Gia-kêu; Ga 8,3-11: Chúa tha tội người đàn bà ngoại tình...). Lời Chúa soi sáng và giúp chúng ta nhận ra thân phận yếu đuối cũng như tội lỗi của mình.

5. "Tôi không cảm thấy cần đi xưng tội" 

Ðã có biết bao lần chúng ta không muốn làm một điều gì đó, mặc dù biết rằng điều đó rất cần thiết cho chúng ta! Chẳng hạn, ai cũng biết rằng, đối với một số bệnh nào đó, việc giải phẫu là điều cần thiết, nhưng có bệnh nhân nào hân hoan khi chuẩn bị lên bàn mổ không? 
Vai trò của việc "xưng tội" trước tiên không phải để thỏa mãn việc giải bày tâm sự những chuyện thầm kín. Vai trò của linh mục rộng lớn hơn vai trò của một thầy thuốc. Thật vậy, trong bí tích Hòa Giải, linh mục vừa là người mà chúng ta đến xin ơn tha thứ của Chúa, vừa là chứng nhân lòng nhân từ vô biên của Chúa. Qua trung gian của vị linh mục, ơn Chúa tuôn ban cho chúng ta. 
Giáo Hội không thể tha tội, hòa giải nếu hối nhân không tự thú các tội lỗi của mình bằng một cách nào đó. Do đó, việc xưng tội trở nên một đòi hỏi cần thiết để lãnh ơn tha tội.

6. "Tôi cảm thấy xấu hổ khi đi xưng tội"

Bí tích Hòa Giải đâu có phải là một hình phạt hoặc một việc hèn hạ mà Chúa bắt chúng ta chịu trước khi tha tội cho chúng ta đâu! Vả lại, chúng ta đừng quên rằng linh mục cũng là một người tội lỗi, và cũng thường đi "xưng tội". Khi thưa với linh mục là thừa tác viên của Chúa Kitô, điều chính yếu không đặt nơi bảng liệt kê các tội, nhưng là, qua các tội đã phạm, sự khiêm tốn nhìn nhận thân phận tội lỗi của chúng ta và dốc lòng không tái phạm. 
Lời thú nhận cá nhân trong tòa cáo giải rất cần thiết và quan trọng. Thật vậy, để lãnh ơn tha thứ, điều trước tiên là chúng ta phải xin! Làm sao có thể tha thứ cho một người nếu người đó không xin lỗi, nếu người đó không nghĩ rằng những việc mình làm là xấu xa, dù bị người khác trách cứ? Hơn nữa, thú tội lỗi của mình là hành vi của một người tự do: "Tôi không làm điều tôi mong muốn" hoặc "Tôi lại làm điều tôi không muốn" (Rm 7,15). Ðàng khác, khi biết rằng vị linh mục giữ bí mật tuyệt đối những gì ngài nghe trong tòa cáo giải, chúng ta sẽ không ái ngại khi xưng tội với ngài, là người đại diện của Chúa.

7. "Mỗi năm xưng tội một lần là đủ rồi!"

Một số người nghĩ rằng đi « xưng tội » thường xuyên là điều vô ích, vì họ lý luận như sau: sau khi xưng tội, tâm hồn họ lại bị hoen ố trở lại vì tiếp tục phạm tội. Nhưng tại sao họ không đi xa hơn trong lý luận của họ: tắm mỗi ngày làm chi vô ích, vì ngày hôm sau thân thể họ cũng sẽ dơ trở lại? Cũng thế, có ai cho rằng giặt quần áo thường xuyên làm chi cho uổng công, uổng tiền, vì một thời gian sau quần áo cũng sẽ bị dơ bẩn trở lại? 
Ðúng thế, Giáo Hội chỉ buộc đi "xưng tội" (xưng các tội trọng) mỗi năm ít nhất là một lần. Nhưng Giáo Hội mạnh mẽ khuyến khích các tín hữu năng đi lãnh nhận bí tích Hòa Giải, mặc dù chỉ xưng các tội nhẹ thường ngày. Thật vậy, giữ tâm hồn thanh sạch một thời gian, dù ngắn ngủi, cũng là việc nên làm, cũng như việc tắm rửa thân thể của mình. Hơn nữa, những ai hiểu ý nghĩa của bí tích Hòa Giải và năng lãnh bí tích này đúng cách sẽ thấy rằng bí tích Hòa Giải không những rửa sạch mọi vết nhơ của tội lỗi, mà còn giúp đào tạo lương tâm của chúng ta, giúp chúng ta chống lại những khuynh hướng xấu, để Chúa Kitô chữa lành chúng ta, và giúp chúng ta tiến bộ trong đời sống thiêng liêng.

8. "Tôi thích xưng tội tập thể hơn!"

Có ba hình thức lãnh bí tích Hòa Giải : 
- Xưng tội riêng
Việc xưng tội cá nhân và lãnh ơn tha tội sau đó vẫn là cách thức và hành vi phụng vụ thông thường trong Giáo Hội (ngoại trừ những ai không có khả năng về thể lý và tinh thần). Bởi vì, trong bí tích này, cũng như trong tất cả các bí tích, chính Chúa Kitô hành động, và Ngài nói với từng tội nhân: "này con, tội con đã được tha" (Mc 2,5). Ngài là thầy thuốc cúi xuống trên từng bệnh nhân cần đến Ngài để được chữa lành. Do đó, việc xưng tội cá nhân là hình thức có ý nghĩa nhất của việc hòa giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội. 

- Nghi thức sám hối chung và xưng tội riêng
Ngoài việc xưng tội riêng, Giáo Hội khuyến khích tín hữu tham dự các nghi thức sám hối chung của cộng đoàn. Cộng đoàn cùng cử hành Phụng vụ Lời Chúa, nghe giảng, xét mình và sám hối chung, nhưng sau đó mỗi người sẽ xưng tội riêng với linh mục. Việc cử hành này làm nổi bật tính chất Giáo Hội của bí tích Hòa Giải và vai trò quan trọng của Lời Chúa: 
- Tính chất Giáo Hội được nổi bật: mọi tội lỗi, dù là tội cá nhân, đều ảnh hưởng đến cộng đoàn và Giáo Hội là Nhiệm Thể Chúa Kitô. Nghi thức chung làm nổi bật ơn tha thứ và hòa giải với Thiên Chúa và với Giáo Hội. 
- Vai trò quan trọng của Lời Chúa: sau công đồng Vaticanô II, Giáo Hội muốn nhấn mạnh vai trò chính yếu của Lời Chúa trong việc cử hành các bí tích. Trong việc cử hành bí tích Hòa Giải, nhất là trong việc xưng tội riêng, Lời Chúa thường bị quên lãng hoặc coi nhẹ. Kinh Thánh mạc khải Thiên Chúa luôn yêu thương con người và biểu lộ ơn tha thứ của Ngài trong Chúa Kitô. Lời Chúa là ánh sáng hướng dẫn đường đi và đổi mới cuộc đời chúng ta. 

- Xưng tội và giải tội tập thể
Việc xưng tội và giải tội tập thể chỉ được áp dụng trong những trường hợp khẩn thiết, chẳng hạn khi có nguy cơ tử vong mà không có đủ linh mục hoặc không đủ thời giờ để xưng tội riêng; hoặc trong những hoàn cảnh khó khăn, như trong lao tù, trại tị nạn... khiến giáo dân không thể Rước Lễ. 
Mặc dù có số đông đảo tín hữu tụ tập nhân dịp các lễ trọng, hoặc nhân dịp các cuộc hành hương, vẫn không được coi là trường hợp khẩn thiết (Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 1483). 
Có những trường hợp khẩn thiết khác tùy theo quốc gia, vùng hoặc địa phận, nhưng chỉ có các giám mục mới có thẩm quyền quyết định mà thôi. 
Trong trường hợp cho phép, và để bí tích được thành hiệu, phải hội đủ các điều kiện sau đây: 
- Ăn năn sám hối và dốc lòng chừa 
- Cương quyết sửa chữa lại gương xấu và đền bù những thiệt hại cho người khác 
- Phải xưng lại các tội trọng, khi có dịp xưng tội riêng sau đó, mà mình không thể xưng hôm đó được. 
Việc xưng tội riêng sau đó không đòi hỏi việc ban ơn tha tội lại, vì Chúa đã tha tội trong nghi thức giải tội tập thể rồi. Mục đích của việc xưng lại các tội trọng là được sự giúp đỡ hữu hiệu và thiết thực của vị linh mục.

9. "Tôi thích xưng tội trực tiếp với Chúa"

Trong cuộc đời truyền giáo của Chúa Giêsu, Ngài đã tha tội và hòa giải. Ngài đến để tha thứ và chữa lành chứ không phải để xét đoán và lên án. Hơn nữa Ngài muốn sự tha thứ và hòa giải này luôn hiện hữu giữa lòng nhân loại và qua mọi thời đại. Do đó, trước khi lên trời, Chúa Giêsu nói với các tông đồ: "Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con". Rồi, Ngài thổi hơi và phán bảo các ông: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha" (Ga 20,21-23). Khi tuyên bố điều đó, Chúa Giêsu trao quyền tha tội, quyền hòa giải cho các tông đồ. 
Ngay sau lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, các tông đồ bắt đầu thực hiện những gì Chúa Giêsu giao phó. Mặc dù có nhiều thay đổi về hình thức trong lịch sử của Giáo Hội, ơn tha thứ của Chúa luôn được trao ban qua bí tích Hòa Giải và qua Giáo Hội, nghĩa là qua trung gian của một vị giám mục, là người kế vị các tông đồ, hay một vị linh mục, là người cộng tác của hàng giám mục. 
Vì vậy, việc thống hối nhìn nhận tội lỗi của mình vẫn chưa đủ, mà còn phải thành thật thú tội với linh mục có thẩm quyền đại diện Chúa Kitô và Giáo Hội để xét xử, hướng dẫn và ban ơn tha tội (Giáo luật, số 959). Như thế linh mục ban phép giải tội không do danh nghĩa cá nhân nhưng nhân danh Chúa Ba Ngôi: "Vậy cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Chân phước Isaac de l'Étoile, vào thế kỷ XII, đã nhấn mạnh đến sự hiệp thông mật thiết giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài trong việc tha tội: "Giáo Hội không thể tha tội nếu không có Chúa Kitô, và Chúa Kitô không muốn tha tội nếu không có Giáo Hội" (xem Tông thư "Hòa giải và Thống hối", của ÐGH Gioan-Phaolô II, công bố ngày 2-12-1984, lời chú thích số 162).


Một số câu hỏi khác thường được đặt ra


Câu hỏi 1: Xưng tội qua điện thoại hoặc qua Internet (E-mail, Net Meeting...) có được không?
Trả lời: Trong chúng ta, có ai đã nhờ bác sĩ khám bệnh hoặc chữa một vết thương qua... điện thoại hoặc Internet chưa? Hay là, mời bạn bè ăn cơm... hàm thụ? 
Như đã đề cập trong mục số 8 ("Tôi thích xưng tội tập thể hơn", phần "xưng tội riêng"): bí tích Hòa Giải cần có cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa hối nhân và vị linh mục. Vì sau khi nghe xưng tội, linh mục sẽ hướng dẫn, giúp đỡ người đó một cách hữu hiệu và thiết thực. Sau đó, linh mục giơ tay lên ban ơn tha thứ và hòa giải nhân danh Chúa Kitô: "Vậy Cha tha tội cho con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Chính Chúa Kitô hiện diện và hành động trong bí tích này, dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Như thế, bí tích Hòa Giải đòi hỏi sự hiện diện của linh mục và hối nhân. Do đó, không thể lãnh bí tích Hòa Giải qua điện thoại hoặc qua Internet được.

Câu hỏi 2: Khi xưng tội, có thể nhờ người thông dịch được không?
Trả lời: Là người Việt Nam tại hải ngoại, chúng ta thường gặp khó khăn về vấn đề ngôn ngữ, rồi lại ở xa Cộng đoàn Việt Nam, hiếm có dịp gặp linh mục Việt Nam để xưng tội. 
Giáo Hội cho phép xưng tội với sự giúp đỡ của thông dịch viên, với điều kiện phải tránh mọi lạm dụng, gương xấu, và người thông dịch phải giữ bí mật tuyệt đối (Giáo luật, số 990 và 983).

Câu hỏi 3: Có thể xưng tội bằng tiếng Việt với một linh mục ngoại quốc được không?
Trả lời: Nếu không găp được linh mục Việt Nam để xưng tội thì có thể nhờ thông dịch viên (xem Câu hỏi 2 trên đây). Có cách khác, là nhờ người quen viết trên giấy một câu bằng tiếng Anh, Pháp, Ðức, v.v... Ðại khái nội dung như sau: "Con không biết nói tiếng Anh (Pháp, Ðức...). Xin Cha cho phép con xưng tội bằng tiếng Việt". Rồi trao cho linh mục ngoại quốc khi vào xưng tội, và xưng tội bằng tiếng Việt. Sau đó Cha "tây" sẽ ban phép giải tội cho mình. Thiên Chúa thấu hiểu tâm hồn chúng ta và sẽ tha thứ mọi tội lỗi chúng ta. Về việc đền tội, chúng ta có thể đọc kinh, cầu nguyện, làm việc bác ái, và đền bù những thiệt hại đã gây nên cho kẻ khác. 
Giáo Hội chỉ cho phép xưng tội theo cách thức này trong những trường hợp khẩn cấp để tránh những lạm dụng. 
Theo luật của Giáo Hội, các tín hữu buộc đi xưng các tội trọng ít nhất mỗi năm một lần, nếu không, sẽ không được rước Mình Thánh Chúa, trừ khi người đó có lý do nghiêm trọng để rước lễ và không thể gặp một cha giải tội. Trong trường hợp này, người đó phải thành tâm thống hối và dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể (Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, số 1457; Giáo luật, số 916 và 989). 
Như thế, Giáo Hội chỉ buộc xưng các tội trọng trước khi lên Rước Lễ. Nếu chỉ phạm các tội nhẹ thường ngày, thì chỉ cần ăn năn tội rồi lên Rước Lễ, không buộc phải xưng tội trước. 

***

Ðể kết luận, tôi xin mượn lời kêu mời của thánh Phaolô: "Nhân danh Ðức Kitô, chúng tôi nài xin anh em hãy hòa giải với Thiên Chúa" (2 Cr 5,20). Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta trở về với Ngài, như người cha kiên tâm ngóng đợi người con hoang đàng trở về, để ban ơn tha thứ, ơn hòa giải và ơn bình an trong tâm hồn.
Ước mong tất cả anh chị em tín hữu biết tìm ra lại ý nghĩa phong phú của bí tích Hòa Giải là nguồn sức thiêng liêng, là "thuốc bổ" cho đời sống đức tin của chúng ta, cũng như niềm vui được tha thứ, niềm hân hoan được Thiên Chúa yêu thương.


(Nguồn : lavangparish.org)

Thứ Tư, 8 tháng 1, 2014

THƯ GIÃN




KÍNH (GƯƠNG) ĐEO MẮT


Có một bác nhà quê dốt nát, thấy một ông cụ già hễ khi đọc sách, thì lại đeo kính vào mắt. Bác tưởng rằng đeo kính thì đọc được sách. Một hôm, bác ra tỉnh, vào ngay một hiệu để mua kính.

Bác giở một quyển sách ra, cầm trước mắt để thử kính (gương). Bác thử luôn đến năm bảy thứ kính, mà thứ nào bác cũng chê rằng xấu, không thể xem được sách. Nhà hàng lấy làm lạ, hỏi rằng: "Vậy ông có biết đọc không đã?" Người nhà quê gắt lên, trả lời rằng: "Ô hay! Nếu tôi mà biết đọc, thì hà tất tôi phải đến đây mua kính của bác." Nhà hàng phì cười, bảo rằng: "Đây tôi không có thứ kính nào đọc được sách cả. Ông muốn xem được sách, xin hãy về học quốc ngữ cho thông đã."


Giải nghĩa. - Nhà hàng = chỉ người bán kính. - Ô hay = hay chưa. - Hà tất = sao cần phải. - Thông = suốt, đây là nói học cho giỏi đã.


Tác giả : Trần Trọng Kim , Nguyễn văn Ngọc 
(Nguồn:  sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư )



LÀM THẦY, LÀM TRÒ

 Trong lớp học giờ Ðạo Ðức, thầy giáo giảng bài về công ơn thầy, cô. Thầy hỏi cả lớp: “Các em cho thầy biết một câu ca dao về người Thầy.”
Lớp im lặng.
Thầy mớm ý: “Câu này có hai chữ “Mày” và “Nên.” Các em cố lên nào.”
Lớp im lặng.
Thầy lại mớm ý: “Câu này có cả hai chữ “Không” và “Ðố.” Ráng lên mấy em.”
Lớp vẫn tiếp tục im lặng.
Thầy giáo điên tiết: “Câu này có sáu chữ, có cả hai chữ “Thầy” và “Làm.” Ðây là câu gì?”
Cuối lớp, một cánh tay rụt rè đưa lên: “Thưa thầy câu đó là “Làm Thầy Mầy Không Nên Ðố.”
Thầy giáo: “?!..?!”

Tác giả:  Lm. Nguyễn Thành Long (sưu tầm, phóng tác)



Tình yêu khó hiểu

Thằng nhóc 4 tuổi ngồi hí hoáy viết, bố hỏi:
Tình yêu khó hiểu
Ảnh minh họa
- Con trai làm gì thế?
- Dạ, con đang viết thư cho bạn gái.
- Hả? Con đã biết viết đâu.
- Thế bố nghĩ cô ấy biết đọc à? Đó là tình yêu, bố không thể hiểu được đâu.
Theo Datviet

Thứ Ba, 7 tháng 1, 2014

PHIM KINH THÁNH

Những phim Kinh Thánh sẽ xuất hiện năm 2014
Trần Mạnh Trác



Trước một cao trào phim ảnh đang và sẽ trình chiếu trong năm 2014 này, người ta tự hỏi phải chăng Hollywood đã xếp sổ các loại phim giả tưởng về 'siêu nhân và siêu thú' (superhero and zombie) mà trở về với loại phim chủ đề Kinh Thánh đã từng làm mưa làm gió trên 'màn bạc' cách đây nửa thế kỷ chăng?

Hồi đó là lúc mà người ta đã chi ra hàng chục triệu (một số tiền rất lớn thời bấy giờ ) để sản xuất các phim 'vĩ đại' như Quo Vadis (1951 với Robert Taylor), The Ten Commandments (1956 Charlton Heston), Ben-Hur (1959 Charlton Heston), King of Kings (1961 Jeffrey Hunter), The Robe (1963 Richard Burton).

Năm 1988, cuốn phim The Last Temptation of Christ với nhiều 'pha cụp lạc khiêu dâm' đã bị giới Công Giáo tẩy chay và lỗ to. Từ đó phong trào làm 'phim đạo' cũng suy xụp dần.

Phải đợi tới năm 2004, phim The Passion of the Christ cuả Mel Gibson mới trở thành một 'phim đạo' đạt được thành công đáng kể, một phần là nhờ ở những chứng nhận từ những bộ mặt danh giá từ bên Tin Lành cũng như Công Giáo, như Mục Sư Billy Graham và nhiều đoàn thể Công Giáo.

Dựa trên kinh nghiệm cuả Mel Gibson, các nhà sản xuất như Warner Bros, Sony and Fox đã ve vãn giới khán giả 'có đạo' bằng cách thành lập các văn phòng liên lạc tôn giáo. Họ dùng nhiều học giả kinh thánh làm cố vấn về cốt chuyện và lời đối thoại, đồng thời họ gởi các 'màn diễn thử' tới các vị mục sư cuả các 'mega-church' (xứ đạo lớn) để xin thêm ý kiến nhiều tháng trước khi cuốn phim ra mắt.

Những sự ve vãn như thế đã mang lại một vài thành công đáng khích lệ, thí dụ như bộ 'trường thiên tiểu thuyết' (Mini Series) The Bible chiếu trên cable channel History đã thu hút trung bình 11.4 triệu khán giả mỗi buổi tối và trở thành 'show' được xem nhiều nhất năm 2013. (đã ra DVD với tựa đề 'The Bible: The Epic Mini Series', có thể mua ở Wal Mart với giá $39.96 trọn bộ )

Một phim khá thành công khác là "Maria di Nazaret" (đức Maria thành Nazareth) (2012) đã được nhập cảng vào Hoa Kỳ hồi tháng 8 năm 2013 và trình chiếu tại các cơ sở bảo trợ tư nhân, thường là từ các hội trường giáo xứ hay từ các rạp hát nhỏ được bao thuê, và sự đăng ký đã đầy kẹt cho đến tháng 9 năm 2014. Phim Maria di Nazaret là cuốn phim phát hành độc quyền tại Mỹ cuả Ignatius Press (cuả dòng Tên), sẽ có DVD một ngày gần đây.

Đoán trước trào lưu cuả khán giả đang mỗi ngày mỗi thiên về các chủ đề Kitô giáo, nhất là với hiện tượng Đức Giáo Hoàng Phanxicô thu hút nhiều chú ý từ mọi giới, Hollywood đang đua nhau dồn nỗ lực vào việc làm 'phim đạo'.

Số khán giả Kitô Giáo là một con số rất lớn, riêng ở Mỹ đã là 91 triệu người, do đó tại Mỹ đã xuất hiện những quảng cáo rất sớm và ào ạt, thí dụ cuốn phim Mary Mother of Christ đã dược cổ võ 12 tháng trước khi ra mắt.



Với một hình ảnh cuả một cái bóng mô tả một phụ nữ đội mũ che đầu, tay dang rộng đón nhận những ánh sáng từ trên trời, dòng quảng cáo không giấu diếm và thật là đơn giản: "Bạn sẽ tin."

Tấm bích chương còn nhấn mạnh: "Đây là những câu chuyên đời cuả Mẹ Maria, Thánh Giuse và Chúa Giêsu chưa từng được trình chiếu trên màn ảnh bao giờ", phần tóm lược giải thích thêm: "Dưới triều đại khủng bố của Hêrôdê, và với những khó khăn chưa từng thấy, cặp cha mẹ trẻ đã tìm đường sống qua một thời gian nguy hiểm nhất cuả lịch sử." Cuốn phim hứa hẹn "đây là bộ phim hoạt động dựa vào đức tin" - và những ai yếu lòng tin như thánh Thoma thì sẽ không còn sống trong nghi ngờ nữa.

Odeya Rush, nữ diễn viên Israel 16 tuổi đóng vai Mẹ Maria, Ben Kingsley (từng đóng vai Gandhi) đóng vai vua Hêrôdê, Julia Ormond đóng vai bà Isave và cố tài tử Peter O'Toole, vai ông già Simeon.

Nhưng trước cuốn phim Mary Mother of Christ, còn nhiều cuốn phim khác sẽ xuất hiện:

-Vào tháng 3, Russell Crowe sẽ xuất hiện trong phim Noah cùng với Emma Watson (từng đóng trong phim Harry Potter) và Sir Anthony Hopkins đóng vai thầy cả Methuselah. Người ta đã xây một con tàu Noah cho cuốn phim tại Long Island, New York.



Tuy nhiên, một số chiếu thử tại các cộng đoàn Kitô hữu ở Arizona, và cộng đoàn Do Thái ở New York, cho thấy kết quả đã gây ra một số tranh cãi. Cuốn phim có vẻ cho rằng cơn đại hồng thủy xẩy ra vì sự biến đổi khí hậu.

-Tiếp theo phim Noah là phim Exodus (Khởi Hành) cuả Sir Ridley Scott, kể chuyện ông Maisen đưa dân Do Thái vượt qua biển Đỏ. Christian Bale đóng vai Maisen, Sigourney Weaver đóng vai bà hoàng hậu cuả Pharaoh. Nhiều cảnh Ai Cập thời xưa đã được xây dựng ở niềm Nam nước Tây Ban Nha.

-Một cuốn phim nữa có tên là Gods and Kings cũng được đề xuất với Steven Spielberg làm đạo diễn, nhưng sau đó được trao cho Ang Lee, người đoạt giải Oscar cuả phim Life of Pi.

-Một phim tựa đề là Son of God (Con Thiên Chuá ) sẽ kể lại cuộc đời cuả Chuá Giêsu với tài tử người Bồ Đào Nha Diogo Morgado thủ vai chánh.

-Tài tử nổi danh Will Smith cũng chuẩn bị cho một cuốn phim dựa trên câu chuyện huynh đệ tương tàn giữa Cain và Abel.

-Và Brad Pitt cũng có tin đồn sẽ đóng vai Philatô trong một phim khác.

-Và thêm vào đó người ta đã đưa tiếng sẽ có phim Resurrection (Phục Sinh) với câu chuyện cuả một người lính Roma được phái đi điều tra về cái chết cuả Chuá Kitô. Chuyện phim sẽ là một câu chuyện bí ấn thuộc thể loại "Gladiator".

...

Cái lý do chính cuả hiện tượng Hollywood làm phim đạo là lý do tài chánh chứ không phải là lý do tôn giáo, là ý kiến cuả ông Phil Cooke, một nhà tư vấn giữa các nhà làm phim và các đoàn thể tôn giáo. "Câu chuyện đã xảy ra là họ đã hiểu rằng cách làm kinh doanh tốt nhất là phải coi trọng các Kitô hữu, vì đây là một thị trường thực sự lớn".

"Trong nhiều năm qua Hollywood đã hoài công tìm sự ủng hộ cuả các nhóm lợi ích đặc biệt, như là môi trường hoặc nữ quyền. Nhưng cuối cùng đã nhận ra rằng có tới 91 triệu người Kitô hữu ở Mỹ mà thôi. "

Còn ý kiến cuả các giới tôn giáo thì sao?

Ông Larry Ross, chuyên lo về việc ngoại giao cho các nhà lãnh đạo tôn giáo như Rick Warren và Billy Graham, cho biết: "Các vị Mục sư không đi vào chủng viện để học làm tiếp thị cho các cuốn phim", nhưng nếu bộ phim "có tính cách xây dựng; phản ánh niềm tin cuả cộng đoàn của họ" thì họ sẽ giới thiệu nó.

(Nguồn : vietcatholic.net)


Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

NĂM 2014- NĂM TÂN PHÚC ÂM HÓA GIA ĐÌNH





         “Tân Phúc-Âm-hóa” không phải là rao giảng một Phúc Âm mới vì “Đức Giêsu Kitô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay, và như vậy mãi đến muôn đời” (Dt 13,8), nhưng là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”.[4] 
         Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giêsu Kitô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hóa, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.
        Công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đòi duyệt lại toàn bộ các sinh hoạt mục vụ ở tất cả mọi bình diện, nghĩa là phải thực hiện cuộc hoán cải từ trong tâm thức đến định hướng và phương pháp khi làm mục vụ. Từ kinh nghiệm của các nước đã có nhiều Kitô hữu bỏ đạo, nếu chúng ta không nhanh chóng thực hiện cuộc hoán cải mục vụ này, thì trong tương lai không xa, Hội Thánh tại Việt Nam cũng có thể rơi vào tình trạng băng giá của mùa đông đức tin như một số nơi trên thế giới.
        Chương trình canh tân đời sống đức tin cần được lồng vào trong tổng thể của kế hoạch mục vụ mà Hội Đồng Giám Mục trình bày trong Thư Chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “Cùng nhau bồi đắp nền văn minh tình thương và sự sống”. Thư Chung ấy là chương trình hành động của Hội Thánh tại Việt Nam trong nhiều năm. Dựa trên định hướng căn bản này, chúng tôi mời gọi anh chị em hãy cùng với chúng tôi thực hiện kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014-2016):
– Năm 2014: Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình;
– Năm 2015: Phúc-Âm-hóa đời sống giáo xứ và các cộng đoàn;
– Năm 2016: Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội.
......
(Trích THƯ CHUNG GỬI CỘNG ĐỒNG DÂN CHÚA  của HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM  ngày 10/10/2013)

                                       




Chủ Nhật, 5 tháng 1, 2014

CHUNG QUANH NGÀY LỄ HIỂN LINH


          1. Tên ngày lễ.

          Ngày xưa ta gọi lễ này là “Lễ Ba Vua” vì dựa vào việc 3 nhà bác học từ phương Đông đến triều bái Chúa Hài Nhi với ba thứ lễ vật là vàng, nhũ  hương và mộc dược, qua ba lễ vật này người ta cho rằng những vị này là thuộc hòang tộc và gọi họ là Vua. Gọi là Ba Vua vì chú trọng đến việc các vị đi tìm Chúa Hài Nhi, còn ngày nay chúng ta gọi là lễ “Hiển Linh” (Epiphania) vì chú trọng vào việc Thiên Chúa tỏ mình ra . Như vậy, Hiển Linh là việc Thiên Chúa biểu lộ mình ra cho dân ngọai, cho thế giới ngòai Do thái giáo.

          Vì lễ Hiển Linh mừng kính việc Đức Giêsu tự tỏ mình cho thế giới dân ngọai, nên một số quốc gia mừng lễ này còn trọng thể hơn lễ Giáng Sinh. Thực thế, lễ Hiển linh là lễ Giáng sinh dành cho dân ngọai.

          2. Các đạo sĩ.

          Đọc Tin mừng Thánh lễ hôm nay, chúng ta không thấy nói về vị vua nào cả, cũng không phải ba vua, mà chỉ thấy nói về các đạo sĩ (Magi) hay các nhà chiêm tinh.  Ngày xưa ở Trung đông, nhất là tại Ba tư, các vị chiêm tinh, hoặc các đạo sĩ, là những người trí thức, thường làm cố vấn cho các vua và chuyên nghiên cứu về khoa thiên văn. Vào thế kỷ thứ 4 và 5, truyền thống dân gian Tây phương tưởng tượng ra các nhà chiêm tinh là những vị vua. Đến thế kỷ thứ 7, tục truyền lại còn đặït tên cho họ là Melchior, Gaspard và Balthazar. Rồi đến thế kỷ 15, để muốn nói rằng các vị chiêm tinh tượng trưng cho tòan nhân lọai, dân gian còn xác định chủng tộc của họ: Melchior là người da trắng, Gaspard người da vàng, và Balthazar người da đen.

          Các nhà chiêm tinh tin rằng mỗi ngôi sao là dấu hiệu của một vị thần hay dấu hiệu của một vị vua đã được thần hóa. Do đó, khi khám phá ra một vì sao lạ, và khi đối chiếu với lời tiên báo trong sách Dân số :”Một vì sao xuất hiện từ nhà Gia-cóp, một vương trượng (vua) trổi dậy từ Israel”(Ds 24,17), các ông tin rằng có một vị vua mới sinh ra ở đất Do thái. Họ lập tức khởi hành, bất chấp đường xa và nguy hiểm để thờ lạy Người.

          Con số các đạo sĩ (chiêm tinh) là bao nhiêu chúng ta không biết rõ. Do chi tiết ba thứ lễ vật ở câu Mt 2,11 mà từ xưa truyền thống vẫn cho là có 3 vị đạo sĩ; thực ra gốc từ không xác định như thế, mà chỉ ở số nhiều (có thể hơn 3 mà cũng có thể dưới 3). Căn cứ vào câu 1 và 2 các nhà chú giải cho rằng các vị này xét về tinh thần thì là những con người có tâm hồn khát khao tìm kiếm chân lý (Đấng Cứu Tinh) nhưng các vị cũng là các nhà chiêm tinh nhìn các vì sao mà biết có vua mới ra đời.

      3. Trên đường đi tìm Chúa Hài nhi.

          Nhà đại thiên văn Képler khám phá ra rằng vào năm Chúa Giáng sinh, có một hiện tượng bất bình thường xẩy ra giữa các vì sao. Ông nói về hai ngôi sao Jupiter và Saturn rằng :”Bình thường chúng vẫn quay cách đều nhau.  Năm đó chúng quay sáp lại gần nhau đến độ ánh sáng của ngôi sao này cộng hưởng ánh sáng của ngôi sao kia, tạo ra một luồng sáng khác thường và kéo dài đến cả mấy tháng”.  Phải chăng đó chính là ngôi sao lạ dẫn đường cho các đạo sĩ tìm ra Chúa Hài nhi ?

          “Chúng tôi đã thấy ngôi sao của Người xuất hiện bên phương Đông”(Mt 2,2).  Người xưa cho rằng ngày ra đời của một vĩ nhân thường được báo hiệu sự xuất hiện của các ngôi sao lớn. Các chiêm tinh gia thường nghiên cứu những chuyển động của các vì  tinh tú để đoán biết định mệnh con người. Vì thế, khi nhìn thấy ngôi sao lạ, các đạo sĩ đã nhận ra  sự sinh hạ của Đấng Cứu thế, vua dân Do thái (Carôlô, Sợi chỉ đỏ B, tr 96).

          Nếu Thiên Chúa đã dùng cột mây cột lửa để hướng dẫn dân Do thái đi trong hoang địa về đất hứa, thì Ngài cũng có thể dùng ngôi sao dẫn đường cho các đạo sĩ đến Belem để gặp Đấng Cứu tinh. Tuy thế, trên bước đường đi tìm kiếm, các đạo sĩ cũng gặp khó khăn, thử thách , nhất là khi ngôi sao dẫn đường vụt tắt ở Giêrusalem. Nhưng Chúa lại thương cho ngôi sao xuất hiện để hướng dẫn các ông đi triều bái Chúa Hài nhi.


         

          4Lễ vật dâng Chúa Hài Nhi.

          Thánh Matthêu viết :”Khi bước vào nhà và nhìn thấy Hài nhi cùng Đức Maria Mẹ Ngài, họ liền quì gối xuống tôn thờ Hài Nhi đọan mang các tặng vật ra gồm vàng, nhũ hương và mộc dược dâng lên Ngài”(Mt 2,11).

          Ông Seneca ngày xưa cho biết rằng chẳng ai được vào chầu vua  mà không có lễ vật. Các đạo sĩ cũng theo tập tục ấy, các vị đã dâng ba thứ lễ vật cao qúi xứng đáng với các vị vua và nó cũng có ý nghĩa tượng trưng đối với chúng ta ngày nay. Các vị đã dâng cho Chúa Hài Nhi :

          a) Vàng.

          Vàng là vua của mọi kim lọai xứng hợp với lễ vật con người dâng cho vua. Cũng vậy, Đức Giêsu là người “sinh ra để làm vua”, nhưng Ngài không cai trị bằng vũ lực nhưng bằng tình yêu, và Ngài cai quản lòng người  không từ ngai vàng mà từ thập giá. Vềø vương quyền của Đức Giêsu, thánh Phaolô có viết trong thư gửi cho tín hữu Eâphêsô :”Chúa Cha đã phục sinh Đức Kitô từ cõi chết và đặït Đức Kitô bên hữu Ngài trên thiên quốc. Đức Kitô cai trị trên vạn vật… Thiên Chúa đã đặt mọi sự dưới chân Đức Kitô” (Ep 1,20-22).

          b) Nhũ hương.

          Người xưa thường dùng nhũ hương trong việc thờ phụng. Hương và khói bay lên trời biểu tượng những lời ca tụng và cầu nguyện dâng lên các thần linh. Các Kitô hữu cắt nghĩa  tặng vật nhũ hương tượng trưng cho thiên tính của Đức Giêsu. Khi nói về thiên tính Đức Giêsu, trong thư gửi cho tín hữu Do thái, thánh Phaolô đã diễn tả như sau :”Chúa Giêsu phản chiếu sự chói lọi vinh quang của Thiên Chúa và là hình bóng bản thể của Thiên Chúa; Ngài lấy lời quyền phép của mình để nâng đỡ vạn vật”(Dt 1,3).

          c) Mộc dược.

          Mộc dược là hương liệu để xông hay ướp xác người chết trước khi an táng. Vì chết là thân phận của con người, nên các Kitô hữu thường cắt nghĩa mộc dược được tượng trưng cho nhân tính của Đức Giêsu. Khi bàn về nhân tính của Đức Giêsu trong thư gửi cho tín hữu Philipphê thánh Phaolô nói :”Chúa Giêsu dù luôn mang bản tính Thiên Chúa, nhưng Ngài đã trở nên… như mọi người… Ngài hạ mình vâng phục đến nỗi chịu chết và chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).


          Hiện nay trong nhiều quốc gia, lễ Hiển linh được mừng long trọng hơn lễ Giáng sinh. Sở dĩ như thế là vì lễ Hiển linh là lễ Chúa Giêsu xuống thế và tỏ mình ra với dân ngoại. Sự che giấu đã được thố lộ, sự gì ẩn khuất đã được trình bầy. Lễ Giáng sinh và lễ Hiển linh là hai lễ song song. Cũng như lễ Giáng sinh mừng Đức Giêsu tỏ mình ra  đặc biệt với những người Do thái, thì lễ Hiển linh mừng việc Đức Giêsu tỏ mình ra đặc biệt đối với dân ngoại.  Vì thế, lễ này được gọi là “lễ của Chư Dân”.

          Ngày xưa, Chúa đã tỏ mình ra cho dân ngoại, ngày nay Chúa còn hiển linh cho chúng ta không ? Chắc chắn là còn, nhưng bằng những cách khác nhau và đơn sơ hơn  qua những dấu chỉ thông thường trong cuộc sống hằng ngày.  Chỉ cần có đức tin mới nhìn thấy chân lý, mới có được thái độ của ba nhà đạo sĩ là phủ phục thờ lạy và tiến dâng của lễ cho Chúa Hài nhi.


       


 5Món quà dâng Chúa của chúng ta hôm nay

          Các đạo sĩ đã dâng cho Chúa Hài nhi 3 lễ vật : vàng, nhũ hương và mộc dược, lễ vật chỉ có ý nghĩa tượng trưng. Những lễ vật này chỉ là dấu hiệu biểu lộ lòng ngưỡng mộ, tôn kính và yêu mến của họ đối với Chúa Hài nhi, còn phía chúng ta, Chúa cần những lễ vật cao qúi hơn, đó chính là tấm lòng chúng ta, cả con người chúng ta. Hãy dâng cho Chúa tất cả.

Truyện : Vị đạo sĩ thứ tư.

          Văn sĩ Koergensen, người Đan mạch, đã nghĩ ra một câu chuyện minh hoạ cho thấy rõ điều đó. Ông đã tưởng tượng ra một vị đạo sĩ thứ tư. Vị này đến gặp Chúa Giêsu Hài đồng sau ba vị kia. Gặp Chúa, nhưng ông rất buồn vì không còn gì để dâng tặng cho Ngài. Trước khi lên đường, ông đem theo ba viên ngọc qúi giá. Dọc đường, ông gặp một cụ già đói nghèo, ông tặng viên ngọc thứ nhất. Đi thêm một đoạn đường, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông lấy viên ngọc thứ hai  thương lượng với chúng để chuộc cô gái.  Cuối cùng, khi đến Belem, ông gặp một người lính do vua Hêrôđê sai đi để tàn sát các hài nhi, ông lấy viên ngọc thứ ba cho anh ta và thuyết phục anh ta từ bỏ hành động gian ác.
 Đến khi gặp Chúa Hài đồng, ông chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình. Nhưng thật lạ lùng, Chúa Giêsu đưa hai tay ra và mỉm cười nói với ông :
”Con đã dâng cho Ta món quà qúi giá nhất. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân”.


                                                                                             ( nguồn : simonhoadalat.com)

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2014

LỄ HIỂN LINH



Mời xem phim :  VỊ ĐẠO SĨ THỨ TƯ 
(xin bấm vào hàng số ở dưới để xem )
[1] [2] [3] [4] [final]


Đạo diễn: Michael Ray Rhodes
- Dựa trên tác phẩm của Henry van Dyke
- Diễn viên chính : Martin Sheen, 
  Alan Arkin and James Farentino ...
- Sản xuất: Mỹ, 30.03.1985
- Thời lượng 72 phút




DIỄN NGUYỆN GIÁNG SINH :
 VỊ ĐẠO SĨ THỨ TƯ

Tác giả:  Lm. Inhaxio Trần Ngà


Ý Chính:
Phục vụ người khác
là phụng sự Chúa Giê-su.
Lời dẫn: Theo như Tin Mừng thuật lại thì khi Chúa Giê-su sinh ra tại Bê-lem, có ba nhà đạo sĩ theo dấu sao lạ tìm đến thờ lạy và dâng lễ vật: vàng, nhủ hương và mộc dược lên Chúa  Hài  Nhi.
Tuy nhiên, văn sĩ Johannes Joergensen, người Đan-mạch, cho rằng tiếp sau ba vị đạo sĩ kia, còn có một vị thứ tư cũng đã theo dấu sao lạ tìm đến thờ lạy Chúa  Hài Nhi.
Vị đạo sĩ thứ tư đó là ai? Và lễ vật ông ta dâng cho Chúa  Hài Nhi là những gì?
Giờ đây, chúng tôi kính mời quý ông bà và anh chị em đồng hành với vị đạo sĩ thứ tư nầy để cùng  đến thờ lạy và dâng lễ vật lên cho Chúa Hài Nhi.

MÀN I:
GẶP GỠ CHÚA GIÊ-SU

NHÂN VẬT:
  • Nạn nhân
  • Vị đạo sĩ
Sân khấu bố trí cảnh hoang vu, đèn mờ tối, tiếng gió vi vu rờn rợn, một nạn nhân đang nằm rên rỉ:
Nạn nhân: “Ô ô ô i i!…  Ô ô ô i i!… Lạy Trời, tôi chết mất… Ôi! Cứu tôi… Ô ô ô i i!…
Vị đạo sĩ thứ tư bước ra, lắng tai nghe ngóng:
Đạo sĩ: “Ờ, mà hình như có tiếng ai đang rên rỉ đâu đây thì phải... Nghe như tiếng ma rên quỷ hờn. Đây thật là vùng thâm u đáng sợ. Ta phải đi nhanh thôi!…”
Nạn nhân: “Ôi! Cứu tôi… Ô ô ô i i!…”
Nhà đạo sĩ thứ tư chợt nhận ra nạn nhân đang rên rỉ:
Đạo sĩ: “Ờ kia rồi ! Một nạn nhân đang rên siết.”
Ông lại gần, quỳ xuống bên nạn nhân. Người bị nạn ngước đôi mắt van nài:
Nạn nhân: “Xin thương cứu tôi!… cứu tôi!.. Tôi chết mất!… Ôi… khát quá… khát quá!…”
Đạo sĩ: “Được rồi… được rồi… Nhưng tại sao anh lại ra nông nổi nầy?” Rồi lục tìm trong hành tranh, kiếm bình nước đưa cho nạn nhân uống.

Nạn nhân (rên rỉ và thều thào) : “Cướp… bọn cướp… chúng lột hết tài sản của tôi rồi đánh tôi nhừ tử… chúng suýt giết tôi…”
Đạo sĩ (đứng lên): Như thế nầy nhé: Ta đang có việc phải đi ngay… (nhìn quanh lo ngại)  vả lại nơi đây… nơi đây âm u hoang vắng quá. (tiếng rừng âm u) Ta muốn lên đường triều yết một vị thiên vương vừa giáng thế. Ta không thể chần chừ được… (tiếng nạn nhân rên rỉ). (đạo sĩ tự nhủ:) Nhưng bỏ đi ngay thì cũng không đành… (Cúi xuống nạn nhân) Thôi được, ta sẽ giúp anh…
          Rồi ông lấy dầu xoa bóp cho nạn nhân, lấy vải buộc các vết thương (nhạc êm đềm thương xót)
Đạo sĩ: “Thật là quân vô nhân đạo, cướp của người ta chưa đủ hay sao mà lại còn muốn hại người ta nữa... Hừ ! Biết đến bao giờ hoà bình và công lý mới ngự trị trên thế gian!” Rồi nói với nạn nhân: “Nơi đây vắng vẻ quá! Ta sẽ đưa anh về quán trọ rồi sẽ lo liệu cơm cháo thuốc men cho anh… Cố lên nào! Cố lên đi! Đứng lên… đứng lên… Có vậy chứ!..”
Nhà đạo sĩ dìu anh đi với mình, lê từng bước thật vất vả. Cuối cùng ông đành cõng anh ta vào bên trong. (nhạc u buồn)

¯ ¯ ¯

MÀN HAI:
TIẾP RƯỚC CHÚA GIÊ-SU

NHÂN VẬT:
  • Chủ quán
  • Hai tôi tớ
  • Nhà đạo sĩ
  • Nạn nhân
Trời về đêm. Tiếng nhạc buồn hiu hắt… Chủ quán xoay bấc cho đèn sáng hơn rồi cầm chổi quét bàn ghế, sửa soạn đón khách…
Chủ quán: “Đã lâu rồi quán mình vắng khách… Không có khách thì lấy đâu ra lợi nhuận để nuôi sống gia đình. Mấy hôm nay có ngôi sao lạ xuất hiện trên bầu trời, sáng rực cả vùng trời đêm. Hy vọng đây là điềm lành, may ra nhờ cơ hội nầy mà mình làm ăn phát đạt. Nghe đâu sự xuất hiện của ngôi sao nầy ứng với việc hạ sinh của một vị thiên vương…”
          Có tiếng vị đạo sĩ gọi vào:
Đạo sĩ: (vọng từ xa): “Tới rồi… tới rồi… rán lên… rán lên!… (gọi lớn tiếng): “Chủ quán ơi! Chủ quán! Làm ơn giúp tôi một tay đi!”
Chủ quán (Nét mặt hân hoan): “Đúng là ngôi sao mang lại điềm lành: ta sắp có khách đến trọ.” Rồi nói vọng ra: “Dạ, có tôi!” và hối hả đi ra. Bất chợt ông sửng sốt trước người khách bất ngờ.
Chủ quán (nhìn thấy có người khách đang bế một người bị nạn tiến vào, kinh ngạc thốt lên): “Trời ơi! Sao vậy nè!”
Đạo sĩ: “Bọn cướp đã trấn lột hết của cải anh ta trên quãng đường vắng, lại còn đánh đập, đâm chém anh ta đến trọng thương. Tôi thấy anh ta nằm thoi thóp bên đường không ai cứu chữa nên mới đưa về đây.”
Chủ quán: (Ra chiều ái ngại, không muốn tiếp) “Nhưng thưa ngài, xin ngài thông cảm cho, tôi đâu có phải là thầy thuốc. Quán của tôi cũng không phải là trạm cấp cứu hay phòng điều trị… Xin ngài vui lòng đưa bệnh nhân đi nơi khác, tôi không dám nhận đâu.” (khoa tay lắc đầu )
Đạo sĩ: “Anh ta bị đánh trọng thương, lại bị mất quá nhiều máu. Nếu không kịp thời cứu chữa, tính mạng ắt sẽ không an toàn. Xin ông… xin ông mở rộng lòng thương…”
Chủ quán: (Hơi cau có) “Nhưng thưa ngài, tôi đã nói với ngài…”
Đạo sĩ: (năn nỉ) “Xin ông đừng từ chối. Ai có lòng thương xót, kẻ ấy sẽ được xót thương; ai gieo mầm phúc đức mai sau sẽ gặt dồi dào ân huệ. Vả lại, tôi sẽ không để ông chịu thiệt đâu mà!”
Chủ quán giúp dìu nạn nhân vào nhà, đặt lên chõng
Đạo sĩ: “Nầy ông! Xin ông hãy cho tôi tớ mời gấp thầy thuốc về đây đi”.
Chủ quán: “Nhưng thưa ngài, quán trọ tôi rất nghèo…”
Đạo sĩ: “Được rồi… được rồi… Xin ông đừng lo, tôi đã có cách… À…Nầy chủ quán, cách đây không lâu, ta thấy một vì sao chói lọi xuất hiện từ phương đông, kinh nghiệm lâu năm cho ta biết đó là điềm báo có một vì vua rất cao sang xuất hiện. Vì thế ta vội cất bước lên đường tìm đến triều bái vị vua nầy. Ta có mang theo lễ vật cao quý nhất để dâng ngài, đó là… đó là hai viên kim cương quý giá. (lấy viên kim cương long lanh ra, chủ quán trố mắt nhìn) Nhưng tiếc thay, vì cuộc hành trình quá dài, tiền bạc mang theo đã cạn. Bây giờ ta không còn tiền bạc để chăm lo chữa trị cho nạn nhân nầy, vậy ta trao viên kim cương nầy cho ông… coi như…” (đưa cho chủ quán)
Chủ quán (rất đổi ngạc nhiên): “Trao cho tôi ư !? Thật vậy sao? Ngài không đùa đó chứ?
Đạo sĩ: “Ta nói nghiêm túc đó, không phải chuyện đùa đâu. Ta trao viên kim cương quý báu nầy cho ông… với điều kiện ông phải tận tuỵ chăm lo cơm cháo thuốc men cho anh ta cho đến khi bình phục hoàn toàn.”
Chủ quán (vồn vã): “Thưa được. Tôi sẵn sàng, sẵn sàng... Tôi sẵn sàng chăm lo cho anh ta chu đáo …(cất giọng) còn hơn là chăm lo cho ông bà cha mẹ của tôi…” Rồi quát tôi tớ: “Tụi bây đâu, sao đứng như trời trồng vậy. Hãy mau mau đi mời danh y bậc nhất về điều trị cho anh ta! Các ngươi không thấy anh ta đã kiệt sức rồi sao”
Có tiếng vọng của tôi tớ : “Dạ, dạ…con đi ngay.”
Chủ quán (quay về phía người bị nạn, giả bộ tỏ ra thương cảm): “Ôi! Thật tội nghiệp cho anh. Nhưng hãy yên tâm. Đi đâu không biết chứ đã vào đây là anh sẽ được lo chu đáo. Chỉ nay mai là bình phục thôi mà!
Đạo sĩ (nắm tay nạn nhân cách trìu mến): “Anh nè… Tôi có việc phải đi gấp. Anh cứ ở lại đây cho đến khi bình phục. Mọi phí tổn tôi sẽ lo liệu cho anh”. Rồi quay sang chủ quán: “Còn ông, tôi gửi gắm anh bạn cho ông. Ông hãy lo cho anh ta thật chu đáo như cho chính bà con ruột thịt của tôi. Bây giờ tôi phải lên đường gấp cho kịp với ba người bạn đồng hành. Họ cùng hẹn tôi lên đường triều bái vị vua cao cả mới hạ sinh, giờ đây chắc họ đã vượt xa tôi cả mấy chục dặm đường rồi. Thôi tạm biệt! Mai mốt… mai mốt tôi về tôi sẽ gặp lại ông.”
Chủ quán: “Xin ngài an tâm. Bái biệt ngài. Chúc ngài thượng lộ bình an.”
Đạo sĩ: “Thôi, tôi phải đi đây! Tạm biệt” Quay sang nạn nhân: “Tạm biệt người anh em”.
Đạo sĩ (bước ra bên ngoài, tự nhủ): “Thế là mất đứt một viên kim cương quý giá. Mất đi một lễ vật quý báu tiến dâng vị ấu chúa  mới giáng sinh. Nhưng dù sao, ta không thể làm khác được… không thể làm khác được…”
Nhà đạo sĩ bước đi trong tiếng nhạc hân hoan.

¯ ¯ ¯

MÀN 3

CỨU GIÚP CHÚA GIÊ-SU

           NHÂN VẬT:
  • Người mẹ ẵm con
  • Viên sĩ quan và hai người lính
  • Đạo sĩ

Cảnh xảy ra tại Bê-lem. Âm thanh ồn ào hỗn độn, tiếng lính tráng quát tháo, tiếng la khóc ồn ào…Một người lính đi qua sân khấu công bố sắc lệnh của vua Hê-rô-đê.
“A-lô! Alô ! Hoàng đế Hê-rô-đê truyền lệnh, dân thành Bê-lem hãy lắng tai nghe: Tất cả mọi trẻ nam trên toàn cõi Bê-lem từ hai tuổi trở xuống phải bị giết ngay không thương tiếc để khỏi di hoạ về sau. Alô ! alô!” (lặp lại hai lần)
Có tiếng trẻ khóc, tiếng các người mẹ kêu la, tiếng quát tháo om sòm của lính. Sân khấu vắng lặng… Một bà mẹ bồng con chạy trốn. Đến giữa sân khấu thì dáo dác tìm đường. Từ hậu trường có tiếng hô: “Đứng lại! Đứng lại! Đừng hòng thoát khỏi tay ta !” Rồi viên sĩ quan và tên lính từ hai hướng sân khấu chạy lại.
Người lính I: (Giơ tay nắm tóc người mẹ) “Mẹ con nhà nó đây rồi! Đứng lại ! ”
Còn tên lính thứ hai hung hãn giật đứa bé khỏi tay người mẹ rồi rút gươm toan giết đứa bé. Đứa bé khóc thét lên. Người mẹ chồm tới giành lại đứa con.
Người mẹ: “Trả con tôi lại cho tôi. Nó có tội tình gì mà các người giết nó! Hãy trả lại cho tôi”
Viên sĩ quan: “Lệnh vua đã truyền, bà không nghe sao? Bà có điếc không?”
Người mẹ xông vào giành lại đứa con. Viên sĩ quan nắm hai cánh tay giữ bà lại. Bà mẹ vùng vẫy van lơn:
Người mẹ: “Không! Không! Không ai được quyền giết con tôi! Nó là trẻ thơ vô tội. Nó vô tội, nó có làm gì đâu mà các ông đòi giết nó! Tôi van lạy các ông. Trăm lạy các ông. Hãy trả nó lại cho tôi! (khóc) Đừng giết con tôi. (khóc) Ôi! Con ôi là con… (khóc nức nở) con ôi… con ôi…”
Viên sĩ quan: “Ta chỉ biết thi hành lệnh vua ban, đừng có già hàm, già họng mà chết cả mẹ lẫn con bây giờ”
Người lính lại đưa gươm lên định chém đứa bé, người mẹ ôm chầm lấy chân người lính, gào lên:
Người mẹ: “Đừng! Đừng giết con tôi! Tôi van lạy các ông. Hãy trả nó lại cho tôi! Hãy trả nó lại cho tôi!”
Đang khi đó thì vị đạo sĩ thứ tư xuất hiện, dõng dạc hô lên.
Đạo sĩ: “Hãy dừng tay lại!”
Viên sĩ quan: “Ông là ai mà dám ngang nhiên cản trở công việc của chúng tôi?”
Đạo sĩ: “Tôi lên tiếng nhân danh lòng nhân đạo, tôi phải nói… tôi phải nói lên tiếng nói của lương tâm. (gằn giọng) Bộ các người không có trái tim sao?  Không còn lòng nhân ái nữa hay sao mà lại làm điều ngược với luân thường đạo lý như vậy?”
Có tiếng đọc lệnh vua ban hành vang lên từ hậu trường: “A-lô! Alô ! Hoàng đế Hê-rô-đê truyền lệnh, dân thành Bê-lem hãy lắng tai nghe: Tất cả mọi trẻ nam trên toàn cõi Bê-lem từ hai tuổi trở xuống phải bị giết ngay không thương tiếc để khỏi di hoạ về sau. Alô ! alô!”
Người lính: “Nhà ngươi hãy căng tai mà nghe cho rõ. Hãy để yên cho chúng ta thi hành mệnh lệnh. Nếu cản trở, thì hãy liệu hồn…”
Đạo sĩ: “Không lẽ mọi người cứ để… cứ để cho bất công và tội ác mặc sức hoành hành như thế nầy sao? Hừ! Thật là dã man và vô nhân đạo… (tỏ vẻ suy  nghĩ) Ừ… Thôi được! Tôi có cái nầy xin trao đổi với các anh (đưa viên kim cương ra). Nếu các anh trả đứa bé lại cho mẹ nó, tôi sẽ tặng các anh bảo vật nầy.”
Viên sĩ quan: “Gì vậy? Kim cương!  Kim cương thật sao?” Rồi mân mê viên kim cương trong tay ra chiều thích thú. Tên lính kia cũng tiến lại xem.
Đạo sĩ: “Đúng! Đó là viên kim cương quý nhất vùng Trung Đông. Tôi trao cho các anh, nhưng với điều kiện là các anh hãy trao đứa trẻ lại cho mẹ nó.”
Viên sĩ quan (bỏ viên kim cương vào túi) : “Được rồi. (hất hàm bảo người lính) trao đứa bé cho mẹ nó. (rồi quay sang người mẹ) Ta tha cho ngươi làm phúc. Khôn hồn thì cút cho nhanh!” Người mẹ ẵm con chạy biến, hai tên lính cũng đi vào bên trong, để lại một tràng cười đắc thắng.
Đạo sĩ: “Thế là hết. Giờ đây ta chỉ còn lại hai bàn tay trắng. Ba người bạn đồng hành thì đã vượt trước ta cả chục dặm đường và giờ đây chắc họ đã giáp mặt vị vua mới sinh. Còn ta, phải tụt lại đằng sau, trong tay chẳng còn gì để tiến dâng vị vua mới giáng thế. (ngừng một lát ra chiều suy nghĩ) Nhưng dù sao một khi đã cất bước lên đường thì cũng phải đi cho đến nơi đến chốn. Ta cứ tiếp tục cuộc hành trình, cứ đến gặp Ngài để bày tỏ tấm lòng thành của ta.”
Rồi vị đạo sĩ lại tiếp tục cất bước lên đường. (nhạc êm đềm thanh thoát: Ave Maria của Schubert))


MÀN KẾT
Phục vụ người khác
là phụng sự Chúa Giê-su

Vũ kịch có nội dung như sau: Thiên thần báo tin cho mục đồng đến thờ lạy Hài Nhi, ba vua cũng đến thờ lạy và dâng lễ vật (lễ vật còn lưu lại bên máng cỏ). Sau đó, ba vua lên đường trở về nhà (đi vào trong). Đức mẹ ẵm con trên tay, đi đi lại lại hát ru con, thánh Giu-se sửa soạn dọn dẹp hang đá. Rồi Mẹ đặt con vào máng cỏ, quỳ bên Con. Ngay lúc đó, vị đạo sĩ tiến vào quỳ bên máng cỏ, trầm ngâm nhìn ngắm Chúa  Hài Nhi. Đạo sĩ bái lạy rồi giang hai tay thưa với Chúa  Hài Nhi.
Đạo sĩ : “Lạy Chúa  Hài Nhi, Chúa  biết vì sao tôi đến muộn và giờ đây tôi chỉ còn hai bàn tay trắng, chẳng còn gì để hiến dâng Ngài. Tôi chỉ biết dâng lên Ngài trái tim tôi, tấm lòng quý mến của tôi.”
Đáp lại món quà cao quý và thiêng liêng của vị đạo sĩ thứ tư, Chúa Hài Nhi mỉm cười với ông.
Chung quanh hang đá, thiên thần như muốn nói thay Chúa Hài Nhi bằng cách hát lên một bài ca tụng lòng nhân ái: “Có bao giờ con thấy Chúa đến xin con đôi chút cơm thừa…” (hay một bài có ý nghĩa tương tự). Rồi trên nền nhạc đó, lời Chúa (Tin Mừng Mt 25, 34-40) vọng lên:
34 Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: "Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. 35 Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; 36 Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han." 37 Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng: "Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; 38 có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc? 39 Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu?" 40 Đức Vua sẽ đáp lại rằng: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy."

Cũng trên nền nhạc đó, Đức Mẹ trao Chúa Hài Đồng cho vị đạo sĩ thứ tư bồng ẵm. Chúa hôn lên hai má của vị đạo sĩ như muốn nói lên lòng biết ơn về hai viên kim cương mà vị đạo sĩ đã dâng cho Ngài qua việc cứu giúp hai người bị nạn. Rồi tất cả đi vào bên trong.

Lm Inhaxiô Trần Ngà


(Nguồn : conggiaovietnam.net)

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2014

HỌP MẶT CỰU HT HTDC PHỦ CAM , HUẾ TẠI SÀI GÒN NGÀY 02/01/2014







Hai mươi cựu huynh trưởng HTDC  Phủ  Cam , Huế từ An giang , Cần thơ  , và Sài gòn  quây quần trong nhà giáo lý  38 , Kỳ đồng , Q3 , SG (Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp) để tham dự thánh lễ đầu năm mới  do hai Cha Quang  (Dòng Chúa Cứu Thế) và Cha Tiến Lộc(người cộng tác thân cận của cha Anton Bùi Hữu Ngạn thủa xưa) đồng tế .

Trong lần họp mặt đầu năm lần này , Cha Tiến Lộc cũng như toàn thể ACE HT HTDC Phủ Cam , nhất trí làm thỉnh nguyện thư lên Đức Cha Tổng Giám mục Địa Phận Huế  thỉnh nguyện xin tái lập lại Phong trào HTDC  tại Thừa Thiên , Huế . 


Cùng chụp chung tấm ảnh kỷ niệm với Cha Quang và Cha Tiến Lộc sau thánh lễ . Ngoài 20 cựu HT HTDC Phủ Cam , còn có A. Ninh cựu HT HTDC gx Hòa hưng, Sài Gòn , A. Châu  gx An Hòa (cũ) , Đà Nẵng . 



Cùng Cha Quang hát bài ca tạm biệt trước khi ra về . Hẹn gặp nhau vào lần tới với một khí thế mới .
( từ bên trái qua : Cha Quang ; Anh Cửu  thay mặt A. An Liên đoàn trưởng LĐ HTDC Tabore Phủ Cam , Huế ; A. Ninh gx Hòa Hưng; Anh Bưu ; và các chị  cựu HT )



Sau khi tạm biệt  ở đây , các anh chị Phủ Cam , Huế còn đến gia đình anh An , cựu Liên đoàn trưởng  để thăm hỏi  , do hiện nay đã nhiều tuổi và sức khỏe  rất  yếu .