Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2016

ƠN GỌI - HỒNG ÂN VÀ CHỌN LỰA



Vì ơn gọi rất huyền nhiệm, nên nhiều bạn trẻ muốn đi tu hay tìm hiểu ơn gọi nhưng không chắc chắn rằng mình có ơn gọi hay được Chúa gọi không? Nhân dịp Ngày Quốc tế Cầu nguyện cho Ơn Thiên triệu, chúng ta tìm hiểu về chủ đề này.

1. Ơn thiên triệu là gì?

Trước hết chúng ta thử hỏi: Ơn thiên triệu hay ơn gọi là gì?

Thông thường khi nói tới ơn thiên triệu, ta nghĩ ngay tới ơn Chúa gọi ai đó đi tu làm linh mục, thầy dòng, hoặc nữ tu, còn giáo dân không đi tu, họ ở giữa thế gian, nên không có ơn thiên triệu. Chúng ta cần phải xét lại các hiểu đó.

Từ ngữ “thiên triệu” dịch từ tiếng "vocatio" trong tiếng Latinh do động từ "vocare" có nghĩa là kêu gọi, mời gọi.

Khi dùng trong lĩnh vực tôn giáo, "vocatio" thường dùng để chỉ lời kêu gọi của Thiên Chúa gọi người này, kẻ kia làm việc gì theo ý Ngài, nên ta dịch từ "vocatio" là ơn thiên triệu.

Jacque Guillet định nghĩa: “Ơn gọi là tiếng Thiên Chúa mời gọi kẻ Ngài đã chọn uỷ thác làm một công việc đặc biệt trong kế hoạch cứu rỗi loài người và trong vận mệnh của dân Ngài” (trong Vocabulaire de theologie biblique, 1970). Định nghĩa này thu hẹp “lời Thiên Chúa kêu gọi” trong những trường hợp riêng biệt để đảm nhận công việc đặc biệt trong dân Chúa.

Công đồng Vatican II hiểu ơn thiên triệu theo nghĩa rộng: Có nghĩa là tất cả mọi người đều được Thiên Chúa mời gọi, đều có ơn thiên triệu: làm người và làm Con Chúa, tất cả đều được mời gọi nên thánh. Công đồng xác định đây là ơn gọi phổ quát, một ơn gọi mà tất cả mọi kitô hữu đều được mời gọi hướng tới. Trong Văn kiện Lumen Gentium số 40, Công đồng nói: “Tất cả mọi người tín hữu dù ở cấp bậc đều được mời gọi đạt tới sự thánh thiện”. Chính vì vậy, không chỉ có giám mục, linh mục và tu sỹ, cả giáo dân, tất cả đều được mời gọi đạt tới sự hoàn thiện (LG 39). Cũng theo Công đồng này, trong Giáo Hội có nhiều hình thức của đời sống: ơn gọi linh mục, tu sĩ, giáo dân. Đây là những hình thức đời sống để nên thánh hay để đạt tới sự hoàn thiện kitô giáo.

Nhưng hiểu theo nghĩa nào, cuối cùng ta phải nhìn nhận: Ơn thiên triệu luôn có hai phía hay hai yếu tố đi liền với nhau: Thiên Chúa gọi và con người đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa. Theo cái nhìn đó, ơn gọi là sáng kiến của Thiên Chúa: Thiên Chúa dự định, Thiên Chúa chuẩn bị, Thiên Chúa ban ơn, Thiên Chúa thúc đẩy. Con người đáp trả cách tự do, chọn lựa, từ bỏ và bước theo Chúa, sống cho Chúa, hiến thân cho Chúa.

2. Ơn gọi vừa là hồng ân vừa là chọn lựa dứt khoát

Ơn gọi hay đi tu là một hồng ân mầu nhiệm của Thiên Chúa, vừa là một sự chọn lựa riêng của mỗi người. Chúng ta tìm hiểu những câu chuyện ơn gọi nỗi bật trong Cựu Ước và Tân Ước.

Câu chuyện ơn gọi của Abraham là một điển hình. Chúa gọi Abraham để ông trở thành tổ phụ của một Dân riêng và “Cha của những kẻ tin”. Thiên Chúa chọn Abraham trong dòng dõi Sem, người ‘sinh ra từ Ur’ (St 11,10-31) và dẫn đưa ông bằng những con đường đến vùng đất mà ông không hề biết (Dt 11,8). Ông đã ra đi theo tiếng gọi đó, dù không biết đi về đâu, nhưng ông biết chắc một điều là có Chúa dẫn đường. Ông đã phó thác cho Chúa hướng dẫn.

Ơn gọi của Giêrêmia cũng rất huyền nhiệm. Chúa nói: “Trước khi ngươi trong lòng mẹ, Ta đã biết ngươi và trước khi ngươi ra khỏi lòng mẹ, Ta đã thánh hiến ngươi, Ta đã đặt ngươi làm tiên tri cho các dân tộc”. Giêrêmia đáp lại: A, a, a lạy Thiên Chúa là Thiên Chúa, tôi đâu có biết ăn nói, vì tôi còn là con nít”. Chúa lại phán: ngươi đừng nói ngươi là con nít... ngươi đừng sợ họ, vì ta sẽ ở với ngươi để bảo vệ ngươi” (x. Gr 1,4-10).

Tin Mừng tường thuật về việc Chúa chọn các tông đồ cách lạ lùng:

Chúa Giêsu chọn và mời gọi các môn đệ đầu tiên như Phêrô, Gioan và Giacôbê: “Hãy theo Ta. Ta sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 3,20). Họ từ bỏ và mau mắn đáp trả theo Chúa. Họ là ai? Họ là những người đánh cá, bình dân, quê mùa, không có học vấn cao, bằng cấp, có địa vị… nhưng họ đã đáp trả lời mời gọi đó một cách hăng hái và từ bỏ tất cả để theo Chúa. Họ đã được Chúa biến đổi và làm cho trở thành những “kẻ lưới người như lưới cá”.

Trường hợp ơn gọi của Matthêu cũng gây nhiều ngạc nhiên: ông là một người thu thuế, nhưng khi nghe tiếng Chúa gọi: "Hãy theo ta! Ông trả lời tức thì và quảng đại, bỏ tất cả, ông đứng dậy, đi theo Người" (Lc 5,28). Tất cả đều được Chúa mời gọi và tất cả đã đáp trả và từ bỏ để theo Chúa.

Như thế, ơn gọi vừa rất huyền nhiệm vì Thiên Chúa gọi ai Ngài muốn, gọi vào thời điểm nào và ở nơi nào đều tuỳ ý Ngài (x. Mc 3,13). Nhưng ơn gọi cũng là một chọn lựa liên lỉ, đòi hỏi nhiều hy sinh và từ bỏ của những ai mà Thiên Chúa muốn gọi. Vì thế, nếu nhìn ơn gọi như là một hồng ân của Thiên Chúa, việc đi tu hay theo Chúa không phải hệ tại nơi khả năng và tài cán của con người, nhưng hệ tại nơi lòng muốn và ân sủng của Thiên Chúa. Nếu nhìn ơn gọi như là chọn lựa, đi tu bao gồm sự hy sinh, từ bỏ để dấn thân cho Thiên Chúa và cho tha nhân.

3. Những dấu chỉ của ơn gọi

Rất khó trả lời một cách chắc chắn rằng bạn có ơn gọi tu trì hay không. Nhưng dựa trên những dấu chỉ mà mình có để phân định ơn gọi và để vững tin tiến bước.

Nếu Thiên Chúa đang kêu mời bạn đi tu, chắc chắn ngài sẽ ban cho bạn những phẩm chất cần thiết để trở thành linh mục hoặc tu sĩ.

Có hai dấu hiệu cho thấy một người có ơn gọi tiến tới đời sống linh mục: đó là có ý hướng ngay lành và những phẩm chất sự phù hợp.

Ý hướng ngay lành:

Ý hướng ngay lành liên quan tới ơn gọi linh mục hoặc thánh hiến bao gồm những nội dung sau đây: Khát khao phụng sự Chúa Kitô vì tình yêu mến chính Ngài và có lòng yêu mến Giáo Hội, yêu mến giáo huấn Giáo Hội, yêu mến đời sống đạo đức, có tinh thần hy sinh chịu khó; khát khao đi tu để phục vụ người khác và muốn dẫn đưa các linh hồn về cho Chúa. Đó là dấu hiệu cho thấy ý hướng ngay lành. Trái với ý hướng ngay là ý hướng lệch lạc: đi tu vì những động cơ nhân loại như để mưu cầu danh dự, tìm đặc ân đặc quyền, thích được trọng vọng và để thoát đời…

Những phẩm chất phù hợp:

Dấu hiệu thứ hai của ơn gọi tu trì là có những phẩm chất phù hợp đó là phẩm chất đạo đức, trí thức, thể lý, tâm sinh lý và hoàn cảnh gia đình.

Trước hết là khả năng về đạo đức: ai muốn đi tu trước hết phải là người có khả năng sống đời sống nội tâm hay tâm linh. Phẩm chất này bao hàm không chỉ khả năng sống khiết tịnh suốt đời mà còn bao hàm các nhân đức khác nữa như khiêm tốn, vâng phục, tự chủ, nhân hậu, quảng đại, vị tha, cẩn trọng, yêu mến sự thật, thẳng thắn, có lòng đạo hạnh, có đời sống luân lý tốt… Tóm lại: là người có lòng yêu mến Chúa và tha nhân.

Khả năng tri thức: đi tu phải có những phẩm chất trí năng cần thiết để thi hành sứ vụ tông đồ.

Phẩm chất về thể lý và tâm sinh lý: đi tu phải là người khỏe mạnh và bình thường về thể lý và tâm lý. Đây là phẩm chất cần thiết để hoàn thành các bổn phận của người theo Chúa. Ứng sinh phải không bị vướng mắc những bệnh nan ý, rối loạn thần kinh và rối loạn chức năng vốn là biểu hiện của một tình trạng “lệch lạc” hoặc bệnh hoạn về tâm lý trong phán đoán, thái độ và hành động.

Sự phù hợp về gia đình - ứng viên phải xuất phát từ một gia đình có cha mẹ đàng hoàng, có tiếng tốt. Khi xem xét để trao tác vụ linh mục, yếu tố danh thơm tiếng tốt của ứng viên trong cộng đồng cần phải được cân nhắc như Giáo luật đòi hỏi. Một ứng viên xuất thân từ một hoàn cảnh gia đình phù hợp thì sẽ là sự thuận lời cho đời sống và sứ vụ linh mục sau này.

Vì thế, trong quá trình tìm hiểu ơn gọi, ứng sinh cần phân định kỹ lưỡng về ơn gọi và những khả năng của mình để chọn lựa và sống ơn gọi tu trì. Cùng với cầu nguyện, biện phân ơn gọi là một công việc quan trọng trong quá trình tìm hiểu và đào tạo.

4. Những đòi hỏi của Giáo Hội đối với ứng sinh linh mục

Mọi ơn gọi Kitô hữu đều đến từ Thiên Chúa, đó là ơn huệ của Thiên Chúa. Tuy nhiên, ơn gọi ấy không bao giờ được ban bên ngoài và tách biệt khỏi Giáo Hội, nhưng luôn luôn ở trong Giáo Hội và qua Giáo Hội. Giáo Hội được Chúa giao phó cho nhiệm vụ tuyển chọn và đào tạo ơn gọi.

Giáo Hội - “người sinh ra và giáo dục các ơn gọi” - có nhiệm vụ phân định ơn gọi và sự phù hợp của các ứng sinh vào tác vụ linh mục. Thật vậy, tiếng gọi bên trong của Thánh Thần cần được giám mục giáo phận và những người có trách nhiệm nhìn nhận xem có phải là tiếng gọi chân thực không.

Chính vì vậy, Giáo luật 1983 đòi hỏi: Điều 241,1: "Giám mục giáo phận chỉ nên thâu nhận vào đại chủng viện những người nào, xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khoẻ thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến trọn đời cho các tác vụ thánh."

Ngoài ra, Giáo luật còn yêu cầu cả những đức tính nhân bản, thể lý tâm lý phù hợp với đòi hỏi của thiên chức linh mục:

Điều 1029: “Dựa theo sự phán đoán khôn ngoan của giám mục riêng hoặc bề trên cao cấp có thẩm quyền và sau mọi cân nhắc kỹ lưỡng, chỉ nên cho tiến chức những người có đức tin tinh tuyền, chí hướng ngay thẳng, kiến thức đầy đủ, danh thơm tiếng tốt, tác phong đoan chính, nhân đức đã được thử luyện và những đức tính khác về thể lý và tâm lý tương ứng với chức thánh sẽ lãnh nhận.”

Kết luận

Giáo Hội hoàn vũ đang đối diện với cơn khủng khoảng về ơn gọi tu trì. Nếu nhìn ơn gọi tu trì là quà tặng của Thiên Chúa, thì mỗi người kitô hữu cần phải cầu xin Thiên Chúa ban cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi như lời Chúa Giêsu dạy: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.” (Lc 10,2)

Nếu hiểu ơn gọi đồng thời là sự đáp trả của con người, thì mỗi người chúng ta cần có ý thức và cộng tác để vun trồng các mầm ơn gọi trong gia đình và trong giáo xứ. Mỗi người cần biết cổ vũ ơn gọi và nâng đỡ các chương trình mục vụ ơn gọi trong Giáo Hội để càng ngày Giáo Hội có nhiều người trẻ dám quảng đại dấn thân cho sứ vụ loan báo Tin Mừng.


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
Nguồn: Emty.org
GPKONTUM(21/04/2013)KONTUM

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2016

BỐ ƠI , CON ĐÃ BIẾT CHÚNG TA NGHÈO NHƯ THẾ NÀO RỒI !


Một ngày nọ, người cha giàu có dẫn con trai đến một vùng quê để thằng bé thấy những người nghèo ở đây sống như thế nào. Họ tìm đến nông trại của một gia đình nghèo. "Ðây là một cách để dạy con biết quí trọng những người có cuộc sống cơ cực hơn mình" - người cha nghĩ đó là bài học thực tế tốt cho đứa con bé bỏng của mình.
Sau khi ở lại và tìm hiểu đời sống ở đây, họ trở về nhà.

Trên đường về, người cha nhìn con trai mỉm cười:

- Chuyến đi như thế nào hả con?

- Thật tuyệt vời bố ạ!

- Con đã thấy những người nghèo sống như thế nào rồi đấy!

- Ồ vâng.

- Thế con đã rút ra được điều gì từ chuyến đi này?

Ðứa bé không ngần ngại trả lời:

- Con thấy chúng ta có một con chó, họ có bốn.

Nhà mình có một hồ bơi, họ lại có một con sông dài bất tận. C

húng ta phải đưa những chiếc đèn lồng vào vườn, họ lại có những ngôi sao lấp lánh vào đêm.

Mái hiên nhà mình chỉ đến trước sân, họ thì có cả chân trời.

Chúng ta có một miếng đất để sinh sống, và họ có những cánh đồng trải dài.

Chúng ta phải mua thực phẩm còn họ lại trồng ra những thứ ấy.

Chúng ta có những bức tường bảo vệ xung quanh, còn họ có những người bạn láng giềng che chở cho nhau.

Ðến đây người cha không nói gì cả.
Bố ơi, con đã biết chúng ta nghèo như thế nào rồi. 

Rất nhiều khi chúng ta đã quên mất những gì mình đang có và chỉ luôn đòi hỏi những thứ quá tầm tay. Cũng có những thứ không giá trị với người này nhưng lại là mong mỏi của người khác. Ðiều đó phụ thuộc vào cách nhìn, đánh giá và hoàn cảnh mỗi người. 
Xin đừng quá lo lắng, chờ đợi vào những gì bạn chưa có mà bỏ quên điều bạn đang có, dù là chúng rất nhỏ nhoi.
Nghèo hay giàu đôi khi chỉ là một định nghĩa do chính con người đặt ra rồi tự ràng buộc mình vào đó. Hãy để cuộc sống dễ dàng hơn khi chúng ta nới lỏng những định kiến .


Thứ Năm, 14 tháng 4, 2016

BÁC ÁI NGỤY TRANG



Câu chuyện về thảm họa động đất ở Nepal đang làm dư luận thế giới xôn xao trong những ngày này. Người ta đều thấy nỗi cùng cực của người dân Nepal, nhưng những câu chuyện bên lề cũng là chủ đề đáng quan tâm. Trong đó, việc người dân ở đất nước Nam Á này không nhận được cứu trợ đang tạo ra nhiều ý kiến trái chiều.

Người ta nói nhiều về sự thiếu thốn phương tiện vận chuyển phục vụ cho công tác cứu trợ ở đất nước này. Người ta cũng bàn đến địa thế cách trở của những vùng có nạn nhân sống sót. Nhưng theo tôi, một trong những nguyên nhân sâu xa khiến cho người dân Nepal vẫn đang loay hoay trong cơn đại nạn là bác ái ngụy trang.

Những tổ chức, cá nhân rầm rầm đưa nhau lên các phương tiện truyền thông để “khoe” chiến tích hỗ trợ những người xấu số Nepal. Hàng loạt con số ấn tượng trong ngân quỹ hỗ trợ nạn nhân động đất thi nhau nhảy múa. Rất nhiều chiến dịch tình nguyện giúp đỡ Nepal được PR rầm rộ. Ẩn sau tất cả có thể là bác ái ngụy trang.

Tất nhiên, chúng ta không được phép phủ nhận những hỗ trợ cần thiết của cộng đồng quốc tế đối với Nepal. Việc phủ nhận là một hàng động đáng lên án. Thế nhưng, khi nhìn vào thực tế, những giọt nước mắt đã gần khô của những người dân bị bỏ rơi trong cuộc hỗ trợ này, ta không thể không nhắc đến bác ái ngụy trang.

Khi nói đến bác ái, người ta nghĩ ngay đến khía cạnh tích cực của chữ “Nhân”. Đôi lúc, sự mặc định về đặc tính của khái niệm này trong tư duy nhận thức của chúng ta làm cho khái niệm này trở nên đơn điệu hoặc giảm thiểu ý nghĩa. Trong khi, thực tế cuộc sống có những nghịch lý thú vị. Sự phong phú khôn lường của Đấng tạo thành vạn vật đã phú bẩm cho chúng tính chất đó. Và ở đây, qua câu chuyện của người dân Nepal, tôi muốn đề cập đến một biểu hiện nhỏ của nghịch lý thú vị đó qua khái niệm: bác ái ngụy trang(The dummy charity).

Bác ái ngụy trang là khái niệm chuyển nghĩa, với mục đích tạo ra tính chất đối lập so với khái niệm gốc. Bác ái ngụy trang là bác ái không chân thực, không ngay chính. Bác ái ngụy trang là làm điều tốt bằng ý hướng xấu, làm điều đẹp mà không có nhân văn trong tâm nguyện. Nó là vỏ bọc cho bác ái có toan tính. Vỏ bọc ấy chứa đựng sự ích kỷ, vụ lợi. Mọi việc ta làm đều có mục đích, động cơ. Động cơ có thể tinh tuyền hoặc bất chính. Và động cơ của bác ái ngụy trang là động cơ không lành mạnh, động cơ mang tính quy ngã. Để diễn tả kiểu bác ái này, Kinh thánh cũng sử dụng một số thuật ngữ tương tự, như “giả hình” (Rm 12,9; 1Pr 2,1),
giả dối” (Cr 6,6), “tư lợi” (1Cr 13,5)…

Dựa vào mức độ ngụy trang, tôi xin đưa ra 4 cấp độ của bác ái ngụy trang:


Cấp độ 1: Bác ái vì tư lợi
Đây là loại bác ái được ngụy trang lộ liễu nhất. Lấy danh nghĩa làm việc bác ái, chủ thể thực hiện đang tìm kế hoạch đầu tư cách thực dụng, xem những gì mình cho đi như một loại vốn có thể sinh lời. Bằng cách này, họ có thêm cơ hội để tìm danh tiếng, xây dựng thêm các mối quan hệ. Họ đang xem người nhận hành động được gắn mác “bác ái” chỉ là chiếc cầu trung gian, là đồ lót tay để thực hiện hành động vị kỷ của mình.

Tư lợi trong bác ái thể hiện rõ ràng khi các tổ chức một tay hỗ trợ Nepal, một tay thi nhau thông báo tên tuổi để PR danh tiếng.Vì muốn giữ quan hệ ngoại giao lâu dài, nước này“ném” cho nước kia một khoản tiền hỗ trợ để sau còn “dễ làm ăn”.Hay những cô hoa hậu xúng xính váy áo đi làm từ thiện với sự hỗ trợ rầm rộ của truyền thông để được tung hô là “Người đẹp nhân hậu”.

Khi làm kiểu bác ái này, người trên muốn gây thiện cảm với người dưới, người giàu muốn có được sự ủng hộ của người nghèo, người ban phát muốn nhận được ân huệ, lòng biết ơn của người nhận. Vì thế, mới có chuyện những quan chức đi làm từ thiện phát biểu một bài giảng thuyết thật dài, thật hoành tráng để “dân đen” có thể xuýt xoa thán phục. Họ tự mãn với thói thích khoe mẽ, cậy quyền của mình.

Cấp độ 2: Bác ái để tránh áy náy
Thay vì hân hoan, hạnh phúc khi được cho đi, những người làm việc bác ái này muốn tránh cảm giác khó chịu, áy náy. Sự quấy rầy, làm phiền của những người xung quanh buộc họ phải cắn răng làm việc bác ái cho xong. Có thể, họ vừa hy sinh, vừa quằm roằm. Câu chuyện “Người bạn quấy rầy”(Luca 11, 5-8) trong sách Luca là ví dụ sinh động về loại bác ái này. Không phải vì thương cảm người hàng xóm, mà bí cực người chủ nhà mới đưa bánh cho anh ta.

Một biểu hiện nữa của loại bác ái này là làm chỉ để giữ thể diện, thanh danh, tránh búa rìu dư luận. Vì không muốn “thua anh kém chị”, không muốn dư luận thế giới lên án,cộng đồng này cũng “tặc lưỡi” cho qua mà chi ra một khoản tiền hỗ trợ không nhỏ để được an phận, khỏi bị dị nghị.

Hay đơn giản, vì không muốn mang tiếng là vô cảm, lạnh lùng, ta vội vứt 5000 xuống mũ của đứa bé đang ngồi ủ rủ bên đường để rồi đi thật nhanh. Vì không muốn mất lòng bề trên, ta có thể bấm bụng đi giúp đỡ người nghèo, bệnh tật, dù trong lòng nghĩ họ nhơ nhớp, hôi hám. Hay muốn giữ được cảm tình, ta không dám từ chối giúp đỡ một người nào đó nơi công cộng, dù trong lòng không một chút thích thú.

Cấp độ 3: Bác ái vì bổn phận
Với cấp bậc này, ta cho đi như cách để trả nợ, thanh toán một nghĩa vụ không thể chối bỏ. Tính trung dung, vô thưởng vô phạt ở đây là chủ đạo. Đích thực, tình yêu là món nợ của ta với anh em. “Anh em đừng mắc nợ ai, ngoài món nợ tương thân tương ái” (Rm 13,8).Những người xung quanh đều là chủ nợ của ta, với món nợ không thể xóa. Nhưng với việc thực hành loại bác ái này, tính chất nguyên tuyền của bác ái không còn. Ta trả món nợ không phải vì ta đáng trả, mà chỉ là tình thế bắt buộc phải trả. Ta cho đi những cái dư thừa, không cần thiết hoặc chưa dùng tới. Việc làm này không bị trách là vị kỷ, cũng chẳng đáng khen là vị tha.

Bổn phận của các ngân hàng, liên hiệp quốc tế là đưa tiền cho Nepal, chứ chẳng quan tâm số tiền đó có đến được tay nạn nhân hay không. Người ta thực hiện bổn phận là xong mà.

Cấp độ 4: Bác ái để tạo khoái cảm
Đây là loại bác ái được ngụy trang ở mức độ tinh vi nhất. Nếu không suy xét kỹ, ta khó có thể nhận ra mặt tiêu cực của nó. Động cơ làm việc bác ái loại này là để tạo khoái cảm thỏa mãn chủ thể thực hiện. Có người chỉ vì yêu thích hoạt động này nên đâm đầu vào nó. Có người cho đi để thấy mình cao thượng, có lòng thương xót. Họ hạnh phúc khi tự nhận thấy mình có những đặc tính đó. Cái việc thỏa mãn bản thân có thể là mục đích không xấu của việc bác ái. Nó bớt tiêu cực hơn so với cảm xúc khi làm việc bác ái ở cấp độ 2.

Tựu trung, bốn loại bác ái ngụy trang này đều có chung một mẫu số, đó là tính vị kỷ, quy ngã. Đặc tính tiêu cực này làm nên bản chất của bác ái ngụy trang. Việc bác ái không vì người đón nhận hành động mà vì chính bản thân chủ thể thực hiện.

Ngược lại, với bác ái đích thực, chúng ta giúp đỡ anh em không những vì họ được Thiên Chúa yêu, hoặc vì Ngài muốn ta yêu họ, nhưng là vì tình yêu trong Thần Khí đã được Ngài đặt trong chúng ta. Khi chúng ta yêu, chính là lúc Đức Kitô yêu trong chúng ta, yêu bằng quả tim nhân loại nơi Người. Khi ấy, yêu thương trong bác ái mới là một hành vi bản chất của chúng ta.

Bác ái đích thực loại trừ mọi yếu tố đi ngược lại với tình thương. Đó là cho đi chỉ muốn nhận lại, muốn khoa trương việc bác ái, muốn thỏa mãn cái ích kỷ tiêu cực… Bác ái đích thực tồn tại khi chúng ta nhìn anh em bằng đôi mắt và con tim chan chứa tình yêu Đức Kitô; chứ không phải là vị kỷ, hẹp hòi và giả dối. Lời nhắc nhở của thánh Gioan thật chí tình: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1Ga 3,18).

Người đàn bà trong câu chuyện “Bà góa và hai đồng tiền”(x. Lc 21,1-4; Mc 12,41-44) trong Kinh thánh, hay ở gần Nepal, Mẹ Têrêxa Calcutta là những hình ảnh sống động về tinh thần bác ái đích thực.

Xã hội hiện nay đang phát triển cách năng động. Việc khám phá tình yêu chân thực đôi khi bị lãng quên khi chúng ta bị cuốn vào vòng xoáy đó. Nhu cầu yêu và được yêu hiện nay đang bị che lấp bởi một thứ bác ái ngụy trang. Bác ái đích thực đang dần bị bóp nghẹt. Càng văn mình, càng hiện đại, lớp ngụy trang ấy càng dày, càng tinh vi. Người ta cũng tôn vinh cái tôi cá nhân, cái tôi ích kỷ. Tính quy ngã trở thành trung tâm của mọi vấn đề.

Để Nepal bớt khổ, bớt đau, bác ái ngụy trang nên được triệt tiêu. Để Nepal có thể cười sau những tháng ngày u tối, bác ái đích thực cần được gieo mầm và nảy sinh hoa trái.
Đức Tình
(Nguồn : gpcantho.com)

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2016

ĐA ĐOAN CÔNG CUỘC TỪ THIỆN


Công cuộc từ thiện trong một thế giới mà cách biệt giàu nghèo vẫn còn nổi cộm thực sự chẳng dễ dàng gì, ngay cả khi cho đi thứ mình có
Trong những tháng cuối năm 2015, chuyện thế giới, thiện, ác đều có đủ. Nếu người người căm giận sự tàn ác của vụ khủng bố máy bay Nga hay thảm sát ở Paris thì cũng có những cảm kích nhất định trước tấm lòng của các tỷ phú rộng tay với công cuộc từ thiện. Ông chủ Facebook, Mark Zuckerberg, trở thành “tâm điểm” của việc thiện khi vừa quyết định sử dụng 99% số cổ phiếu hiện có của mình tại Facebook, tương đương hơn 45 tỷ USD, cho các hoạt động thiện nguyện và cộng đồng.

Cho và nhận không đơn giản

Thế giới hàng tỷ người không ai giống ai, sự cách biệt giàu nghèo vẫn còn là hố sâu quá lớn nên công cuộc làm từ thiện không đơn giản. Vẫn biết người ta không thể cho những gì mình không có, nhưng ngay cả cho đi thứ mình có cũng chẳng dễ dàng gì. Số tiền làm từ thiện lớn nhất lịch sử tính đến nay của Mark Zuckerberg, bên cạnh những tiếng vỗ tay cũng vẫn phải nhận những đánh giá dễ làm nản lòng người mở hầu bao.
Tại sao ngay cả việc từ thiện cũng đa đoan như lòng người đến thế? Các nhà tâm lý xã hội đã giải thích hành động từ thiện ngả về ba hướng sau đây. Thứ nhất, vì vị tha thuần túy, “tôi cho đi vì tôi nghĩ xã hội sẽ tốt hơn nhờ công cuộc từ thiện”. Thứ hai, người ta rộng tay để thấy mình có giá trị khi sống đã giúp xã hội tốt hơn. Cuối cùng, có những người làm từ thiện thuần túy chỉ để phô mình, chứng tỏ họ giàu có, thành đạt xã hội. Trong cuộc đời mỗi người có lẽ ai cũng đã từng một lần cho đi thứ gì đó. Dù vẫn có những nhà tâm lý không đánh giá cao việc làm từ thiện vì họ cho rằng người ngửa tay nhận “bố thí” phải chịu đựng thêm một sự đánh giá khác từ đồng loại là thấp kém, nghèo hèn, thuộc tầng lớp khác… Điểm tích cực là con số người làm từ thiện đang ngày càng nhiều trên thế giới, bất chấp họ thuộc nhóm nào.
Nói đến hai chữ “từ thiện”, người ta vội nghĩ ngay đến các tỷ phú, các đại gia lắm tiền nhiều của hy sinh bớt phần gia sản để giúp đỡ đồng loại mà ít nghĩ đến những người bình dân làm “bố thí”. Có một sự thực đáng ngạc nhiên là ngay tại Mỹ người nghèo làm từ thiện cao hơn người giàu nếu tính theo phần trăm thu nhập. Người bình dân có khuynh hướng hay giúp đỡ những tổ chức tôn giáo, dịch vụ xã hội, trong khi người giàu bỏ tiền hỗ trợ giáo dục, nghệ thuật và môi trường. Ngay cả những ai chưa từng bao giờ làm từ thiện cũng được các nhà xã hội “cảm kích” chứ không đánh giá theo hướng tiêu cực là họ vô cảm. Vì như Công tước Ellington từng nói: “Vị kỷ, ở một khía cạnh nào đó, cũng là một đức tính, đó là bản chất để sống còn. Ai không tự sống được thì không thể bảo vệ những người mình yêu thương”. Nghĩa là bạn không thể cho thứ mình không có. Còn nếu gắng gượng tìm mọi cách để làm từ thiện, có thể bạn sẽ hại bạn, hại người khác hơn là giúp đỡ.

Nhóm người được dạy cần làm từ thiện

“Từ thiện” là thuật ngữ xã hội tiếng Việt khá chung chung trong khi hành động tích cực này trong ngôn ngữ thế giới lại khá đa dạng và rõ ràng trong những tiêu chí làm từ thiện. Từ tiếng Anh, “charity” bắt nguồn từ “caritas” tiếng Latin, nghĩa là “yêu tha nhân vô điều kiện”. Tín đồ của hầu hết các tôn giáo, đạo giáo đều làm từ thiện theo những gì được giáo lý, tiền nhân dạy bảo. Cách làm từ thiện nay bao gồm tính trong sáng không vụ lợi. Họ không cần suy nghĩ nhiều và xem hành vi đều đều bỏ chút tiền vào hòm công đức hay cúng dường là một hành vi sống có đạo. Các cộng đồng xã hội ngoài tôn giáo nay cũng đang phát triển nhiều, nuôi dưỡng truyền thống làm từ thiện của người bình dân và đó là điểm sáng lớn giúp cân bằng cán cân thiện-ác.

Những nhà hảo tâm, phong trào làm từ thiện

Từ thiện trong tiếng Anh còn là “donor” (những nhà hảo tâm) bắt nguồn từ động từ “donare” (cho đi) của tiếng Latin. Nhà hảo tâm nói chung là một cá nhân, một tổ chức hay đoàn thể tự nguyện cống hiến tiền bạc của cải, thời giờ công sức cho một mục đích tốt nào đó. Cuộc sống càng văn minh, dạng từ thiện này càng phát triển nhưng cũng càng trở thành đa đoan, lắm vấn đề. Chính dạng làm từ thiện “donor” này đang đẻ ra hai khía cạnh tiêu cực gây tranh cãi, một là thúc ép người khác làm từ thiện, hai là làm từ thiện theo phong trào. Khi các đại gia Việt bỏ tiền tỷ mua giường, sắm siêu xe, xây lăng mộ… những người lên tiếng phê phán “sao không để tiền ấy làm từ thiện” liền bị dân mạng thi nhau “ném đá” là dân đạo đức giả. Còn các vụ lùm xùm của các quỹ từ thiện ăn theo thì thực sự kể ra không hết.
Tại nước ta hiện nay con số cá nhân, gia đình, đoàn thể và nhất là các doanh nghiệp đang thi nhau làm từ thiện ngày càng nhiều. Hầu như các sự kiện lớn nhỏ của các công ty đều có chút dính dáng đến từ thiện. Đó cũng là tâm lý kinh doanh, bởi theo thống kê, 86% người tiêu thụ toàn cầu tin dùng sản phẩm của những thương hiệu làm từ thiện nhiều nhất. Ở mức độ nào đó, nhiều nhà hảo tâm xuất hiện là theo khuôn mẫu “tấp tểnh người đi, tớ cũng đi”, hoặc xem đó là một phong cách không thể thiếu của lối sống thành đạt. Thế nên khó tránh khỏi lấy việc phô trương, đánh bóng tên tuổi làm mục đích chính. Thậm chí bây giờ các mạng xã hội, công nghệ quảng cáo truyền hình cũng nhảy vào để hô hào người khác làm từ thiện.
Với cách làm từ thiện “show off” này, thế giới đã xảy ra hàng loạt vụ bê bối dẫn đến quỹ từ thiện kiểu này đang sụt giảm nhanh trong những năm gần đây. Dính dáng đến chúng không ít tên tuổi người của công chúng đã nhúng chàm từ Paula Abdul, Lady Gaga, Kanye West đến Lance Armstrong, Madonna hay Tom Cruise và vợ cũ Katie Holmes. Tuyên bố kiểu làm từ thiện khá đặc biệt (không mở quỹ mà mở công ty TNHH, không cho đi tiền mặt mà cho đi cổ phiếu…) của ông chủ Facebook mới đây cũng đang bị cho là mang động cơ đánh bóng thương hiệu khi bị so sánh với cách làm từ thiện truyền thống và bài bản lẫn vô tính toán của vợ chồng Bill Gates, Warren Buffett…
cong-cuoc-tu-thien-hinh-anh

Những con người trái tim cao hơn cái đầu

Trong ngôn ngữ thế giới, từ thiện còn một từ nữa là philanthropy, một từ nguyên của Hy Lạp, có nghĩa là “yêu thương nhân loại” với nội dung gồm tinh thần quan tâm, nuôi dưỡng, phát triển và tăng cường những gì liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người. Từ thế kỷ 20, những nhà làm từ thiện theo ngữ nghĩa này thường là các tỷ phú, những nhân vật tích lũy được nhiều tiền nhất trên thế giới. Họ là những cá nhân, gia đình hay hình thành các cộng đồng như nhóm Giving Pledge (các tỷ phú cho đi 50% tài sản do Warren Buffett và Bill Gates hô hào). Họ làm từ thiện bằng cách hy sinh tiền bạc để cải thiện, duy trì và phát triển hành tinh xanh này trong các mảng từ y tế, giáo dục, dịch vụ sống, văn hóa nghệ thuật, môi trường, công nghệ, kinh tế và cả tôn giáo.
Sự khác biệt giữa những kiểu từ thiện này khá rõ ràng. “Charity” là làm từ thiện để xoa dịu, làm giảm những nỗi đau của xã hội, trong khi những nhà từ thiện “philanthropy” cố gắng giải quyết từ gốc rễ các vấn đề. Chúng là kiểu khác biệt giữa một bên “cho con cá để người khác ăn khỏi đói”, một bên là “tặng cần câu để kiếm cá mưu sinh”. Khác biệt lớn nữa giữa tổ chức từ thiện của các tỷ phú (philanthropist) và các nhà thiện nguyện tầm trung, nhà hảo tâm (donor) là công cuộc từ thiện vĩ mô của nhóm tỷ phú đã trở thành một đại sự, phải hội tụ đủ 4 yếu tố mới thành công. Một là họ phải có động lực đam mê khao khát tạo ra cuộc sống tốt đẹp hơn cho phần nhân loại không may, hai là họ phải có yếu tố để cho đi, không là tiền bạc cũng là thời giờ, ba là họ phải có óc sáng tạo, biết nhìn xa trông rộng để tiếp cận những cách thức mới để giải quyết vấn đề. Cuối cùng nhóm phải có cái đầu biết lãnh đạo, tổ chức, định hướng và gây ảnh hưởng tốt trên các thành viên khác.

Năm 2015 ai cho đi nhiều nhất?

> Myanmar, Mỹ và New Zealand là Top 3 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất.
> Đóng góp tiền bạc và giúp người khác tăng trong khi nhóm tình nguyện giảm.
> Lần đầu tiên trong 6 năm khảo sát, nam giới cho đi tiền bạc nhiều hơn phụ nữ.
> Chỉ có 5 quốc gia G20 nằm trong Top 20 các quốc gia làm từ thiện nhiều nhất cho thấy thịnh vượng chưa chắc đã có lòng đại lượng nhất. Nga (129) lẫn Trung Quốc (149) đều ở trong nhóm áp chót.
> Những quốc gia tiến bộ nhất trong bảng xếp hạng hảo tâm so với năm ngoái là Croatia (hạng 62), Kyrgyzstan (18), Kazakhstan (56), Ba Lan (78), Luxembourg (33). Việt Nam xếp thứ hạng 79.
BÀITRẦN TRUNG
ESQUIRE VIỆT NAM

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2016

CHIỀU HƯỚNG CHUNG TRONG CÔNG TÁC BÁC ÁI XÃ HỘI HIỆN NAY


                                                                         Lm. Marcello Đoàn Minh, GĐ Caritas Đà Nẵng
Người đời vẫn thường nói: “Của cho không bằng cách cho.” Làm ra của cải đã khó, mà đem của đi cho nếu không dễ thì cũng là điều phải cân nhắc, không khéo cho không đúng cách lại xúc phạm đến người nhận! 
Cũng vì quan tâm đến khâu cho đi này mà ngay từ đầu, Giáo Hội đã thiết lập hẳn một chức vụ để phục vụ người nghèo, trong đó có việc phân chia các của cải dâng cúng trong cộng đoàn. Rồi trong lịch sử Giáo Hội xuất hiện các hội đoàn, các dòng tu, các tổ chức chuyên lo việc cứu tế xã hội. Dưới đây là một số điểm nhấn trong công tác bác ái xã hội của Giáo Hội hiện nay, rút ra từ hai cuộc hội thảo của Ủy ban Bác ái Xã hội- HĐGMVN năm 2008[1], và thông điệp ‘Thiên Chúa là Tình Yêu’[2] của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI.
Điểm đầu tiên là sự quan tâm về giáo thuyết xã hội của Hội Thánh. Dĩ nhiên lúc nào việc bác ái xã hội cũng đặt cơ sở trên Lời Chúa và hướng dẫn của Hội Thánh. Tuy nhiên phải nhận rằng, ngày nay giáo thuyết xã hội được đề cập đến nhiều hơn và có hệ thống hơn trong các văn kiện chính thức của Hội Thánh. Ngày 2 tháng 4 năm 2004, Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình cho phát hành cuốn Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo, gồm 12 chương, đúc kết giáo huấn của các đức giáo hoàng, các chủ chăn liên quan đến các vấn đề xã hội như gia đình, lao động, kinh tế, cộng đồng chính trị, bảo vệ  môi trường, hòa bình thế giới.[3] Đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ra ba thông điệp quan trọng về xã hội[4], còn Đức Giáo Hoàng Bênêđitô đã dành một trong hai phần của thông điệp đầu tiên (‘Thiên Chúa là Tình Yêu’) của ngài để nói về hoạt động bác ái trong Hội Thánh. Tại giáo hội địa phương, đối thoại với người nghèo là một trong ba cuộc đối thoại theo đường hướng sống đạo và truyền đạo của Liên Hiệp các Hội Đồng Giám Mục Á Châu. Tông huấn Giáo Hội tại Á Châu của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xác nhận thái độ ưu tiên chọn lựa người nghèo (số 34) và dành một trong bảy chương (Ch. VI) để nói cách riêng về thăng tiến con người.  
- Thứ đến là mối quan tâm để “giữ được tất cả vẻ huy hoàng của [hoạt động bác ái KTG] để việc đó không trở thành chỉ là một hình thức khác của trợ giúp xã hội.” (TCTY, số 31). Giáo Hội không những chăm lo việc giúp người nghèo nhưng còn phải xét xem sứ vụ đó được thi hành thế nào, làm sao để duy trì bản sắc Công giáo, hay xây dựng nền văn hóa Kitô giáo trong việc từ thiện bác ái, coi đó như là “nền tảng cho mọi việc mình làm và là chuẫn mực xác định sự đóng góp hết sức độc đáo của mình”[5]. Có như vậy việc bác ái mới am hợp với chính bản chất của của sứ mạng Hội Thánh. 
Từ mẫu gương của người Samaritanô, Đức Giáo Hoàng cho rằng việc bác ái trước tiên phải là một lời đáp trả đơn sơ cho những nhu cầu cấp thời: cho kẻ đói ăn cho người khát uống, và phải xem đây là một trong những nhiệm vụ ưu tiên. Tuy nhiên không đơn giản chỉ là đem tiền của đi cho mà Đức Giáo Hoàng còn lưu ý“những người chăm sóc những kẻ thiếu thốn trước tiên phải có nghiệp vụ: họ phải được đào tạo đúng đắn, họ phải làm gì, làm như thế nào, cũng như cam kết tiếp tục công tác trợ giúp ấy.”
 Khả năng nghiệp vụ được coi như đòi hỏi đầu tiên, nền tảng (TCTY, số 31). Mức độ chuyên nghiệp ở đây là gì? Phải chăng Đức Giáo Hoàng đòi hỏi người làm từ thiện phải đi học hay phải có bằng cấp công tác xã hội không? Nếu theo ý Đức Giáo Hoàng lấy mẫu gương người Samaritanô, chúng ta thấy đó đơn giản là biết mình phải làm gì và làm như thế nào, tức là biết phục vụ cách hữu hiệu và khôn khéo. Người Samaritano không những sơ cứu nạn nhân: lấy dầu rượu đổ lên vết thương và băng bó lại, mà còn lo chạy chữa cho lành lặn, đưa đến quán trọ nhờ người săn sóc cho đến khỏi bệnh dầu phải tốn kém.[6] Nói theo chuyên môn, chú trọng tới nghiệp vụ là quan tâm đến khía cạnh tổ chức có khoa học cơ cấu, điều phối nhân sự, kiểm tra tài chính, đánh giá kết quả để làm sao mang lại hiệu quả thiết thực cho người thụ hưởng. Trong khi đó, là người lo việc điều phối các tổ chức bác ái công giáo Hoa Kỳ, Cha Larry hiểu đây chính là khâu quản lý nguồn tài trợ, ngài viết: “không những phải tuân theo các mô hình phổ biến nhất để đáp ứng nhu cầu nhân đạo và làm công tác xã hội, mà còn quản lí điều hành theo những phương cách tốt nhất. Có thế chúng ta mới an tâm là mình đang quản lí các nguồn tài nguyên được giao cho mình phục vụ người nghèo và những người bị gạt ra ngoài xã hội – không chỉ vì mình phải chịu trách nhiệm với những người đã hào hiệp cấp tặng để xúc tiến việc bác ái, mà quan trọng hơn cả vì người nghèo đáng được phục vụ tốt nhất và chuyên nghiệp nhất.” Như vậy chúng ta hiểu được tại sao các tổ chức tài trợ luôn cần có những bá cáo tài chính, các cuộc kiểm tra hay hình ảnh nghiệm thu dự án.
Nhìn từ góc độ khác, gốc rễ của nghèo đói phát xuất từ những yếu kém từ nơi ăn chốn ở, sức khỏe, văn hóa giáo dục kém, thể lý, đến vị thế trong xã hội, chuyên môn nghề nghiệp, cơ chế, tập quán địa phương. Nếu chỉ tập trung vào việc khâu viện trợ, xin cho, ban bố từ trên xuống hay từ ngoài vào (quen gọi cách này là ‘cho con cá’) sẽ làm cho người nhận thụ động và sẽ không sao thoát khỏi cái vòng lẩn quẩn của đói nghèo. Quan tâm nghiệp vụ với nhiều người hiện nay là làm sao phát triển bền vững, không những nhắm đến sự phất lên của một người, một nhóm nhưng là tiến bộ chung của cả cộng đồng. Đó là nâng cao năng lực của cộng đồng, giúp người dân phát huy các tiềm năng sẵn có tại địa phương, làm cho họ thêm lòng tự tin, tự trọng và mạnh dạn tham gia xem xét hoàn cảnh thực tế và đưa ra kế họach giải quyết cụ thể. Điểm nhắm là giúp người để người tự giúp, tự vượt khó, tức là ‘cho cần câu chứ không cho con cá.’  
Tuy nhiên không thiếu những dự án, chương trình hoạch định rất công phu bài bản nhưng lại dẫn đến hậu quả tiêu cực. Bởi thế không thể nào không quan tâm đến yếu tố tinh thần, thiện chí trong công cuộc từ thiện. Trong thông điệp đầu tiên của mình, Đức Giáo Hoàng đương kim bàn giải và nhấn mạnh nhiều đến yếu tố thứ hai này, ngài viết: “Thêm vào việc đào tạo chuyên môn cần thiết, những người làm việc bác ái cần được ‘đào tạo con tim’: họ cần được dẫn tới gặp Thiên Chúa trong Đức Kitô, Đấng thức tỉnh tình yêu của họ và mở lòng ra cho kẻ khác.”(TCTY, số 31a). Đây là một ‘con tim biết nhìn thấy’ để nhận biết “nơi nào tình yêu đang cần đến và hành động cách phù hợp.” (TCTY, số 31). Để có được con tim này, trước tiên phải có những cái ‘không:’ 
          - không chỉ có kỹ thuật. Bước vào lãnh vực công tác từ thiện là bước vào trong tương quan nối kết có tính cách nhân linh với những con người đầy đủ nhân phẫm luôn “cần một cái gì hơn sự chăm sóc kỹ thuật hay vật phẫm. Họ cần tình người. Họ cần sự quan tâm chân thành.” (TCTY số 31). Ở đây cho không chỉ là trao ban của cải tôi có mà phải có tôi hiện diện cách nào đó trong của tôi đem cho.[7] 
- không được dùng từ thiện để chiêu dụ tín đồ, không được phép áp đặt đức tin trên kẻ khác bởi vì người được cho cần được tôn trọng nhân phẫm và tự do. Tuy nhiên kitô hữu cần biết lúc nào nên nói về Thiên Chúa, lúc nào nên im lặng để hành động yêu thương của mình lên tiếng. (TCTY, số 31).  
- không lệ thuộc phe nhóm và ý thức hệ. Có những nhóm hoạt động xã hội không phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh.[8] Do đó cần quan tâm để hoạt động bác ái trong Giáo Hội có được sự độc lập chính đáng.  Thông điệp TCTY nhấn mạnh: “Các tổ chức bác ái của GH là một ‘công trình riêng’ (opus proprium), là một nhiệm vụ  thích đáng của Giáo Hội, trong đó Giáo Hội không cộng tác tay đôi mà là hành động như một chủ thể có trách nhiệm trực tiếp, có thể làm những gì thích hợp với bản chất của mình.” (TCTY, số 29).
Để việc từ thiện mang đậm bản sắc Công giáo, nó phải gắn liền với đời sống cầu nguyện. Đây chính là xuất phát điểm của truyền thống từ thiện trong Hội Thánh, đã được thể hiện trong đời sống các vị thánh. Người làm từ thiện trước tiên cần kết hiệp với Chúa Kitô và được tình yêu Ngài thúc bách (x. 2 Cor 5, 14), cần học nơi Ngài gương yêu thương phục vụ cũng như kín múc nơi Ngài sức mạnh cho hoạt động bác ái của mình. Cầu nguyện giữ trong tâm hồn thái độ khiêm tốn, coi việc chia sẻ như một ân ban, không dám tự phụ cho mình có quyền giải quyết tất cả, hay ngược lại thất vọng, buông xuôi khi đứng trước đại dương nghèo đói khổ đau của đồng loại. Ngay cả khi thấy khó hiểu trước sự thinh lặng của Thiên Chúa trong đau khổ tha nhân, họ vẫn luôn tin rằng Thiên Chúa là Cha và hằng yêu thương con cái Ngài. (TCTY số 38). 
* * * * *
Tới đây chúng ta đã cùng đọc lại hướng dẫn của các vị Chủ Chăn để có thêm ánh sáng cho công việc bác ái của mình. Bài này khép lại khi có tin cuộc khủng hoảng kinh tế mới đốn ngã thêm một gã khổng lồ tài chính khác: Citigroup bị chẻ đôi, còn Bank of America chịu lỗ tổng cọng 17 tỉ USD để có thể tồn tại! Cho hay các ngân hàng đầu bảng đâu có phải nơi bảo đảm tuyệt đối cho số tài khoản được ký gửi. Trong khi đó cho dù một việc cỏn con như li nước lả cho người anh em nhỏ bé cũng được Chúa Kitô kể là làm cho Ngài và sẽ được ân thưởng.(x. Mt 10, 42; 25,40). Xem thế, đồng tiền chia sẻ cho người nghèo là gửi vào kho bạc an toàn và có lãi xuất cao nhất: Ngân Hàng Thiên Chúa Tình Yêu!  Địa chỉ này không ở đâu xa bởi lẻ: 
“Người nghèo luôn có bên cạnh anh em.” ( Mt 26, 11).

 (Nguồn : caritasdanang.org)