Thứ Ba, 2 tháng 4, 2013

NÚT DÂY

                            
                                NÚT DÂY

           Trong sinh hoạt thường ngày , trong hoạt động sản xuất , con người đã sáng tạo ra những cách thắt nút dây,  sợi để phục vụ cho các  hoạt động của mình . Các thủy thủ, các nhà thám hiểm , các nhà thể thao , leo núi , người cứu hộ … đều phải rành rẽ các loại nút thông dụng và chuyên biệt của  riêng ngành mình . . .
           Nút dây bắt nguồn từ chính cuộc sống nên nó rất phong phú . Người ta đã tổng kết  có đến khoảng 4.000 nút các loại .  Nhưng thực tế , chúng ta nên biết  và thực hành thuần thục khoảng chừng vài chục nút buộc thông thường bằng sợi , bằng dây thừng , bằng lạt , mây …. là đủ .
         Biết và thực hành thuần thục có nghĩa là phải hiểu rõ công dụng của từng nút  , cũng như biết những ứng dụng của nút đó trong những hoàn cảnh khác ;
         Một nút dây được coi là hữu dụng cần phải có 3 đặc tính sau :
-       Có thể buộc thật nhanh
-       Tháo ra được một cách dễ dàng
-       Chắc chắn , nghĩa là nó có thể tin cậy được khi sử dụng trong trường hợp cần thiết .
         Thế cho nên , cùng với sự phát triển của xã hội , một bộ phận của nút dây đã không còn được sử dụng hoặc hạn chế sử dụng  do tính kém chuẩn mực của nó , số khác được nâng lên tầm  nghệ thuật do nét đẹp tinh tế của nó .
         Do tác dụng nhiều mặt  , nên bộ môn nút dây rất cần  được phổ biến , và học hỏi trong các sinh hoạt cộng đồng  :
-       học nút có thể phát triển sự khéo léo của đôi tay
-       giúp phát huy khả năng sáng tạo
-       bồi bổ khiếu thẩm mỹ của mỗi người
-       đào luyện khả năng tháo vát , ứng dụng trong các sinh hoạt hằng ngày
-       …..
          Thường người ta phân loại , sắp xếp các nút dây theo ứng dụng của nó . Thế nhưng ngay việc phân loại theo ứng dụng cũng hết sức khó khăn do mỗi nút dây có một công dụng nhưng lại có rất nhiều ứng dụng trong nhiều lãnh vực sản xuất , đời sống khác nhau . Như nút thợ dệt , có tên này do  người thợ dệt dùng nó để nối các sợi chỉ , hay nối những đầu dây không cùng kích thước , tuy vậy nó vẫn được ứng dụng  đan các loại lưới như lưới đánh cá ….
           Thế nên , người ta tạm phân loại các loại nút theo công dụng thực tế thành các nhóm như sau :
-       Các loại nút dùng để  NỐI
-       Các loại nút dùng để  BUỘC – TREO – KÉO
-       Các loại nút ĐẦU DÂY  :  BỆN, CHẦU DÂY , VẤN
-       Các loại nút để THÂU NGẮN dây
-       Các loại nút dùng để  CẤP CỨU – THOÁT HIỂM
-       Các loại nút cho THÁP , GHÉP
-       Các loại nút TRANG TRÍ – ĐAN
-       Các loại nút  KHÁC


I - MỘT SỐ NÚT DÂY TIÊU BIỂU

1)    NÚT CHỊU ĐƠN
a)    Tên khác : NÚT RUỒI

      Tên tiếng Anh  : Overhand Knot


b)    Thể loại :
-       Nhóm đầu dây
-       Nhóm  buộc,  treo
c)        Công dng:

§  To mt nút chn chn chn trên thân dây
§  Dùng làm đim ta trên dây

d)    Ứng dụng

§  là nút căn bn ca rt nhiu nút phc tp
§  nút tht đ không cho đu dây chui qua l nh (làm xích đu)
§  làm si dây kéo giếng nước…
§  tht đu dây đ tránh xơ (tưa) dây
§ 
e)     Biến th
§  nút chu kép,
§  nút s 8
§  nút m chim
§  nút thòng lng
§  nút ngnh trê (ni ch câu, ông câu)..

f)        Ghi chú:

§  Nút chu đơn hay nút đơn có nơi còn gi là nút rui là mt gút cơ bn và c xưa nht. Vì vy nó cũng là nút ph biến nht  và có nhiu ng dng nht. Ngay c khi quên cách làm gút s 8 (hoc thòng lng) khoen  lu bn cũng có th dùng nút chu đơn mà không phi đn đo (tt nhiên không an toàn bng).
§   Đng bao gi s dng nút chu đơn nếu như bt buc sau này phi tháo nó ra. Có nhiu nút thay thế chu đơn mt cách tin li, hiu qu mà li d tháo g.

2- NÚT CHU KÉP
a)      Tên khác : NÚT THẦY TU
b)      Tên tiếng Anh :  Double Overhand  Knot

c)       Thể loại :
-       Trang trí
-       Buộc , treo
d)      Công dụng :
Công dụng giống nút chịu đơn nhưng  để lại nút to hơn , chắc chắn hơn .
Ngày xưa các thầy tu thường kết  nút này làm tràng hạt , vì thế nút chịu kép còn được gọi là NÚT THẦY TU  (Capucine)

e)     Ghi chú :

§  Gút mỏ chim (hay vành tai) là một gút chịu đơn được thắt bằng dây đôi (sử dụng 2 dây chập lại để thắt gút chịu đơn). Có người gọi gút mỏ chim là gút chịu kép điều này là một ngộ nhận về mặt ngôn ngữ. Trong tiếng Anh người ta phân biệt rất rõ ràng, gút mỏ chim (one-sided overhand bend) là một gút thuộc thể loại nối khác hoàn toàn với gút chịu kép là một gút thuộc thể loại đầu dây.

           3- NÚT SỐ 8
    a) tên tiếng Anh :  figure-of-eight knot 
Giống như nút chịu đơn , nhưng do có xoắn thêm một vòng nên chắc chắn hơn .
Ứng dụng làm thang dây .


Nút dây này phát triển từ cách làm nút số 8 thông thường.
Công dụng: sử dụng là nút chặn dây khi leo núi.






            4- NÚT THỢ DỆT 
  a) Tên tiếng Anh : sheet bend , becket bend .


 b) Công dụng : Nút thợ dệt dùng để nối những đầu dây có tiết diện không bằng nhau
 c) Ứng dụng :  trong nối dây hay đan lưới
Ngoài ra để chắc chắn hơn ta có thể dùng nút thợ dệt kép bằng cách thêm một vòng dây



5- NÚT THUYỀN CHÀI 
 a) Tên khác NÚT QUAI CHÈO 
 b) Tên tiếng Anh : clove hitch
 c) thuộc nhóm buộc - treo


d) công dụng
- sử dụng buộc , treo hoặc siết vật dụng 

- Cố định một đầu dây vào vật 
e)  ng dụng : 
-          Dùng cột đầu dây vào cọc hoặc thân cây
-          Dùng neo thuyền ở ven bờ sông
-          Dùng căng dây ở trụ lều
-          Bắt đầu và kết thúc các nút tháp để cố định dây

-           Đan băng ca  tải thương 

-          Đan dây trang trí 


f)Ghi chú: 
  • Tên gút Thuyền chài được xuất phát từ việc nó được ứng dụng thực tiễn, rộng rãi trong việc neo thuyền. Đặc biệt đối với các dây thừng kích thước lớn, dùng gút thuyền chài cực kỳ chắc chắn
  • Gút thuyền chài rất hữu dụng, chúng ta có thể để dàng thay đổi vị trí của gút trên dây và chiều dài 2 đầu dây, bằng cách xoay sợi dây xuôi theo chiều của gút
  • Ngoài ra, gút thuyền chài được ứng dụng rộng rãi trong buộc buộc hoặc khóa 1 vật, do đặc tính khi siết lại thì rất chặt, nhưng rất dể dàng khi tháo gỡ

6- NÚT GHẾ ĐƠN 
a) Tên khác : Còn gọi là NÚT THÒNG LỌNG KHÔNG XIẾT 
b) Tên tiếng Anh :  Bowline knot 
Đây là một nút dây khi tạo ra sẽ cho ta một vòng tròn cố định , thường dùng khi buộc dây thừng
quanh vào người hay vật mà không sợ vòng dây tuột và xiết chặt vào .


      c) Công dụng :
      - Làm một vòng tròn cố định ở đầu một sợi dây mà không sợ vòng dây bị chạy tuột lên hay xuống
      - Dùng để kéo người từ dưới thấp lên.
      - Ném cho người sắp chìm dưới nước để kéo họ vào.
      - Làm dây an toàn khi leo núi hay làm việc trên cao.

d)  Ghi chú: 
  • Nếu ta dùng nút thòng lọng dẽ gây đên chuyện dây thít vào con vật hoặc người dẫn đến nghẹt thở.... Nút dây càng chắc khỏe thì sẽ càng không bị thít vào hay bung ra.
  • Bạn nên tập thắt nút này chỉ bằng 1 tay vì khi chính bạn bị thương 1 tay bằng 1 tay còn lại bạn phải thắt được nút này để các bạn khác kéo mình lên.
  • Biến thể : Gút ghế đơn biến thể thành nhiều dạng tùy theo các ứng dụng khác nhau.
  • Thế ngồi trên gút Ghế đơn được biểu thị qua hình vẽ trên đây.
  • Để yên tâm hơn người ta đã làm ghế đơn đôi hay thắt thêm vòng chịu trên đầu ghế; hoặc 2 vòng để ngồi trên đùi 
Sau đây là cách làm nút ghế đơn bằng một tay 




  7- NÚT GHẾ KÉP 
          a) Tên tiếng Anh :  Bowline on a bight

Là một nút dây tạo ra một cặp vòng tròn cố định  ở khoảng giữa dây thừng . Lợi ích là hai vòng tròn không bị tuột và có thể tháo ra dễ dàng .


    b) ứng  dụng

Nút dây này có thể được dùng để tạo vòng bám chân (toe hold) ở giữa dây thừng. 
Làm vòng ghế an toàn trong cứu hộ, tiện lợi và dể chịu hơn nút ghế đơn. Mỗi vòng có thể dùng cho mỗi đùi chân và phần trên choàng qua ngực để giữ an toàn.




8- NÚT NỐI DÂY CÂU
a) Tên tiếng Anh : fisherman 's knot
Là một nút dây đặc dụng  dùng để nối hai sợi dây lại với nhau .Nó đơn giản là hai nút đơn, một nút đơn giữ quanh sợi dây bên phải và nút kia giữ quanh sợi dây bên trái. Xiết chặt lần lượt mỗi nút đơn. Sau đó kéo căng hai đầu sợi dây vừa được nối sao cho hai nút đơn chạy gần lại với nhau.


b) ứng dụng
 -  Dùng để nối hai đầu dây câu (dây cước ) , dây trơn láng .
     Nó đòi hỏi một chút khéo léo để thắt và vì vậy nó thường được dùng với các loại dây vật liệu chắc chắn. Khi được buộc xong, nó khá gọn và đầu mút dây ló dài ra ở ngay nút vừa thắt có thể được cắt gọn sát vào. Những tính chất này làm nó rất hữu dụng để nối dây câu. Nó cũng có thể dùng để nối hai sợi dây trơn láng, có tiết diện không bằng nhau hoặc bằng nhau
- Có thể ứng dụng làm kéo màn sân khấu .


NÚT NỐI DÂY CÂU ĐÔI

Giống như nút nối dây câu nhưng chắc hơn do vòng thêm một vòng


                                                                                            (còn  tiếp)

HÃY TÔN TRỌNG Ý KIẾN CỦA PHỤ NỮ



Vua Arthur vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết.


Câu đố là: Phụ nữ thật sự muốn gì? Đó là câu đố mà có lẽ đến nhà thông thái nhất thế gian này cũng phải bó tay. Và với Arthur câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.
Khi trở về Anh  quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa, các cô gái mại dâm, các vị cha xứ đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Điều mọi người khuyên vua là đến hỏi bà phù thuỷ già bởi vì có lẽ chỉ còn bà ta mới giải được câu đố hóc búa đó.
Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain hiệp sĩ dũng cảm của Hội bàn tròn, bạn thân nhất của vua.
Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu vừa bẩn thỉu. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như mụ ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.
Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hi sinh đó của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của vua, sự tồn tại của hội bàn tròn và vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh. Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur cũng nhận được câu trả lời.
Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”.


Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt ra một chân lý. Vua của họ nhất định sẽ được cứu. Quả thật vua nước láng giềng rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình.
Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không có gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy cái tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.
Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng, gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ.

Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với cô lúc cô là phù thuỷ, nên để thưởng cho chàng hiệp sĩ, cô sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng trong một nửa thời gian của 24 giờ một ngày.

Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay ban đêm. Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cânhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này.

Garwain đã trả lời “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”.

Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng ta nói rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

PHỤC SINH HẠNH PHÚC






  "Happy Easter!" 

    (Phục sinh Hạnh phúc.)


"Chúa Kitô đã sống lại. Tôi thật vui sướng thông báo tin lành này... Tôi muốn tin lành ấy đi đến mọi nhà và mỗi gia đình, đặc biệt là tới những nơi đau khổ lớn nhất, tới các bệnh viện, và vào trong các nhà tù. ...........
Chúng con cầu xin Chúa Giêsu phục sinh, người biến cái chết thành sự sống, hãy biến đổi căm hận thành tình yêu, oán thù thành sự tha thứ, chiến tranh thành hòa bình.


           (Lời nguyện cầu của Đức Giáo Hoàng Phanxico  ngày Lễ Phục Sinh 2013)



tại Rome

tại Hà Nội


tại Sài Gòn


Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2013

NIỀM TIN PHỤC SINH

                                       
 Niềm tin vào Ðấng Phục Sinh
Sr. Inê      Nguồn: www.btinternet.com
Niềm Tin Vào Ðấng Phục Sinh
Cv 10,34a. 37-43; Cl 3,1-4 hay 1Cr 5,6b-8; Ga 20,1-9

Một em bé hỏi mẹ về đứa em mới chết hiện đang ở đâu ?
Người mẹ đáp: -Em con đang ở trên thiên đàng với Chúa Giêsu.

Mấy ngày sau, bà mẹ nói chuyện với bạn bè tỏ ý đau buồn khi nhắc đến đứa con mới mất.
Em bé ngạc nhiên hỏi mẹ: -Khi mẹ mất vật gì tức là mẹ không biết nó đang ở đâu phải không mẹ?
Bà mẹ đáp: -Phải.
Bé nói tiếp: -Mẹ biết em con đang ở với Chúa, sao mẹ lại nói là em con đã mất ?
Bà mẹ chợt tỉnh, không còn đau buồn nữa mà ý thức con mình đang vui hưởng hạnh phúc thiên đàng cùng Chúa Phục Sinh.

Thật vậy, Chúa Ki-tô đã Phục Sinh như trong tin mừng Gio-an 20,1-9 đã tường thuật một cách tỉ mỉ như một nhân chứng đã mắt thấy tai nghe, diễn tả hành trình mà các tông đồ, cụ thể là 3 nhân vật: Ma-ri-a Mac-đa-la, Phê-rô và Gio-an đã trải qua để tiến đến niềm tin "Chúa đã Phục Sinh". Chúng ta có thể suy niệm về vai trò của Phêrô và Gioan trong ý nghĩa về Giáo hội học. Nhưng hôm nay chúng ta lưu ý đến chính cuộc phục sinh của Chúa Kitô và ý nghĩa của biến cố này.

Thánh Phao-lô quả quyết: "Nếu Chúa Kitô không sống lại thì niềm tin của chúng ta là điều vô ích, ...chúng ta là những người khờ dại nhất vì chúng ta tin tưởng vào một điều hão huyền" (1Cr 15,12-19).

Vậy Phục Sinh là gì ? Ðâu là ý nghĩa của biến cố Phục Sinh ?

Phục Sinh không có nghĩa là hồi sinh trở về đời sống cũ, giống như trường hợp con trai bà góa thành Na-im (Lc 7,11-17), con gái ông Gia-ia (Lc 8,40-56), và đặc biệt là ông La-za-rô (Ga 11,1-45). Cả ba trường hợp này người chết đều sống lại, nhưng đó chỉ là trở lại với đời sống cũ, có nghĩa là một ngày nào đó họ cũng phải theo cái số phận chung của loài người là phải trở về với bụi đất. Họ vẫn còn nằm dưới quyền của sự chết.

Trường hợp của Chúa Giê-su hoàn toàn khác hẳn. Quả thực, Ngài đã chết nhưng khi nói rằng Ngài Phục Sinh, có nghĩa là Ngài hoàn toàn chiến thắng sự chết, Ngài không sống lại một thời gian để rồi chết lại. Sống lại đối với Chúa Giêsu có nghĩa là mặc lấy sự sống sung mãn mới mẻ đến độ sự chết không còn chi phối nữa, cũng không định luật tự nhiên nào có thể chi phối được Ngài. Nhưng quan trọng hơn nữa, Chúa Kitô Phục sinh trở nên nguồn sự sống và sự sống lại của chúng ta. Ðiều Chúa nói trước đây: "Ta là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11,24) bây giờ trở nên sự thực qua việc Chúa sống lại.

Là những chứng nhân của Ðấng Phục Sinh các môn đệ Ðức Giê-su đã ra đi khắp nơi để rao giảng Tin Mừng của Ngài, Tin Mừng ấy là: Ai tin nhận Ðức Giê-su, tuyên xưng Ngài là Chúa và sống theo giáo huấn của Ngài, người đó cũng sẽ được Phục Sinh như Ngài. Ngày nay tất cả mọi người tín hữu trên khắp thế giới đều được liên kết bởi cùng một niềm tin, đó là là niềm tin vào sự Phục Sinh của Ðức Giê-su Ki-tô. Chính niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, hướng dẫn các Ki-tô hữu bước qua tăm tối và giúp cho họ sống vui tươi, can đảm, và kiên nhẫn trong mọi nghịch cảnh.

Lạy Chúa Ki-tô Phục Sinh, Ðấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, xin ban cho chúng con niềm tin mãnh liệt vào quyền năng Phục Sinh của Chúa. Xin cho chúng con sáng suốt nhận ra Ngài trong mọi biến cố cuộc đời. Nhất là xin cho chúng con luôn hăng say loan báo và làm chứng cho Ngài bất chấp mọi thử thách gian nan. Amen.

Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2013

THÁNH GIÁ - THỨ SÁU TUẦN THÁNH

           



1.    Thập Giá khác với Thánh Giá
Thập giá và Thánh Giá khác nhau một trời một vực: thập giá là do lòng hận thù độc ác của loài người sản xuất ra, còn Thánh Giá là do lòng yêu thương vô bờ vô bến của Thiên Chúa sáng tạo nên. / Trước khi trở thành Thánh giá, thập giá là hai miếng gỗ sù sì, trần trụi, gồ ghề, nặng nề, bắt chéo vào nhau như một hình chữ thập, dùng để giết người một cách rất  dã man. Thập giá là hình khổ kinh khủng nhất, do người Rôma độc ác bày ra để hành hạ và giết chết những kẻ phản loạn, những người nô lệ, những ai bị họ đặt ra ngoài vòng pháp luật. Thập giá ghê tởm nầy, cách đây hơn 2000 năm, đã được Chúa Giêsu vác lên Núi Sọ và bị đóng đinh chết vào đó. Và kể từ đó, kể từ khi Con Đức Chúa Trời chịu đóng đinh chết tất tưởi trên thập giá, thì thập giá đã trở nên Thánh Giá lạ lùng. Lạ lùng đến nỗi loài người không thể nào hiểu được và không thể nào cắt nghĩa được. / Trước, thì thập giá quá đên tối, quá kinh tởm, quá tủi nhục; nay, thì Thánh Giá quá sáng chói, quá hấp dẫn, quá cao sang. / Trước, thì thập giá chỉ có mặt nơi tử địa, nơi pháp trường, nơi những chổ đê hèn nhục nhã; nay, thìThánh Giá có mặt khắp nơi, nơi trang trọng nhất, nơi cao sang nhất. / Trước, thì thập giá bị chối từ, bị nhờm gớm; nay, thì Thánh Giá được ôm ấp, được ao ước, được mang nơi ngực, được đeo nơi cổ, được hôn kính dấu yêu. Trước, thì thập giá được làm bằng lọai gỗ sần sù, lởm chởm; nay, thì Thánh Giá được làm bằng vàng, bằng bạc, bằng mọi thứ kim loại đắc giá nhất trên đời nầy.
2.    Vì sao người Công Giáo chúng ta lại dành cho Thánh Giá một địa vị vô cùng đặc biệt như thế?
Vì trên Thánh Giá, Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa làm người, vì yêu thương loài người quá bội, nên đã nộp mình chịu chết để cứu chuộc loài người, để cho loài người được sống.
3.    Nhìn lên Thánh Giá, người Công Giáo chúng ta thấy hai chữ gì?
Nhìn lên Thánh giá, người Công Giáo chúng ta thấy hai chữ ĐAU KHỔ. / Trên thánh giá, Chúa Giêsu nếm chịu mọi nỗi đau khổ: đau khổ vật chất (bị lột hết áo quần ra, không một mãnh vải che thân); đau khổ thể xác (từ trên đỉnh đầu cho đến dưới bàn chân, chẳng chổ nào là chẵng xể xài rách nát, cùng bày xương ra...); đau khổ tinh thần (bị sĩ nhục, bị bỏ vạ, bị cáo gian, bị chửi rủa thậm tệ); đau khổ tâm hồn (thấy trước đủ mọi tội lổi tầy trời của loài người chống lại Thiên Chúa, thấy trước mọi vong ân bội nghiã của loài người đối với Thiên Chúa ); đau khổ tình cảm (thấy những người thân yêu, nhất là Mẹ yêu dấu của mình, đang ở dưới chân mà không an ủi gì được).
4.    Nhìn lên Thánh Giá, người Công Giáo thấy hai điều trái ngược nào?
Nhìn lên Thánh Giá, người Công Giáo chúng ta thấy hai điều trái ngược: Vô Tội - Bị Kết Án. / Đấng vô tội, bị kết án; Đấng công chính, bị vu cáo; Đấng vô cùng thánh thiện, bị đày ải; Đấng cao sang vô cùng trên trời dưới đất, bị hành hạ, bị đóng đinh chết; Đấng toàn năng, phép tắc vô cùng, bị sĩ nhục; Đấng giàu có vô cùng, bị trần truồng nhuốc hổ; Đấng sáng láng vô cùng, bị tối tăm vây phủ; Đấng là sự sống, thì nay lại tắt thở và chết. / Nhưng, sau khi nếm cái chết chẳng đủ ba ngày, Chúa Giêsu sống lại, đánh bại tủ thần, và ban cho những ai biết đi theo Ngài trên Con Đường Thánh Giá và bằng lòng chết với Ngài trên Cậy Thánh Giá, được sống lại và sống muôn đời.
5.    Truyện - Sợ Thánh Giá là nỗi khổ nhất của chúng ta
Thánh Vianê nói rằng sự sợ Thánh Giá là nỗi khổ nhất của chúng ta. Ngài nói như sau: “Trên con đường của Thánh Giá, chỉ có bước đầu mới gay go. Sợ Thánh Giá là nỗi khổ nhất của chúng ta. Phần đông loài người từ chối Thánh Giá và tìm cách chạy trốn. Nhưng họ càng chạy trốn thì Thánh Giá càng đuổi theo họ, càng tấn công họ, càng đè nặng trên mình họ, … Vậy chúng ta hãy tiến lên để đón lấy Thánh Giá như thánh Anrê khi thấy Cây Thánh Giá quân lý hình đang dựng lên trước mặt: “Kính chào Thánh Giá đáng yêu, đáng chuộng! Chớ gì Thánh Giá hãy đón nhận tôi và trao tôi về với Thầy tôi là Đấng sẽ dùng Thánh Giá để cứu chuộc tôi.
6.    Truyện - Thánh Giá riêng của mỗi người chúng ta
Thánh Giá Chúa cho chúng ta đang mang là Thánh Giá rất vừa sức chúng ta. Câu chuyện minh họa sau đây chứntg minh điều nầy. / Có một người luôn than van về những nỗi khổ cực của mình. Một tối kia, Chúa sai thiên thần hiện đến, phán bảo ông ta: “Con hãy theo ta ra nghĩa địa, nơi đó, người ta để lại Thánh Giá của mình rất nhiều. Con hãy mang Thánh Giá của con ra đó và hãy lựa một Cây Thánh Giá khác cho vừa sức con.” / Ông ta vui mừng, đem thánh giá của mình ra quăng nơi nghĩa địa và quyết đổi lấy một cây cho vừa sức mình. / Ông hăng hái lựa chọn, nhưng lựa mãi vẫn không được: có cây quá dài, khó vác; có cây quá ngắn, cũng khó vác; có cây nhẹ nhưng lại sù sì, lởm chởm, khó vác; có cây trơn tru nhưng lại quá nặng.  / Ông lựa suốt đêm mà không được. Cuối cùng, ông nói với thiên thần: “Thưa thiên thần, đối với con, cây nào cũng khó vác. Chỉ có cây mà con định vất đi, là vừa sức con mà thôi.” / Thiên thần gật đầu: “Phải, Chúa đã trao cho con một Cây Thánh Giá vừa sức con, con hãy cám ơn Chúa và vui lòng vác nó. Chúa rất thương con. Từ nay, con đừng than van nữa nhé!
7. Truyện – Thánh Giá là suối nguồn ban sức mạnh
Cha Giuseppe da Lionessa, thuộc Dòng Phanxicô, sắp sửa lên bàn mổ để được giải phẩu vết thương. / Thấy các nhân viên y tá đem giây ra để trói ngài lại trước khi đưa ngài lên bàn mổ, cha Giuseppe da Lionessa cầm tượng Chúa Giêsu Chịu Đóng Đinh và nói: “Giây thừng làm gì, giây thừng làm gì? Đây là những giây trói của tôi: Chúa tôi đã bị đóng đinh vì yêu tôi, chính Ngài dùng những nỗi đau đớn của Ngài để ôm chặt tôi và giúp tôi chịu dựng mọi khổ cực vì lòng yêu mến Ngài.” Và cha Giuseppe da Lionessa im lặng đau đớn chịu giải phẩu...
8.    Đối với người công giáo chúng ta, Thánh Giá của Chúa Giêsu là nguồn hy vọng rạng ngời, là nguồn hạnh phúc vô biên.
Người công giáo chúng ta tung hô Thánh giá là Cây đã chuộc muôn dân đặng rỗi, là Cây làm cho kẻ có phước được phần vui mừng, là Cây làm cho kẻ có tội được lòng trông cậy, là Cây làm cho kẻ yếu đuối được nhờ sức mạnh, là Cây làm cho kẻ khốn nạn được sự an lành, là Cây tốt lành rất mực, diềm dà im mát, bóng che thiên hạ khỏi chốn hỏa hình; là gươm giáo dẹp giặc linh hồn, khử trừ đánh diệt tam cừu oan gia, sát phạt tà ma, thịt mình, thế tục; là chìa khóa mở cửa thiên đàng, đưa chúng ta vào nơi Quê Thật.
9.    Thánh Giá gồm Ba Mầu Nhiệm Cao Siêu Nhất trong Đạo Công Giáo
Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi + Mầu Nhiệm Ngôi Hai Xuống Thế Làm Người +  Mầu Nhiệm Thiên Chúa Cứu Chuộc Loài Người. / Từ Ba Mầu Nhiệm Cao Siêu Nhất này, người Công Giáo rút ra tất cả những gì phải tin, phải giữ và phải sống theo để cho được xứng danh là người theo Chúa Giêsu Kitô.
10.           Thánh Giá dạy người Công Giáo chúng ta những bài học mà Chúa Giêsu đã truyền dạy phải sống và thi hành
Hình thẳng hướng lên: Hãy sống mến Chúa! / Hình ngang rộng ra: Hãy sống yêu người! Tay Chúa giăng ra: Hãy rộng mở đôi tay đối với mọi người, không xua đuổi ai; hãy tha thứ mọi xúc phạm của người khác đối với chúng ta, không loại trừ xúc phạm nào. / Tay Chúa bị đóng đinh: Hãy dùng đôi tay để cầu nguyện, để làm việc, để lao động, để giúp đỡ, để bố thí. + Hãy biết đền tội cho đôi tay của mình là đôi tay thường biếng nhác, cắp trộm, đánh đập kẻ khác, dâm ô hèn hạ. / Chân Chúa bị đóng đinh: Hãy dùng đôi chân để đi Nhà Thờ, để đi làm việc đạo đức bác ái, để đi làm việc hữu ích. + Hãy biết đền tội cho đôi chân của mình là đôi chân thường đi vô ích, đi đến nơi tội lỗi, đi đến với kẻ phạm tội. / Tim Chúa bị đâm thủng: Hãy thắp lửa mến Chúa và yêu người trong trái tim của mình. + Hãy tắt lửa dục tình trong lòng mình. + Hãy biết ăn năn thống hối về những tội mình đã vô tình và vô ơn đối với Chúa.
11.           Người Công Giáo chúng ta đối với Cây Thánh Giá và đối với Hình Thánh Giá thế nào?
Người Công Giáo chúng ta hãy đặt Thánh Giá nơi chỗ cao trọng nhất trong nhà mình. / Hãy đeo Thánh Giá trên ngực là nơi đầy ý nghĩa nhất trong con người của mình. / Hãy làm Dấu Thánh Giá trên con người của mình, làm một cách nghêm trang, trân trọng, khoan thai, sốt sắng, và làm cho ra Một Hình Thánh Giá cân đối. / Hãy năng nhìn lên Thánh Giá để tỏ lòng yêu mến Chúa Giêsu đang đau khổ vì tội lỗi của loài người. / Hãy luôn mang Thánh Giá trong tâm hồn mình để tỏ lòng yêu mến Chúa Giêsu, luôn mang Thánh Giá trong đầu óc mình để suy niệm về tình Chúa Giêsu yêu thương loài người. / Và nhất là, trong cuộc sống của mình, người Công Giáo chúng ta hãy luôn sống và thực hành những bài học của Thánh Giá Chúa Giêsu.
Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang góp ý
                                                           ( tonggiaophanhue.net )

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2013

LỄ PHỤC SINH Ở QUÊ TÔI

                                 
                             


LỄ PHỤC SINH Ở QUÊ TÔI

Lễ Phục Sinh ở quê tôi khi xưa là những gì thật đáng nhớ.
Cách nay khoảng hai phần ba thế kỉ, nghĩa là trước vụ đói tháng Ba năm 1945, khi ấy còn thời Pháp thuộc, tôi đang cắp sách đi học trường làng ngày hai buổi, ngây thơ và hồn nhiên với lũy tre xanh, với những sinh hoạt bình thường trong xứ đạo, với những phiên chợ thật đông người, súc vật và hàng hóa và với những ngày hội của làng, của tổng, của ngôi chùa làng cổ kính thỉnh thoảng có một cuộc rước linh đình.
Bọn trẻ chúng tôi không biết mùa chay bắt đầu từ  ngày nào, khi cha mẹ, ông bà bữa đó bảo, thứ tư này lễ Tro, thứ sáu này chúng mày phải ăn chay, kiêng thịt đấy nhé thì cứ thế mà làm.
 Cả gia đình ăn chay, từ ông cụ bà cụ 70 cho đến đứa cháu 7, 8 tuổi. Chỉ những đứa bé ba, bốn, năm tuổi hoặc ốm yếu, đang bị bệnh hay người đàn bà đang phải dùng sữa mẹ nuôi con thì mới được nhưng trừ mà thôi.
Ăn chay dạo đó thế này.
Thay vì sáng ra ăn cơm thì phải nhịn, nhịn mà làm việc thì cũng hơi khó nên phải cố gắng. Những việc nặng nề như cày, bừa, cuốc đất, gánh đội v.v...không làm vào những ngày thứ sáu đó mà lựa những việc nhẹ nhàng hơn như cào cỏ, săn sóc vườn tược, phát bụi tre, sửa chuồng gà, chuồng lợn... để có thể làm được với cái bụng trống không từ buổi sáng đã quen ăn trước khi ra đồng.
Mười hai giờ trưa, khi chuông nhà thờ đổ một hồi dài, cả nhà quây quần ăn bữa cơm chính trong ngày, được ăn no.
Vùng quê tôi, bữa trưa này người ta thường nấu canh khoai, một loại môn, có loại hơi ngứa nên cũng gọi là khoai ngứa, có loại không. Khoai nấu với cá hoặc tôm, tép và mắm tôm, mắm tép. Nồi cơm và nồi canh khoai ngứa đều to để cả nhà, thường cả chục người, ăn cho đủ no. Thức ăn mặn thì tùy theo cái gì có hoặc đi mua: cá rô, cá diếc kho, tôm tép kho...miễn không phải là thịt và một đĩa giưa cải bẹ nén chua hoặc cà nén...
Nếu không nấu canh khoai, mẹ tôi nấu một nồi canh chua, có cá lác, bắp cải, cà chua, lá me đất cho chua, rau ngổ. Cá lác chỉ nhỏ bằng ngón tay trỏ, chỉ có một cái xương sống, thịt nhiều và thơm. Thứ canh này nấu với cá lác rất hợp. Mùa này đã nhiều nhót, mẹ tôi còn cho thêm vào nồi canh dăm quả nhót, cho chất chua rất ngon.
Nhót khi chín mầu đỏ như cà chua, hình bầu dục, nhỏ như trái trứng gà con so; khi ăn phải cạ nó vào tay áo hay khăn mặt khô cho những cái lấm tấm trên vỏ bung ra, xong mới ăn. Mấy người đàn bà có thai thích ăn trái nhót vì nó chua chua giốt giốt rất ngon. Cây nhót nhỏ như cây hoa nhài, cành mềm la đà trên mặt đất, rất sai trái.
Ăn xong bữa trưa, nghỉ ngơi vài chục phút rồi lại bắt tay vào làm cho đến chiều khoảng 5 giờ thì có một bữa nhỏ nữa. Bữa này người lớn được ăn một bát (chén ăn cơm), trẻ con non một bát với chút rau luộc, giưa nén, tép kho ... Ăn xong là đứng lên mặc dù cái bụng còn đói nguyên. Nước chè tươi, chè khô được uống thả dàn. Sau đó mặc quần áo đến nhà thờ đọc kinh tối.
Các thứ sáu trong mùa chay đều như thế, thứ tư Lễ Tro cũng ăn chay, kiêng thịt. Có nhiều người ở Hoa Kỳ hiện nay, ăn chay sướng hơn ăn mặn. Ăn mặn thì thịt gà khoảng một đô-la một pound. Kiêng thịt, quay ra ăn cua “king crab” hoặc tôm hùm, khoảng 10 đô/pound, hay cá salmon cũng phải 5-7 đô/pound. Ăn như thế, theo tôi, có lẽ không nên gọi là ăn chay. Ăn chay bên Phật giáo, người ta chỉ đậu hũ, tương chao, rau muống luộc. Thời Chúa khi xưa, kiếm mấy con cá thì dễ mà kiếm miếng thịt bò, thịt gà thì khó nên mới buộc không được ăn thịt vì thịt cao cấp hơn. Chứ nếu kiêng thịt để ăn tôm hùm, “Alaska king crab” và cá thu sốt chua ngọt thì ăn thịt gà 7-8 chục cents/pound mà lại đánh xác hơn! Chúng ta nên để ý điều đó!
Riêng tuần Thánh, mọi sinh hoạt phụng vụ đều khởi sắc rõ rệt.
Chiều thứ năm, chúng tôi đi dự lễ Rửa chân, thường cha xứ chủ sự lễ này với tông đồ là mười hai vị trùm trưởng cao niên, vị vọng trong giáo xứ. Khi nào thầy tôi về thăm quê vào dịp Phục sinh, thầy tôi cũng được mời mặc áo tấc tím, đội khăn xếp chữ nhân, quần chúc bâu trắng, đi giầy Gia định để làm một ông thánh tông đồ của Chúa khi xưa.
Dạo ấy, nhìn nghi lễ này, bọn trẻ chúng tôi chỉ có ý nghĩ là giáo hội muốn nhắc lại những gì xưa Chúa Jesus Christ đã làm cho các tông đồ và cộng đoàn của Ngài. Nhưng sau này, khi lớn lên, đầu óc đã trưởng thành, tôi mới thấy ý nghĩa đích thực của Lễ Rửa chân.
Cái ý nghĩa sâu xa, theo tôi nghĩ, là Chúa muốn cho ta tập đức khiêm nhường. Một người cao trọng, quyền năng, thông thái xa vời như Ngài, ngay với Cộng đoàn và các tông đồ của Ngài, lại quì xuống rửa từng bàn chân lấm láp của môn đệ mình. Phải có một tấm lòng khiêm nhường thế nào mới làm được điều đó.
 Ngài cũng cho mọi người biết rằng, nếu Ngài có thể rửa chân cho mọi người thì mọi người cũng nên rửa chân cho nhau, hay là phục vụ nhau như Ngài đã phục vụ mọi ngưòi. Khi đã rửa chân cho nhau thì “cái ta” kênh kiệu, kiêu căng, phách lối, làm tàng, kể công, ỷ thế không còn nữa mà tất cả chỉ còn là thương yêu và bình đẳng bởi mọi hố ngăn cách, chia rẽ, đố kị, ngay cả hận thù đã được san bằng.
Chính khi con người làm việc rửa chân cho bạn hữu, cho cả những người xa lạ chưa hề quen biết mà con người thấy một niềm vui vô tả trong lòng là đã ăn ở khiêm nhu, trọng người khác và yêu thương người khác như người thân của mình (tôi không dám nói như chính bản thân mình, như Chúa dạy, vì nó cao quá.)
Ngày nay con người thiên về vị kỉ, thần thánh hóa chính mình và bắt những người thuộc quyền phải tôn thờ mình, tôn thờ cả những cái ngu dốt và độc đoán của mình, cả những cái kiêu căng phách lối hợm hĩnh của mình. Mọi người, kể cả vua chúa, chức quyền đời, đạo, tôi nghĩ, nên học thuộc câu phương ngôn Pháp:
Cái tôi là cái đáng ghét.
(Le moi est haissable – The self is hateful)
 Lễ Rửa chân của Chúa chính là một bài học cho chúng ta và cho những người đó bởi khiêm nhu là nhân đức rất khó tập thành. Có những người, từ trong máu đã có bệnh kiêu ngạo, coi người khác như rơm như rác, còn cái gì của mình đều là ngọc là vàng. Từ đó, chúng ta cũng có thể nói:
Kiêu căng là cái đáng ghét – The arrogance is hateful.
Nhất là những kẻ kiêu căng tầm ruồng không có đức tính gì quí đáng để cho người ta học hỏi.
Trở lại với lễ Rửa chân, thỉnh thoảng chúng tôi cũng sang tận tòa Giám mục Bùi Chu dự lễ Rửa chân do chính vị Giám Mục địa phận chủ sự. Từ nhà tôi đi Bùi cũng khoảng 6 km nhưng lúc đó, ở thôn quê đi đâu cũng cuốc bộ, giầu cũng như nghèo, nên coi là xa.
Ngày thứ sáu, buổi tối, ở mỗi nhà thờ có ngắm 15 sự thương khó Đức Chúa Giêsu. Người ta thiết lập một cái bàn cao phủ vải tím, đồng mầu với màn treo trong nhà thờ. Một bục cao hai, ba bậc để người lên ngắm trèo lên đứng trên đó, cuốn sách ngắm đã mở sẵn, nhìn vào sách mà đọc, mà ngân nga theo đúng âm điệu của “ngắm đứng” (cũng gọi là ngắm nhân tài) cho đến hết bài ngắm.
 Phía sau cái bàn này là một cụ già hoặc trùm trưởng trong xứ thạo về ngắm đứng, hễ nghe một âm điệu hay thì điểm một tiếng trống con thưởng cho người đang ngắm như kiểu trống chầu trong các nhà cô đầu. Người nào có nhiều tiếng trống thưởng có nghĩa ngắm hay. Khi nghe người ngắm đọc tiếng Amen nghĩa là bài ngắm đã dứt thì cả trống con, trống cái nổi lên một hồi râm ran nghe rất vui, bọn trẻ chúng tôi rất phấn khởi. Và phía phụ nữ trong nhà thờ đọc một kinh Lạy Cha, một kinh Kính mừng (không có Sáng danh) để nhân tài chuẩn bị bài ngắm kế tiếp.
Bên ngoài nhà thờ không thiếu gì người ngồi, đứng, trò chuyện từng nhóm. Họ cầm trí ở trong nhà thờ cả tiếng nay phải ra ngoài xả hơi một chút, nói chuyện nhỏ nhỏ, kiếm nước uống rồi lại vào nghe ngắm tiếp. Đám thanh nam khá đông, còn đàn bà chỉ những người có con nhỏ, chúng khóc đòi ra chứ không có bóng dáng các cô gái. Phụ nữ Việt khi xưa vẫn được tiếng là hiền thục, ngoan ngoãn hầu hết. Không hiểu ngày nay ra sao với trào lưu mới, có còn giữ được nếp cũ của truyền thống tốt đẹp khi xưa?
Người lớn ăn chay nhưng trẻ con nhỏ nhỏ chúng đâu có chịu ăn chay ăn vỏ gì. Xung quanh nhà thờ vẫn có những hàng bánh kẹo, như bánh chưng, bánh dầy giò, xôi, bánh dầy đỗ, bánh rán, kẹo bột, kẹo gừng, kẹo vừng, sâu dâu v.v...có khi cả phở, mấy bà mẹ muốn con không quấy để suy ngắm bắt buộc phải mua vài hào cho  chúng ăn mới yên.
Đêm thứ sáu, khoảng 10 giờ hay 11 giờ, nghi thức đóng đinh Chúa sau khi 15 ngắm đã xong. Giáo dân tập họp cả trong nhà thờ, đông kín không còn một chỗ trống. Vị Linh Mục đọc hoặc nói lại sự tích Chúa bị đóng đinh. Rồi ở đàng sau bức màn nơi cung thánh, người ta nghe những tiếng búa nện trên đinh như thiệt. Sau đó sáu, bảy người ăn mặc theo lối La Mã khi xưa, dựng cây thập tự lên, trên đó Chúa, máu me đầy mình và mạo gai trên đầu, đã bị đóng đinh. Vì xứ tôi có nhiều nhà gọt tượng gỗ và đúc tượng thạch cao, tượng chịu nạn này to gần như người thật.
Có những tiếng khóc nhỏ nhỏ ở bên dưới vì thương Chúa chịu khổ hình vì tội loài ngưòi.
Các khu trong giáo xứ phân chia giờ giấc để luôn luôn trong nhà thờ lúc nào cũng có một nhóm đọc kinh hoặc suy ngắm những sự thương khó Chúa cho đến sáng mai.
Ngày thứ bảy là ngày đi hôn chân Chúa. Người lớn, trẻ con rủ nhau đi từng nhóm đến  nhà thờ giáo xứ và các nhà thờ trong vùng đọc kinh và lên hôn chân Chúa, thường đặt nằm trong cỗ quan tài, để hai chân với tư thế bị đóng đinh ra cho  giáo dân hôn vào ngay chỗ vết đinh, trên đó đã có xức dầu thơm và nhất là xung quanh Chúa, người ta lấy hoa soan và nả bỏ đầy.
Hoa soan mầu tím nhạt, cùng họ với hoa dạ hương, mùi thơm tuyệt vời, nhẹ hơn mùi dạ hương, dùng ướp xác Chúa thì không còn thứ hoa nào hợp hơn. Ngoài hoa soan, người ta cũng còn rang thóc, gọi là nổ (nả), hay bắp rang, bỏ vào xung quanh Chúa cùng với hoa soan. Trẻ con lên hôn chân Chúa nhiều lần không biết vì thuơng Chúa thực hay vì những hạt nổ, hạt bắp rang rất hấp dẫn?  Dù sao, phải có trẻ con  lễ Phục Sinh mới vui và trẻ con đã thật vui với những kỉ niệm dễ thương và khó quên đó.
Chiếu thứ bảy, giáo xứ nào cũng rước Thánh giá đi đường kiệu xung quanh. Sau đó người ta ngắm bảy sự đau đớn của Đức Mẹ.
Tùy nơi, khoảng 8 hoặc 9 giờ, giáo dân tụ họp và nghi thức Phục Sinh bắt đầu. Ở Bùi Chu, nhà thờ chính tòa, Giám Mục làm phép nước, lửa, cây nến Phục Sinh, nghi thức thật dài. Sau đó là Chúa sống lại, giáo dân hân hoan kiệu Chúa Phục Sinh xung quanh nhà thờ. Ngày Chủ nhật Phục Sinh, nhà thờ được trang hoàng bằng cờ hội thánh, hoa tươi thật đẹp và đèn nến sáng choang.
Người giáo dân vùng quê tôi, địa phận Bùi Chu và cả giáo dân ở địa phận Phát Diệm có thói quen ăn mừng lễ Chúa Sống lại.
Người ta đánh cá dưới ao lên hay đánh đụng một con lợn, giết vài con gà hay có thể là một con cầy tơ. Bến sông toàn những người mổ cá, mổ chó, mổ gà, mổ ngan ngỗng. Có thể nhiều ngày tháng đã phải ăn uống đạm bạc nhưng đến lễ Phục Sinh, năm một lần, sau những ngày chay ép xác, người chủ gia đình muốn cho vợ con hưởng một chút thịt thà, cá mú, hoa quả ngon lành để cho lên tinh thần và lấy sức mà làm việc, những công việc đồng áng, nuôi tằm hái dâu nặng nề, thức khuya dậy sớm hoặc tất tưởi buôn chợ Đông bán chợ Tây, làm hàng xưng hàng xáo quanh năm.
Thầy tôi chỉ ở nhà được một tuần, tuần Phục Sinh. Trong tuần đó, ngoài những việc lễ lạy phụng vụ, thầy tôi đi kiếm những người chuyên lo về lấy và sao chế các vị thuốc Nam như trần bì, sài hồ, hoàng bá...rất nhiều vị khác tôi chỉ biết mặt nhưng không nhớ tên. Thày tôi mua lại họ để đem ra Hải Phòng hoặc Hà Nội, gia giảm với các vị thuốc Bắc (của Tàu) khi “cắt” thuốc cho bệnh nhân. Thầy tôi nói, nhiều vị thuốc Nam hay lắm nhưng người Việt mình không biết công dụng của nó nên coi thường. Người Tàu bảo: “Người Việt sống trên đống thuốc mà chết”. Thầy tôi biết cách dùng chúng nên nhiều khi thang thuốc không tốn tiền nhiều như toàn vị Bắc nhưng lại công hiệu hơn, bệnh nhân mau khỏi hơn.
Thầy tôi đi Hà Nội hôm trước thì hôm sau tôi xách cặp và lọ mực đi học với nắm cơm mẹ nắm bằng mo cau còn nóng hổi ở trong cặp với vài mảnh cá khô. Đó là tất cả bữa trưa của tôi trong suốt thời gian học tiểu học. khi nào đổi bữa thì có mấy con tôm, con tép kho, lâu lâu mới có nhát giò ăn với xôi và quả cam sành hay quả na (mãng cầu dai) hái từ vườn nhà.
Sau buổi học chiều, khoảng 5 giờ, tôi lại cuốc bộ về. Khi nào trời nắng ráo thì khá còn mưa gió thì đường lầy lội, có chỗ lỗ lội sâu trên đầu gối, lọng ngọng té nằm xoài là bùn trát từ đầu đến chân, mất cả sách vở. Ngày nay ở Hoa Kỳ, nhìn những bữa ăn điểm tâm và những bữa ăn trưa của học sinh tiểu học và trung học, tôi cảm thấy một nỗi buồn cho người Việt mình: nghèo quá! Cái khó nó bó cái khôn. Qua bao nhiêu thứ bệnh tật và ba, bốn cuộc chiến tranh, sống được đến ngày nay là có diễm phúc lắm rồi.
Bữa tối ăn chung với gia đình thật vui, canh, rau đầy đủ để bù lại bữa trưa của tôi chỉ cốt ăn cho no, cho xong rồi học.
Lễ Phục Sinh 2007
Nhà Văn Bút Xuân TRẦN ĐÌNH NGỌC