Vì ơn gọi rất huyền nhiệm, nên nhiều bạn trẻ muốn đi tu hay tìm hiểu ơn gọi nhưng không chắc chắn rằng mình có ơn gọi hay được Chúa gọi không? Nhân dịp Ngày Quốc tế Cầu nguyện cho Ơn Thiên triệu, chúng ta tìm hiểu về chủ đề này.
1. Ơn thiên triệu là gì?
Trước hết chúng ta thử hỏi: Ơn thiên triệu hay ơn gọi là gì?
Thông thường khi nói tới ơn thiên triệu, ta nghĩ ngay tới ơn Chúa gọi ai đó đi tu làm linh mục, thầy dòng, hoặc nữ tu, còn giáo dân không đi tu, họ ở giữa thế gian, nên không có ơn thiên triệu. Chúng ta cần phải xét lại các hiểu đó.
Từ ngữ “thiên triệu” dịch từ tiếng "vocatio" trong tiếng Latinh do động từ "vocare" có nghĩa là kêu gọi, mời gọi.
Khi dùng trong lĩnh vực tôn giáo, "vocatio" thường dùng để chỉ lời kêu gọi của Thiên Chúa gọi người này, kẻ kia làm việc gì theo ý Ngài, nên ta dịch từ "vocatio" là ơn thiên triệu.
Jacque Guillet định nghĩa: “Ơn gọi là tiếng Thiên Chúa mời gọi kẻ Ngài đã chọn uỷ thác làm một công việc đặc biệt trong kế hoạch cứu rỗi loài người và trong vận mệnh của dân Ngài” (trong Vocabulaire de theologie biblique, 1970). Định nghĩa này thu hẹp “lời Thiên Chúa kêu gọi” trong những trường hợp riêng biệt để đảm nhận công việc đặc biệt trong dân Chúa.
Công đồng Vatican II hiểu ơn thiên triệu theo nghĩa rộng: Có nghĩa là tất cả mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi, đều có ơn thiên triệu: làm người và làm Con Chúa, tất cả đều được mời gọi nên thánh. Công đồng xác định đây là ơn gọi phổ quát, một ơn gọi mà tất cả mọi kitô hữu đều được mời gọi hướng tới. Trong Văn kiện Lumen Gentium số 40, Công đồng nói: “Tất cả mọi người tín hữu dù ở cấp bậc đều được mời gọi đạt tới sự thánh thiện”. Chính vì vậy, không chỉ có giám mục, linh mục và tu sỹ, cả giáo dân, tất cả đều được mời gọi đạt tới sự hoàn thiện (LG 39). Cũng theo Công đồng này, trong Giáo Hội có nhiều hình thức của đời sống: ơn gọi linh mục, tu sĩ, giáo dân. Đây là những hình thức đời sống để nên thánh hay để đạt tới sự hoàn thiện kitô giáo.
Nhưng hiểu theo nghĩa nào, cuối cùng ta phải nhìn nhận: Ơn thiên triệu luôn có hai phía hay hai yếu tố đi liền với nhau: Thiên Chúa gọi và con người đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa. Theo cái nhìn đó, ơn gọi là sáng kiến của Thiên Chúa: Thiên Chúa dự định, Thiên Chúa chuẩn bị, Thiên Chúa ban ơn, Thiên Chúa thúc đẩy. Con người đáp trả cách tự do, chọn lựa, từ bỏ và bước theo Chúa, sống cho Chúa, hiến thân cho Chúa.
2. Ơn gọi vừa là hồng ân vừa là chọn lựa dứt khoát
Ơn gọi hay đi tu là một hồng ân mầu nhiệm của Thiên Chúa, vừa là một sự chọn lựa riêng của mỗi người. Chúng ta tìm hiểu những câu chuyện ơn gọi nỗi bật trong Cựu Ước và Tân Ước.
Câu chuyện ơn gọi của Abraham là một điển hình. Chúa gọi Abraham để ông trở thành tổ phụ của một Dân riêng và “Cha của những kẻ tin”. Thiên Chúa chọn Abraham trong dòng dõi Sem, người ‘sinh ra từ Ur’ (St 11,10-31) và dẫn đưa ông bằng những con đường đến vùng đất mà ông không hề biết (Dt 11,8). Ông đã ra đi theo tiếng gọi đó, dù không biết đi về đâu, nhưng ông biết chắc một điều là có Chúa dẫn đường. Ông đã phó thác cho Chúa hướng dẫn.
Ơn gọi của Giêrêmia cũng rất huyền nhiệm. Chúa nói: “Trước khi ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc”. Giêrêmia đáp lại: A, a, a lạy Thiên Chúa là Thiên Chúa, tôi đâu có biết ăn nói, vì tôi còn là con nít”. Chúa lại phán: ngươi đừng nói ngươi là con nít... ngươi đừng sợ họ, vì ta sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi” (x. Gr 1,4-10).
Tin Mừng tường thuật về việc Chúa chọn các tông đồ cách lạ lùng:
Chúa Giêsu chọn và mời gọi các môn đệ đầu tiên như Phêrô, Gioan và Giacôbê: “Hãy theo Ta. Ta sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 3,20). Họ từ bỏ và mau mắn đáp trả theo Chúa. Họ là ai? Họ là những người đánh cá, bình dân, quê mùa, không có học vấn cao, bằng cấp, có địa vị… nhưng họ đã đáp trả lời mời gọi đó một cách hăng hái và từ bỏ tất cả để theo Chúa. Họ đã được Chúa biến đổi và làm cho trở thành những “kẻ lưới người như lưới cá”.
Trường hợp ơn gọi của Matthêu cũng gây nhiều ngạc nhiên: ông là một người thu thuế, nhưng khi nghe tiếng Chúa gọi: "Hãy theo ta! Ông trả lời tức thì và quảng đại, bỏ tất cả, ông đứng dậy, đi theo Người" (Lc 5,28). Tất cả đều được Chúa mời gọi và tất cả đã đáp trả và từ bỏ để theo Chúa.
Như thế, ơn gọi vừa rất huyền nhiệm vì Thiên Chúa gọi ai Ngài muốn, gọi vào thời điểm nào và ở nơi nào đều tuỳ ý Ngài (x. Mc 3,13). Nhưng ơn gọi cũng là một chọn lựa liên lỉ, đòi hỏi nhiều hy sinh và từ bỏ của những ai mà Thiên Chúa muốn gọi. Vì thế, nếu nhìn ơn gọi như là một hồng ân của Thiên Chúa, việc đi tu hay theo Chúa không phải hệ tại nơi khả năng và tài cán của con người, nhưng hệ tại nơi lòng muốn và ân sủng của Thiên Chúa. Nếu nhìn ơn gọi như là chọn lựa, đi tu bao gồm sự hy sinh, từ bỏ để dấn thân cho Thiên Chúa và cho tha nhân.
3. Những dấu chỉ của ơn gọi
Rất khó trả lời một cách chắc chắn rằng bạn có ơn gọi tu trì hay không. Nhưng dựa trên những dấu chỉ mà mình có để phân định ơn gọi và để vững tin tiến bước.
Nếu Thiên Chúa đang kêu mời bạn đi tu, chắc chắn ngài sẽ ban cho bạn những phẩm chất cần thiết để trở thành linh mục hoặc tu sĩ.
Có hai dấu hiệu cho thấy một người có ơn gọi tiến tới đời sống linh mục: đó là có ý hướng ngay lành và những phẩm chất sự phù hợp.
Ý hướng ngay lành:
Ý hướng ngay lành liên quan tới ơn gọi linh mục hoặc thánh hiến bao gồm những nội dung sau đây: Khát khao phụng sự Chúa Kitô vì tình yêu mến chính Ngài và có lòng yêu mến Giáo Hội, yêu mến giáo huấn Giáo Hội, yêu mến đời sống đạo đức, có tinh thần hy sinh chịu khó; khát khao đi tu để phục vụ người khác và muốn dẫn đưa các linh hồn về cho Chúa. Đó là dấu hiệu cho thấy ý hướng ngay lành. Trái với ý hướng ngay là ý hướng lệch lạc: đi tu vì những động cơ nhân loại như để mưu cầu danh dự, tìm đặc ân đặc quyền, thích được trọng vọng và để thoát đời…
Những phẩm chất phù hợp:
Dấu hiệu thứ hai của ơn gọi tu trì là có những phẩm chất phù hợp đó là phẩm chất đạo đức, trí thức, thể lý, tâm sinh lý và hoàn cảnh gia đình.
Trước hết là khả năng về đạo đức: ai muốn đi tu trước hết phải là người có khả năng sống đời sống nội tâm hay tâm linh. Phẩm chất này bao hàm không chỉ khả năng sống khiết tịnh suốt đời mà còn bao hàm các nhân đức khác nữa như khiêm tốn, vâng phục, tự chủ, nhân hậu, quảng đại, vị tha, cẩn trọng, yêu mến sự thật, thẳng thắn, có lòng đạo hạnh, có đời sống luân lý tốt… Tóm lại: là người có lòng yêu mến Chúa và tha nhân.
Khả năng tri thức: đi tu phải có những phẩm chất trí năng cần thiết để thi hành sứ vụ tông đồ.
Phẩm chất về thể lý và tâm sinh lý: đi tu phải là người khỏe mạnh và bình thường về thể lý và tâm lý. Đây là phẩm chất cần thiết để hoàn thành các bổn phận của người theo Chúa. Ứng sinh phải không bị vướng mắc những bệnh nan ý, rối loạn thần kinh và rối loạn chức năng vốn là biểu hiện của một tình trạng “lệch lạc” hoặc bệnh hoạn về tâm lý trong phán đoán, thái độ và hành động.
Sự phù hợp về gia đình - ứng viên phải xuất phát từ một gia đình có cha mẹ đàng hoàng, có tiếng tốt. Khi xem xét để trao tác vụ linh mục, yếu tố danh thơm tiếng tốt của ứng viên trong cộng đồng cần phải được cân nhắc như Giáo luật đòi hỏi. Một ứng viên xuất thân từ một hoàn cảnh gia đình phù hợp thì sẽ là sự thuận lời cho đời sống và sứ vụ linh mục sau này.
Vì thế, trong quá trình tìm hiểu ơn gọi, ứng sinh cần phân định kỹ lưỡng về ơn gọi và những khả năng của mình để chọn lựa và sống ơn gọi tu trì. Cùng với cầu nguyện, biện phân ơn gọi là một công việc quan trọng trong quá trình tìm hiểu và đào tạo.
4. Những đòi hỏi của Giáo Hội đối với ứng sinh linh mục
Mọi ơn gọi Kitô hữu đều đến từ Thiên Chúa, đó là ơn huệ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, ơn gọi ấy không bao giờ được ban bên ngoài và tách biệt khỏi Giáo Hội, nhưng luôn luôn ở trong Giáo Hội và qua Giáo Hội. Giáo Hội được Chúa giao phó cho nhiệm vụ tuyển chọn và đào tạo ơn gọi.
Giáo Hội - “người sinh ra và giáo dục các ơn gọi” - có nhiệm vụ phân định ơn gọi và sự phù hợp của các ứng sinh vào tác vụ linh mục. Thật vậy, tiếng gọi bên trong của Thánh Thần cần được giám mục giáo phận và những người có trách nhiệm nhìn nhận xem có phải là tiếng gọi chân thực không.
Chính vì vậy, Giáo luật 1983 đòi hỏi: Điều 241,1: "Giám mục giáo phận chỉ nên thâu nhận vào đại chủng viện những người nào, xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khoẻ thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến trọn đời cho các tác vụ thánh."
Ngoài ra, Giáo luật còn yêu cầu cả những đức tính nhân bản, thể lý tâm lý phù hợp với đòi hỏi của thiên chức linh mục:
Điều 1029: “Dựa theo sự phán đoán khôn ngoan của giám mục riêng hoặc bề trên cao cấp có thẩm quyền và sau mọi cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ nên cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận.”
Kết luận
Giáo Hội hoàn vũ đang đối diện với cơn khủng khoảng về ơn gọi tu trì. Nếu nhìn ơn gọi tu trì là quà tặng của Thiên Chúa, thì mỗi người kitô hữu cần phải cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi như lời Chúa Giêsu dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.” (Lc 10,2)
Nếu hiểu ơn gọi đồng thời là sự đáp trả của con người, thì mỗi người chúng ta cần có ý thức và cộng tác để vun trồng các mầm ơn gọi trong gia đình và trong giáo xứ. Mỗi người cần biết cổ vũ ơn gọi và nâng đỡ các chương trình mục vụ ơn gọi trong Giáo Hội để càng ngày Giáo Hội có nhiều người trẻ dám quảng đại dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin Mừng.
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Nguồn: Emty.org
GPKONTUM(21/04/2013)KONTUM |
Công cuộc từ thiện trong một thế giới mà cách biệt giàu nghèo vẫn còn nổi cộm thực sự chẳng dễ dàng gì, ngay cả khi cho đi thứ mình có
Trong những tháng cuối năm 2015, chuyện thế giới, thiện, ác đều có đủ. Nếu người người căm giận sự tàn ác của vụ khủng bố máy bay Nga hay thảm sát ở Paris thì cũng có những cảm kích nhất định trước tấm lòng của các tỷ phú rộng tay với công cuộc từ thiện. Ông chủ Facebook, Mark Zuckerberg, trở thành “tâm điểm” của việc thiện khi vừa quyết định sử dụng 99% số cổ phiếu hiện có của mình tại Facebook, tương đương hơn 45 tỷ USD, cho các hoạt động thiện nguyện và cộng đồng.
Cho và nhận không đơn giản
Thế giới hàng tỷ người không ai giống ai, sự cách biệt giàu nghèo vẫn còn là hố sâu quá lớn nên công cuộc làm từ thiện không đơn giản. Vẫn biết người ta không thể cho những gì mình không có, nhưng ngay cả cho đi thứ mình có cũng chẳng dễ dàng gì. Số tiền làm từ thiện lớn nhất lịch sử tính đến nay của Mark Zuckerberg, bên cạnh những tiếng vỗ tay cũng vẫn phải nhận những đánh giá dễ làm nản lòng người mở hầu bao.
Tại sao ngay cả việc từ thiện cũng đa đoan như lòng người đến thế? Các nhà tâm lý xã hội đã giải thích hành động từ thiện ngả về ba hướng sau đây. Thứ nhất, vì vị tha thuần túy, “tôi cho đi vì tôi nghĩ xã hội sẽ tốt hơn nhờ công cuộc từ thiện”. Thứ hai, người ta rộng tay để thấy mình có giá trị khi sống đã giúp xã hội tốt hơn. Cuối cùng, có những người làm từ thiện thuần túy chỉ để phô mình, chứng tỏ họ giàu có, thành đạt xã hội. Trong cuộc đời mỗi người có lẽ ai cũng đã từng một lần cho đi thứ gì đó. Dù vẫn có những nhà tâm lý không đánh giá cao việc làm từ thiện vì họ cho rằng người ngửa tay nhận “bố thí” phải chịu đựng thêm một sự đánh giá khác từ đồng loại là thấp kém, nghèo hèn, thuộc tầng lớp khác… Điểm tích cực là con số người làm từ thiện đang ngày càng nhiều trên thế giới, bất chấp họ thuộc nhóm nào.
Chia sẻ trên
Nhóm người được dạy cần làm từ thiện
“Từ thiện” là thuật ngữ xã hội tiếng Việt khá chung chung trong khi hành động tích cực này trong ngôn ngữ thế giới lại khá đa dạng và rõ ràng trong những tiêu chí làm từ thiện. Từ tiếng Anh, “charity” bắt nguồn từ “caritas” tiếng Latin, nghĩa là “yêu tha nhân vô điều kiện”. Tín đồ của hầu hết các tôn giáo, đạo giáo đều làm từ thiện theo những gì được giáo lý, tiền nhân dạy bảo. Cách làm từ thiện nay bao gồm tính trong sáng không vụ lợi. Họ không cần suy nghĩ nhiều và xem hành vi đều đều bỏ chút tiền vào hòm công đức hay cúng dường là một hành vi sống có đạo. Các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo nay cũng đang phát triển nhiều, nuôi dưỡng truyền thống làm từ thiện của người bình dân và đó là điểm sáng lớn giúp cân bằng cán cân thiện-ác.
Những nhà hảo tâm, phong trào làm từ thiện
Từ thiện trong tiếng Anh còn là “donor” (những nhà hảo tâm) bắt nguồn từ động từ “donare” (cho đi) của tiếng Latin. Nhà hảo tâm nói chung là một cá nhân, một tổ chức hay đoàn thể tự nguyện cống hiến tiền bạc của cải, thời giờ công sức cho một mục đích tốt nào đó. Cuộc sống càng văn minh, dạng từ thiện này càng phát triển nhưng cũng càng trở thành đa đoan, lắm vấn đề. Chính dạng làm từ thiện “donor” này đang đẻ ra hai khía cạnh tiêu cực gây tranh cãi, một là thúc ép người khác làm từ thiện, hai là làm từ thiện theo phong trào. Khi các đại gia Việt bỏ tiền tỷ mua giường, sắm siêu xe, xây lăng mộ… những người lên tiếng phê phán “sao không để tiền ấy làm từ thiện” liền bị dân mạng thi nhau “ném đá” là dân đạo đức giả. Còn các vụ lùm xùm của các quỹ từ thiện ăn theo thì thực sự kể ra không hết.
Tại nước ta hiện nay con số cá nhân, gia đình, đoàn thể và nhất là các doanh nghiệp đang thi nhau làm từ thiện ngày càng nhiều. Hầu như các sự kiện lớn nhỏ của các công ty đều có chút dính dáng đến từ thiện. Đó cũng là tâm lý kinh doanh, bởi theo thống kê, 86% người tiêu thụ toàn cầu tin dùng sản phẩm của những thương hiệu làm từ thiện nhiều nhất. Ở mức độ nào đó, nhiều nhà hảo tâm xuất hiện là theo khuôn mẫu “tấp tểnh người đi, tớ cũng đi”, hoặc xem đó là một phong cách không thể thiếu của lối sống thành đạt. Thế nên khó tránh khỏi lấy việc phô trương, đánh bóng tên tuổi làm mục đích chính. Thậm chí bây giờ các mạng xã hội, công nghệ quảng cáo truyền hình cũng nhảy vào để hô hào người khác làm từ thiện.
Với cách làm từ thiện “show off” này, thế giới đã xảy ra hàng loạt vụ bê bối dẫn đến quỹ từ thiện kiểu này đang sụt giảm nhanh trong những năm gần đây. Dính dáng đến chúng không ít tên tuổi người của công chúng đã nhúng chàm từ Paula Abdul, Lady Gaga, Kanye West đến Lance Armstrong, Madonna hay Tom Cruise và vợ cũ Katie Holmes. Tuyên bố kiểu làm từ thiện khá đặc biệt (không mở quỹ mà mở công ty TNHH, không cho đi tiền mặt mà cho đi cổ phiếu…) của ông chủ Facebook mới đây cũng đang bị cho là mang động cơ đánh bóng thương hiệu khi bị so sánh với cách làm từ thiện truyền thống và bài bản lẫn vô tính toán của vợ chồng Bill Gates, Warren Buffett…
Những con người trái tim cao hơn cái đầu
Trong ngôn ngữ thế giới, từ thiện còn một từ nữa là philanthropy, một từ nguyên của Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thương nhân loại” với nội dung gồm tinh thần quan tâm, nuôi dưỡng, phát triển và tăng cường những gì liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người. Từ thế kỷ 20, những nhà làm từ thiện theo ngữ nghĩa này thường là các tỷ phú, những nhân vật tích lũy được nhiều tiền nhất trên thế giới. Họ là những cá nhân, gia đình hay hình thành các cộng đồng như nhóm Giving Pledge (các tỷ phú cho đi 50% tài sản do Warren Buffett và Bill Gates hô hào). Họ làm từ thiện bằng cách hy sinh tiền bạc để cải thiện, duy trì và phát triển hành tinh xanh này trong các mảng từ y tế, giáo dục, dịch vụ sống, văn hóa nghệ thuật, môi trường, công nghệ, kinh tế và cả tôn giáo.
Sự khác biệt giữa những kiểu từ thiện này khá rõ ràng. “Charity” là làm từ thiện để xoa dịu, làm giảm những nỗi đau của xã hội, trong khi những nhà từ thiện “philanthropy” cố gắng giải quyết từ gốc rễ các vấn đề. Chúng là kiểu khác biệt giữa một bên “cho con cá để người khác ăn khỏi đói”, một bên là “tặng cần câu để kiếm cá mưu sinh”. Khác biệt lớn nữa giữa tổ chức từ thiện của các tỷ phú (philanthropist) và các nhà thiện nguyện tầm trung, nhà hảo tâm (donor) là công cuộc từ thiện vĩ mô của nhóm tỷ phú đã trở thành một đại sự, phải hội tụ đủ 4 yếu tố mới thành công. Một là họ phải có động lực đam mê khao khát tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho phần nhân loại không may, hai là họ phải có yếu tố để cho đi, không là tiền bạc cũng là thời giờ, ba là họ phải có óc sáng tạo, biết nhìn xa trông rộng để tiếp cận những cách thức mới để giải quyết vấn đề. Cuối cùng nhóm phải có cái đầu biết lãnh đạo, tổ chức, định hướng và gây ảnh hưởng tốt trên các thành viên khác.
Năm 2015 ai cho đi nhiều nhất?
> Myanmar, Mỹ và New Zealand là Top 3 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất.
> Đóng góp tiền bạc và giúp người khác tăng trong khi nhóm tình nguyện giảm.
> Lần đầu tiên trong 6 năm khảo sát, nam giới cho đi tiền bạc nhiều hơn phụ nữ.
> Chỉ có 5 quốc gia G20 nằm trong Top 20 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất cho thấy thịnh vượng chưa chắc đã có lòng đại lượng nhất. Nga (129) lẫn Trung Quốc (149) đều ở trong nhóm áp chót.
> Những quốc gia tiến bộ nhất trong bảng xếp hạng hảo tâm so với năm ngoái là Croatia (hạng 62), Kyrgyzstan (18), Kazakhstan (56), Ba Lan (78), Luxembourg (33). Việt Nam xếp thứ hạng 79.
BÀI: TRẦN TRUNG
ESQUIRE VIỆT NAM